TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN, NHÀ BÁO HOÀNG HẢI THỦY (1933-2020)

Biên soạn: Phan Anh Dũng

(Nguồn: http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1443&Itemid=46)

bar_divider

Trưa thứ hai 7 tháng 12, 2020 nhận được tin từ một người bạn ở California là nhà văn, nhà báo Hoàng Hải Thủy (HHT) vừa qua đời tối hôm trước ở Virginia. Tôi vội tin ngay cho ban điều hành Cỏ Thơm và cô em ruột Ngọc Trâm, bạn học ở Nguyễn Bá Tòng trước 1975 với Kiều Giang, trưởng nữ của HHT. Trâm trả lời là Kiều Giang đã cho biết bố bị pneumonia nặng phải vào bệnh viện từ 2 tuần trước rồi!
 Tôi không thể tưởng tượng trong vòng một tháng 3 nhân vật của Việt Nam Cộng Hòa nổi tiếng trong ba bộ môn nghệ thuật khác nhau đã qua đời: Nhạc sĩ Lê Dinh ngày 9 tháng 11 ở thành phố Longueuil, Canada; Ca sĩ Mai Hương ngày 29 tháng 11 ở thành phố Irvine, California USA và bây giờ đến nhà văn, nhà báo Hoàng Hải Thủy ngày 6 tháng 12 ở thành phố Arlington, Virginia USA.

Tôi còn nhớ 2 năm trước làm phân ưu cho Cỏ Thơm khi phu nhân Alice của ông HHT qua đời – cũng vào mùa Giáng Sinh cuối năm 2018 (hai ông bà lúc ấy đang ở chung cư dành cho người già). Tinh thần ông quá xuống dốc và nói với một người đến chia buồn là ông không muốn sống nữa!

Hồi còn là học sinh trung học ở Sài Gòn, tôi chỉ thích đọc vài truyện phóng tác của ông, nhớ nhất là quyển về điệp viên 007! Cũng nghe loáng thoáng về những truyện có tựa hấp dẫn như Yêu Nhau Bằng Mồm, Vòng Tay Yêu Tinh, Tìm Em Nơi Thiên Đường … nhưng lúc ấy không mấy thích văn phong “là lạ” đường phố và mạnh bạo của ông!

Sau khi ông bà Hoàng Hải Thủy & Alice rời Sài Gòn đến định cư ở xứ tình nhân “Virginia is for Lovers”, ông có cảm hứng nơi miền đất tự do nên viết rất nhiều. Tôi có dịp đọc và đã quen dần với văn phong đặc biệt của HHT qua tạp bút, truyện ngắn, hồi ký … ông đăng báo hay trên mạng qua loạt bài “Viết Ở Rừng Phong” dưới bút danh Công Tử Hà Đông. Thích nhất là HHT có 1 blog https://hoanghaithuy.wordpress.com/ rất đầy đủ tài liệu về ông. Ông sử dụng blog này rất hữu hiệu: vừa đăng bài mới, vừa chuyển bài cũ và trả lời độc giả … Dường như ông bắt đầu blog này từ 2008 và bài cuối cùng ông đăng lên là “Chìm Dưới Biển Dâu” ngày tháng 14 tháng 8, 2017 – nghe nói ông ngừng viết sau khi bà Alice lâm trọng bệnh.

Tuy ông bà Hoàng Hải Thủy & Alice đến Virginia năm 1994 nhưng mãi đến năm 2008 tôi mới gặp ông ở ngày họp mặt thường niên của Cơ Sở Cỏ Thơm tại nhà hàng Harvest Moon ở thành phố Falls Church, tiểu bang Virginia. Ông sống khá khép kín, ít liên lạc hay đi dự họp mặt bên ngoài. Ông tự thú là chỉ nghiện computer và viết lách.
 Tôi nhớ năm 2010 khi thực hiện trang “Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về” – một sáng tác của Bảo Chương tức ca sĩ Duy Trác: http://www.cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=941&Itemid=47 tôi đã liên lạc với HHT để kiểm chứng vài sự kiện trong vụ “Biệt Kích Cầm Bút” năm 1984 – một số văn nghệ sĩ bị bắt giam* vì gởi bài viết ra ngoại quốc về những khốn khổ, tệ trạng ở Việt Nam sau 30 tháng 4, 1975. (*Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự  bị bắt; Mai Thảo trốn thoát được).

Khi thực hiện trang tưởng niệm, tôi đồng ý với quan điểm của 2 người bạn:
– “Ông là Nhà Văn có Tài, tuy nhiên giọng văn hơi ra ngoài khuôn khổ...” (TQT)
– “Sức sáng tác, viết lách của Hoàng Hải Thủy thật đáng nể. Bài ông viết về tình yêu với Sài gòn thật thắm thiết, cũng như tình thân của ông đối với những người bạn văn, thân hay sơ giao, nhất là tình yêu với lý tưởng tự do của mình“. (LQH)

Riêng tôi, rất phục trí nhớ kinh khủng của Hoàng Hải Thủy, bài viết của ông lúc nào cũng có nhiều chi tiết với dẫn chứng có thật. Nhờ khiếu trời cho thông thạo nhiều ngoại ngữ (phần lớn tự học) và tài viết văn nên HHT phóng tác các sách ngoại quốc rất hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Ngoài phóng tác, ông còn viết nhiều tác phẩm rất hay, được nhiều độc giả yêu mến. Tuy vậy, ông không thích được gọi là nhà văn (theo như một bài trong blog của HHT thì những người chuyên về nghề viết để mưu sinh thì nên gọi là “thợ viết” – Duyên Anh bàn như vậy thì phải!)

Cầu mong nhà văn, nhà báo Hoàng Hải Thủy gặp lại Alice, người vợ yêu quý ở Thiên Đàng vĩnh cữu. Thành thật chia buồn với trưởng nữ Kiều Giang và toàn tang quyến.
Phan Anh DũngRockville, Maryland USA  

      HỌP MẶT THƯỜNG NIÊN CỦA CƠ SỞ CỎ THƠM 2008 – Harvest Moon Restaurant, Falls Church Virginia

Hàng ngồi từ trái: Hoàng Dung, Mỹ Hạnh, Hà Bỉnh Trung, Vũ Hối, Trương Anh Thụy, Vi Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Văn Thành23, Hồng Thủy / Hàng đứng: Phạm Xuân Thái, Đăng Nguyên, Uyên Thao, Nguyễn Lân, Trần Bích San, Phan Khâm, Nguyễn Phú Long, Bùi Thanh Tiên, Đỗ Phú, Phan Anh Dũng, Phạm Văn Tuấn

Ngồi từ phải: Hoàng Hải Thủy, Trần Bích San, Uyên Thao, Bà Hoàng Song Liêm – Đứng từ phải: Đỗ Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Hoàng Song Liêm – 2008

bar_divider

Nhà văn Hoàng Hải Thủy, người phóng tác Đỉnh Gió Hú, qua đời ở tuổi 87

Dec 7, 2020 – Nguồn- https://www.nguoi-viet.com/

VIRGINIA (NV) – Nhà văn, nhà báo Hoàng Hải Thủy vừa qua đời lúc 11 giờ 20 phút tối Chủ Nhật, 6 Tháng Mười Hai, 2020, tại bệnh viện Virginia Hospital Center, tiểu bang Virginia, vì tuổi già, hưởng thọ 87 tuổi.

Cô Kiều Giang, ái nữ nhà văn, xác nhận tin này với báo Người Việt và cho biết, “vì trời trở lạnh trong lúc người ông không được khỏe nên ông yếu dần rồi ra đi.”

Nhà văn Hoàng Hải Thủy (Hình: Blog Hoàng Hải Thủy)

Theo trang blog “Hoàng Hải Thủy, a.k.a Công Tử Hà Đông,” https://hoanghaithuy.wordpress.com/, nhà văn Hoàng Hải Thủy, tên thật là Dương Trọng Hải, sinh năm 1933 tại Hà Đông, Việt Nam.”

“Ngoài bút hiệu Hoàng Hải Thủy, ông còn có các bút hiệu khác như Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn…”

Ông tham gia sinh hoạt văn học nghệ thuật từ những năm đầu thập niên 1950 tại Hà Nội.

Di cư vào Nam năm 1951, ông từng trải qua các việc như phóng viên cho nhật báo Ánh Sáng Sài Gòn, Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội VNCH, phóng viên nhật báo Sài Gòn Mới. Ông còn là biên tập viên, chuyên về dịch thuật cho USIS (Sở Thông Tin Hoa Kỳ) ở Sài Gòn.

Năm 1952, ông được trao giải nhất cuộc thi truyện ngắn do nhật báo Tiếng Dội tổ chức. Từ 1956, ông trở thành cây viết phóng sự nổi tiếng và tác giả nhiều bộ tiểu thuyết phóng tác bán chạy hàng đầu tại miền Nam Việt Nam.

Các tác phẩm đã xuất bản trước 1975 là Vũ Nữ Sài Gòn, Tây Đực Tây Cái, Chiếc Hôn Tử Biệt (tái bản với tên Đêm Vĩnh Biệt), Nổ Như Tạc Đạn, Yêu Lắm Cắn Đau, Bạn và Vợ, Môi Thắm Nửa Đời, Người Vợ Mất Trí, Định Mệnh Đã An Bài, Kiều Giang (phóng tác từ tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Bronte), Gái Trọ, Đỉnh Gió Hú (phóng tác từ Wuthering Heights), Như Chuyện Thần Tiên (Scoprion Reef), Điệp Viên 007 (phóng tác), Thầy Nô (phóng tác từ Dr. No), Máu Đen Vàng Đỏ (phóng tác)…

Năm 1977, ông bị CSVN bắt nhốt hai năm (1977-1979) vì tội gửi một số bài thơ, bài viết ra nước ngoài. Tháng Năm, 1984, ông bị bắt lần thứ hai cũng vì tội gửi tác phẩm ra nước ngoài. Lần thứ hai này bị đưa ra tòa, bị án tù sáu năm.

Năm 1990, sau khi được thả, ông trở về Sài Gòn và năm 1994 sang Hoa Kỳ tị nạn, định cư ở Virginia.

Các tác phẩm của ông đã xuất bản sau 1975 là Công Ty Rửa Tiền (The Firm), Mang Xuống Tuyền Đài (The Chamber), Báo Cáo Bồ Nông (The Pelican Brief), Tiếng Kêu Của Máu (The Red Dragon), Mùa Hạ Hai Mươi, Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, Dữ Hơn Rắn Độc…

Các bài bình luận, phiếm luận được nhiều người đọc là Mai Sau… Nếu Có Bao Giờ, Nhắc Chi Ngày Xưa Đó…, Chìm Trong Lãng Quên, Sài Gòn và Phụ Nữ Việt trong phim Người Mỹ Thầm Lặng, Đọc Chùa Đàn Xem Mê Thảo, Còn Gốc Mất Gốc, Mưa Cầm, Gió Bắt, Thép Đợi, Gang Chờ…

Đến nay, ông đã hoàn thành và xuất bản hơn 60 tác phẩm gồm nhiều thể loại. (Đ.G) 

bar_divider
bar_divider

ÔB Hoàng Hải Thủy – thời trẻ ở Việt Nam

ÔB Hoàng Hải Thủy  1994 – vừa đến định cư ở Hoa Kỳ

  Ông Bùi Dương Liêm phỏng vấn ÔB Hoàng Hải Thủy (Youtube) – tháng 11, 1994

Từ trái: VŨ THỤY HOÀNG,TRƯƠNG CAM VĨNH & Mrs VĨNH, TRẦN KÍNH, NGUYỄN ĐỨC NAM, KIM NGA, KHÚC MINH THƠ, NGUYỄN NGỌC BÍCH, Mrs HOÀNG HẢI THỦY (ALICE), HOÀNG HẢI THUỶ, ĐỖ DIỄN NHI (Hình do Đào Trường Phúc chụp, sau nhà Nguyễn Đức Nam chào mừng ÔB HHT đến DC)

Uyên Thao, Vương Đức Lệ, Mỹ Dung Krall, NT Ngọc Dung, Hoàng Hải Thủy, Tạ Quang Khôi – 2008

Tạ Quang Khôi, Lê Văn Phúc, Hoàng Hải Thủy, Vương Đức Lệ, Uyên Thao, Hà Bỉnh Trung, Hoàng Song Liêm 2005

Vương Đức Lệ & Hoàng Hải Thủy

bar_divider

Tiếc thương nhà văn HOÀNG HẢI THỦY

Văn Tấn Phước/Paris

Lúc này Luôn Nghe Tin Buồn ! Anh Chị Em Văn Nghệ Sĩ Theo Nhau Từ Biệt Về Cõi Vĩnh Hằng …
Nhân Gian Ngày Thêm Quạnh Vắng !!!

Kính Thành Cầu Nguyện Anh Linh Nhà Văn HOÀNG HẢI THỦY Tiêu Dao Cõi Trời AN LẠC …
Chân Thành Phân Ưu Cùng Đại Gia Đình Tang Gia Nỗi Đau LY BIỆT !!!

Thành Kính Tiếc Thương,
Tuệ Nga – Portland, Oregon 

THỜI GIAN QUA MAU …

Hình chụp tháng 1 năm 1983 – Đứng: ÔB Lê Trọng Nguyễn & bạn

Ngồi từ trái: Nguyễn Duy Liễu (editor: Saigon Post), Hoàng Hải Thủy, Phan Bá Phụng, Thái Thanh, bạn …

Cám ơn Dũng và Tâm Hảo đã gửi email với hình anh Lê Trọng Nguyễn và các bạn.

Hai ngày này buồn quá!  Vừa nghe tin nhà văn Hoàng Hải Thủy qua đời.

Nói về anh HHT, trước năm 75 thì nhiều chuyện để nhớ, nhưng sau năm 75 thì có nhiều chuyện buồn để khóc.  Sao mà nhóm văn nghệ sĩ khổ quá trong 6 tháng đầu năm 1975 với Cộng sản, gần như chỉ trốn trong nhà bạn bè.   

Khoảng hơn một tuần sau 30 tháng tư, các bạn của anh Nguyễn chạy đến.  Ghé đến chỉ để biết tin ai còn sống, ai chết, ai đã ra đi.

Sao mà thay đổi nhanh quá!  Mỗi nhà văn, mỗi nhạc sĩ đều phải thích nghi.  Mỗi người một cái xe đạp, một cái túi sách.  Ôi, đúng là Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhìn mọi người thảm hại!

Nhà văn Mai Thảo nửa đêm chạy trốn lên căn gác của chúng tôi. Một đêm thôi, sáng ra lại trốn ở một căn nhà khác.  

Nhà văn HHT sống bên vợ hiền ở ngã ba Ông Tạ.  Chúng tôi ở Phú Nhuận, khoảng đường Nguyễn Minh Chiếu, góc Công Lý cũng gần nhau. Mỗi ngày đều thấy HHT ghé qua hỏi vài câu.  Đúng là Công Tử Hà Đông, HHT đi chiếc xe đạp thể thao Pháp, đắt tiền.  

Nhiều tháng sau, anh HHT đến báo tin nhà thơ Vũ Hoàng Chương đau nặng. Chúng tôi đi thăm, vài tháng sau thì ông qua đời. Sau đó đến nhạc sĩ Minh Kỳ. Các anh em văn nghệ sĩ lần lượt đi tù vì trong quá khứ có những tác phẩm bị cho là chống phá Cách Mạng.  

Năm 1978 HHT đến chơi, nói là mới ra tù. Sau đó lại nghe nói đi tù lần nữa.   

Năm 1982 chúng tôi sinh được một con trai đặt tên là Lê Trọng Phúc. Ngày đầy tháng anh HHT đến ăn mừng, cho một hộp sữa Morinaga, sữa ngoại quốc mắc tiền.   

HHT có tặng bài thơ cho Lê Trọng Nguyễn như vầy: 

Bài Thơ Gởi NGUYỄN – LTN

…Nguyễn ơi, còn một chút này…

……..

Mẹ già, vợ dại, con thơ

“Nắng Chiều” mà gặp trời mưa thì phèo!

Ký tên: CTHĐ   


LTN cầm bài thơ đưa tôi, có vẻ buồn: “HHT nói anh ‘phèo’ là tiêu đấy.”

1983, những ngày lo buồn, thảm não vẫn tiếp tục… Nhiều người tiếp tục vô tù. Người khác bỏ nước ra đi.  Chúng tôi cũng ra đi vào năm 1983. Sang tới Mỹ, chúng tôi vẫn liên lạc được với anh chị HHT còn kẹt lại ở Sài Gòn.

Tôi được gặp lại anh HHT năm 2006 tại DC, dịp Đầu Xuân Cỏ Thơm, do chị Nguyễn Thị Ngọc Dung và Phan Anh Dũng tổ chức.

Hơn chục năm qua. Lá thu vẫn rụng. Thời gian vẫn trôi.
Hôm nay nhận được tin anh HHT qua đời. Thêm “Một Chiếc Lá Rơi”.

Thành kính phân ưu cùng gia đình nhà văn Hoàng Hải Thủy và cháu Kiều Giang.

 Lê Trọng Nguyễn Nga

CHÚT KỶ NIỆM VỀ HOÀNG HẢI THỦY …

Nhắc đến Nhà Văn Hoàng Hải Thủy, đối với tôi, có đôi điều đáng nhớ:

– Lần đầu tiên, tôi đọc HHT trên Tuần Báo Văn Nghệ Tiền Phong ở Sàigon sau Di Cư 1955, phóng sự Vũ Nữ Saigon, nhất là khi ông viết về vụ Ông Thừa Phát Lại Hoàng Nhật Tiến theo lệnh triệu dụng của ông Chánh Án Tòa Khẩn Cấp Saigon và Nguyên Đơn Phạm Đình Chương tiến hành việc khám xét và lập vi bằng vụ ngoai tình trên xe hơi giữa Nhạc Sĩ PD và Ca Sĩ KN (vợ Nguyên Đơn) ở Nhà Bè. Tên của bài phóng sự Ăn Chè ở Nhà Bè là: Ngựa của ông sao ông không cưỡi, ông lại cưỡi ngựa của tôi? Kết thúc bằng mấy câu thơ:
Nếu một mai, em có qua đời,
Thì anh đành cam chịu mồ côi
Nhìn về Nhà Bè, không còn ăn chè,
Chỉ có La De cùng với cà phe
Lạnh lẽo mà thôi !


– Sau này khi làm Chuyên Viên Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa, tôi có đôi lần gặp Ông Hoàng Hải Thủy.

Nhận xét về Nhà Văn Hoàng Hải Thủy: Ông là Nhà Văn có Tài, tuy nhiên giọng văn hơi ra ngoài khuôn khổ nên thường gây mâu thuẫn với người đọc khó tính, nhất là khi ông mới sang định cư ở Hoa Kỳ có va chạm với những người Việt “Cũ”, khiến ông than thở: “Việt Cộng nó bắt, Việt Kiều nó chửi”.

– Tại vùng Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, tôi gặp lại ông nhiều lần, vẫn giữ nguyên sắc thái: Ân cần với bạn bè, cao ngạo với những người ông không ưa.

Nay Ông đã Thuận Theo Lẽ Vô Thường, về với Chúa. Cầu cho Linh Hồn Hoàng Hải Thủy sớm hưởng Ánh Sáng Thánh Nhan Chúa.

Tạ Quang Trung

THÊM MỘT CHIẾC LÁ MÙA THU ĐÃ LẶNG LẼ RƠI…
NHÀ VĂN HOÀNG HẢI THỦY (1933-2020)

THÀNH KÍNH TIẾC THƯƠNG VÀ PHÂN ƯU CÙNG TANG QUYẾN                                     

“XIN CHO MỘT NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG,
THẤY BÓNG THIÊN ĐƯỜNG CUỐI TRỜI THÊNH THANG”…
                                                        

PTN

VĨNH BIỆT Nhà Văn HOÀNG HẢI THUỶ

Cách đây mấy tháng, Nhà Báo ĐÀO TRƯỜNG PHÚC (Phố Nhỏ) gọi cho tôi, nói rằng: “anh Thuỷ hỏi cậu còn giữ những tấm hình chụp trong buổi họp mặt ACE Văn Nghệ Sĩ Thủ Đô chào mừng Anh Chị Thuỷ đến VA, tại nhà cậu, ngày Nov. 13, 1994, gửi cho anh Thuỷ”. Trong những tấm hình ấy, có chị Alice nên anh muốn giữ. ( Khi chị Alice mất vào hai năm trước, tôi không có mặt ở D.C nên đã không dự tang lễ của chị.) Tôi làm copy những tấm hình dưới đây và đã nhờ ĐT Phúc đưa đến anh Thuỷ.

Chị Hoàng Anh Tuấn cũng nhắn trên FB cho tôi: “Từ ngày chị Alice mất, anh Thuỷ buồn lắm, Nam nên gọi anh Thuỷ, nói chuyện cho anh bớt buồn.” Tôi quá bận và giờ giấc giữa CA và VA khác biệt 3 tiếng, khi tôi rảnh thì bên VA đã nửa đêm nên không dám gọi anh Thuỷ. Bây giờ muốn gọi thì đã quá trễ. Tôi ân hận vô cùng.

Vĩnh biệt người đàn anh văn nghệ kính mến của tôi. Mừng anh đã gặp chị nơi Thiên Đường.

Nguyễn Đức Nam


NĐ Nam và anh HHT đang nghe hát

Trương Cam Vĩnh & Hoàng Hải Thủy


 Bạn hữu quây quần quanh anh HHT.

Anh Thuỷ hát với tiếng piano của Huỳnh Thái Bình

Anh Trần Kính hát tặng chị Alice.

Phạm Tuân đàn cho tam ca HHT & Alice & Trần Kính

Hoàng Hải Thủy & Alice

Chụp hình kỷ niệm trên sân sau năm 1994. Từ trái qua phải: Vũ Thụy Hoàng, Trương Cam Vĩnh, chị Vĩnh, Trần Kính, Nguyễn Đức Nam, Kim-Nga, chị Khúc Minh Thơ, anh Nguyễn Ngọc Bích, chị Alice, anh HH Thuỷ, Đỗ Diễn Nhi, Đào Trường Phúc.
 

bar_divider

Hoàng Hải Thủy, một cõi riêng

(trích bài viết của TT Thái An)

” … 6 tháng sau, một ngày sau lễ Giáng Sinh 2018, cô Kiều Giang, con gái ông bà ở Ohio sang chơi.  Ngày 27, cô dẫn mẹ đi ăn uống, đi cắt tóc, đi mua sắm và chụp cho bà nhiều tấm ảnh bà cười tươi rói, trông thật yêu đời.  Bà còn đi bộ suốt buổi chiều, khỏe lắm.  Ông thì ít ra đường nên ở nhà cho mấy mẹ con đi với nhau.  Khi về, cô Giang mua một phần đồ ăn đem về cho bố.
Tối về đến nhà, bà đang chuyện trò với mọi người thì kêu mệt, bỏ vào phòng nằm nghỉ.
Một lúc sau bà lại ra phòng khách ngồi với chồng trong lúc ông đang ăn.  Đột nhiên bà gục đầu xuống.  Nhà văn HHT gọi con gái:
-Giang ơi! Trông mẹ bị làm sao thế này?
Giang vội đến sau lưng mẹ, tưởng mẹ đang cúi xuống kiếm vật gì, nhưng không phải.  Mẹ thì thào: “Mệt quá!”
Thế là Giang gọi xe cứu thương.  Mười phút sau xe đến ngay, nhưng vừa vào nhà thương thì mẹ mất cùng ngày.  Mẹ mất vì đứng tim.
Giang có một niềm an ủi là mẹ đã có một ngày cuối cùng trên trần gian thật vui vẻ và Giang được đi chơi với mẹ cả ngày hôm đó.  Mái tóc của mẹ cũng được cắt chải thật đẹp như chuẩn bị cho một chuyến đi xa vĩnh viễn.
Người vợ thương yêu của ông qua đời thật đột ngột vào ngày 27 tháng 12 năm 2018.  Hai ông bà có ba người con: con gái tên Kiều Giang và hai người con trai.  Cả ba người con đều ở xa cha mẹ.  Mẹ mất thì về lo tang lễ rồi lại ra đi.
Đám tang bà Thủy có rất đông bạn hàng xóm ở chung Elmwood và Lockwood House đến tiễn đưa.  Cụ nào còn lái xe được thì chở theo mấy cụ khác.  Chưa kể, các cụ bạn văn, bạn làm báo cũng đến chia buồn với nhà văn HHT. Nhưng ông chỉ có mặt một lúc buổi sáng rồi về sớm vì sức khỏe yếu.
Từ lúc vợ mất, Hoàng Hải Thủy bị trầm cảm.  Suốt ngày ở nhà, ít ra ngoài lắm lắm.  Trước đó, ông đã ít xuất hiện ở những nơi hội họp đông người, huống gì bây giờ đang buồn bã, bơ vơ nhớ vợ từng ngày.  Ông luôn sống một mình, thỉnh thoảng vào email đọc thư bạn bè.
Con gái Kiều Giang mỗi ngày hay gọi điện thoại chuyện trò với bố.  Lúc sau này cô dọn về Virginia, nhưng cũng phải lái xe 3 tiếng mới đến được nhà bố.  Thỉnh thoảng cô lên ở với bố vài ngày.  Hoàng Hải Thủy vẫn nằm ngủ ở phòng khách, dù phòng của vợ bỏ trống, ông cũng không dọn vào trong phòng.  Vì thế Kiều Giang có sẵn cái phòng trống để ngủ.  

Nhiều đêm sắp sửa ngủ, Kiều Giang nghe thấy tiếng bố nói lớn bên ngoài.  Tò mò bước ra xem thì Giang thấy bố đang cầu nguyện với Chúa, mặt ông hướng về bàn thờ. Vì bà Thủy có lập một cái bàn thờ Chúa và Đức Mẹ trong phòng khách, vẫn còn y nguyên đó.  Giang biết đức tin của bố đối với Chúa thật vững vàng dù bố chẳng đi nhà thờ, nhưng bố cầu nguyện với Chúa hằng ngày.

Lần này nghe trong phone giọng bố yếu hẳn, bố nói với Kiều Giang rằng bố thấy đau yếu trong người mấy hôm nay rồi.  Thế là Giang chạy lên với bố, đưa bố đi bác sỹ.  Qua hôm sau, bố vẫn yếu xìu, không dậy nổi nên Giang gọi xe cứu thương đưa bố vào bệnh viện Virginia Hospital.  
Thời buổi dịch lệ covid, không nhà thương nào trên nước Mỹ cho thân nhân vào thăm bệnh nhân cả, vì thế Giang chỉ biết chờ điện thoại của bác sỹ báo cho hay tình trạng sức khỏe của bố mỗi ngày.  

Bố vào nhà thương hôm Chủ Nhật ngày 22 tháng 11, 2020.  Đến ngày thứ Sáu, 4 tháng 12, 2020 bác sỹ cho Kiều Giang vào gặp bố.  Đó là đặc ân cho những thân nhân của những bệnh nhân sắp ra đi.  Vì Giang mặc quần áo bảo hộ, đeo khẩu trang kín mít nên khi hỏi bố:
-Bố có biết ai đây không?
Bố lắc đầu nói:
-Không biết.
Giang nói lớn hơn vì sợ bố không nghe thấy:
-Con là Giang đây mà, bố nhận ra con không?
Bố gật đầu.  Giang nói tiếp:
-Bố ráng cho mau khỏe rồi về nhà nhé.
Bố trả lời:
-Ở đây tốt rồi, còn về đâu nữa?
-Không, về nhà bố tốt hơn, để con săn sóc bố, bố nhé!
Bố lại lắc đầu, trả lời:
-Thôi ở đây tốt hơn!  Mẹ mày sắp đến đây đón bố rồi; bố ở đây chờ mẹ đến để đi chung.

Giọng bố yếu lắm, nhưng bố cứ lập lại vài lần rằng bố ở đây để chờ mẹ đến đi chung.

Có lẽ sau khi vợ qua đời, nhà văn Hoàng Hải Thủy chẳng tha thiết sống nên khi lâm bệnh ông buông xuôi, không muốn phấn đấu để níu kéo đời sống này được thêm ngày nào hay ngày đó.  Vì thế, ông ra đi thật nhanh.
Bác sỹ cũng nói cho Giang biết rằng khi bác sỹ hỏi bố có nguyện vọng sau cùng gì không, thì bố trả lời rằng chỉ muốn chờ vợ đến đón đi mà thôi.

Chiều Chủ Nhật ngày 6 tháng 12 tôi đến cửa building Emlwood House gọi Giang ra để đưa hộp mì vịt tiềm tôi mới nấu sáng đó. Vì tôi biết Giang bận việc gia đình quá mệt mỏi, căng thẳng, thêm phần ở đây một mình, không người thân nào khác giúp đỡ lúc cần thiết  này, đuối sức lắm.

Cũng tối Chủ Nhật ngày 6 tháng 12, 2020, lúc 11:20 pm, nhà thương gọi Giang báo tin bố vừa trút hơi thở cuối cùng.  Kiều Giang chạy vào nhà thương gấp để nhìn bố lần cuối trước khi họ đem bố xuống nhà xác.
Kiều Giang nói với tôi rằng:
-Chị An ơi, cái bánh tét chị đưa em hôm thứ Hai (ngày 23 tháng 11) sau khi bố em vào nhà thương một ngày và tô mì vịt chị cho em ngày Chủ Nhật vừa qua đúng là cứu đói đúng lúc.  Vào những lúc em quá mệt mỏi, chẳng còn sức để nấu nướng, mở tủ lạnh ra chẳng có gì ăn thì có bánh tét, có mì của chị. Em ăn liền một lúc nửa cái bánh tét.  Còn tô mì, em ăn một nửa, định hôm sau ăn tiếp.  Nhưng không ngờ ở nhà thương về lúc 3 giờ sáng, bụng đói cồn cào, em đem ra ăn luôn phần còn lại.

Tôi chẳng làm được gì to tát giúp Kiều Giang lúc này.  Nghe Giang nói thế, tôi thấy ấm lòng vì đã làm được chút gì đó nâng đỡ cho Giang.  
Chiều ngày 9, tháng 12.  Sau khi tan sở, tôi lại ghé Elmwood House đưa cho Giang một ít thức ăn tôi nấu.  Giang đưa cho tôi một bao xí muội và một lọ dầu gió đỏ của Thái Lan.  Đó là những thứ của bố để lại.  Tôi thích thú nhận lấy vì chúng là kỷ niệm của nhà văn Hoàng Hải Thủy đó!
 
Đám tang của ông được cử hành ngày thứ Bẩy 12 tháng 12, 2020 tại Everly Funeral Home, Falls Church, VA.  Cũng là nơi đã làm tang lễ cho vợ ông.  Nhưng kỳ này, không có vị bô lão nào trong hai cái building Elmwood và Lockwood House đến viếng, các cụ nhà văn, nhà báo trên dưới 80 cũng chỉ có vài người đến viếng rồi vội vã ra về cũng chỉ vì đại dịch covid Vũ Hán vẫn còn hoành hành, các cụ không dám đến những nơi công cộng.  

Nhưng không sao, người chết không biết buồn vì quang cảnh hay thời cuộc nơi trần thế.  Nhà văn Hoàng Hải Thủy đang vui vì được sum họp với người vợ ông yêu quý.
Linh hồn nhà văn Hoàng Hải Thủy chắc chắn đã được thiên sứ của Chúa rước về Thiên Đàng, và ông đã được đoàn tụ với người vợ yêu quý của mình Đỗ Thị Thủy/Alice.

Hoàng Hải Thủy hiện diện trên cõi đời được 87 năm. Sinh 1933 tại Hà Đông, Việt Nam- mất ngày 6, tháng 12, 2020 tại Virginia, Hoa Kỳ.  
Ông để lại trong kho tàng văn học Việt Nam một số lượng tác phẩm quý giá.  

Cầu xin Thiên Chúa Chí Ái an ủi và nâng đỡ Kiều Giang và anh trai, em trai cùng các con và các cháu trong lúc tạm xa cách bố và ông nội, ông ngoại.”

TT-Thái An
12/14/2020

TOÀN BÀI “HOÀNG HẢI THỦY, MỘT CÕI RIÊNG” (PDF)

bar_divider

  MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA HOÀNG HẢI THỦY

ĐỌC online 1 SỐ TÁC PHẨM CỦA HOÀNG HẢI THỦY Ở LINK SAU ĐÂY:

https://vietmessenger.com/books/?author=hoang%20hai%20thuy

                       VIẾT Ở RỪNG PHONG (PDF)            SỐNG & CHẾT Ở SÀI GÒN (PDF)

                       DỮ HƠN RẮN ĐỘC (PDF)                NHỮNG TÊN BIỆT KÍCH CẦM BÚT (PDF)

                       NỔ NHƯ TẠC ĐẠN (PDF)                 TẠI NGỤC VỊNH KIỀU (PDF)          

                       MÙA HẠ HAI MƯƠI (PDF)              GIỮA HAI DÒNG NƯỚC (PDF)

                       TÌNH TRONG CHIẾN HÀO (PDF)      VÒNG TAY TÌNH YÊU (PDF)

                       GÁI TRỌ (PDF)                              NGƯỜI VỢ MẤT TÍCH (PDF)

                       YÊU NHAU BẰNG MỒM (PDF)         TRỞ VỀ TỘI ÁC (PDF)

bar_divider

Gió-o Phỏng Vấn Nhà Văn Hoàng Hải Thủy

Posted on February 11, 2011 by hoanghaithuy

Hoàng Hải Thủy, Kỳ Hoa năm 2005

Lê Thị Huệ: Cảm giác của tôi ông là một người rất khó gần. Ðầy cá tính, đầy lôi cuốn, và khó gần. Sau khi bắt tay vào cuộc phỏng vấn, cảm giác ấy của tôi vẫn vương đọng …

Lúc đầu tôi không nghĩ ông sẽ nhận lời khi tôi viết Meo mời ông cho cuộc phỏng vấn. Và rồi thật bất ngờ, ông nhận lời. Hoàng Hải Thủy là một nhà văn đắt giá. Ông đã từng và đang là nhà văn được các báo Việt Nam lấy làm một may mắn khi được ông nhận lời gửi bài. Lý do là ông có nhiều độc giả. Các báo phải trả nhuận bút thì mới có bài của ông.

gio-o.com lấy làm hân hạnh được Nhà Văn Hoàng Hải Thủy gửi bài và đồng ý cho phỏng vấn không thù lao. Có lẽ con người mà người Việt thường gọi là “nghệ sĩ” của ông lộ ra ở điểm này. Có lẽ vì thế mà xuyên suốt bài phỏng vấn, sự ngập ngừng của ông chỉ làm cho tôi và có lẽ nhiều độc giả khác càng tò mò.  Và càng thấy những điều ông không trả lời còn ẩn đậy phần tài hoa và khô khốc ở con người Hoàng Hải Thủy, mà cuộc phỏng vấn vẫn chưa bật hé được.

Tôi rất yêu câu trả lời này của ông: “Tôi phóng tác để các vị phụ nữ Việt đọc”.

Bài phỏng vấn có nhiều khoảng trống mời gọi sự tưởng tượng của các độc giả của Nhà Văn Hoàng Hải Thủy … (lth)

o O o

Lê Thị Huệ: Chào Nhà Văn Hoàng Hải Thuỷ. Cám ơn nhà văn đã dành cho Gió O cuộc  phỏng vấn đặc biệt này.Câu đầu tiên, thưa ông, quyển sách, đoạn văn, bài học thuộc lòng, bài thơ đầu tiên nào đã gây ấn tượng mạnh mẽ ở tuổi thơ của ông ?

Hoàng Hải Thủy: Xin lỗi. Tôi không nhớ.

LTH:  Những ngày thơ ấu của ông.  Biến cố hoặc tâm tư đặc biệt đáng nhớ nào khiến ông muốn cầm bút để trở thành nhà văn sau này.

HHT: Thưa.. Không có gì đặc biệt cả. Không biết tại sao tôi có ý muốn viết tiểu thuyết từ năm tôi 10 tuổi, sau khi tôi đoc Trường Ðời và Giông Tố. Tôi chỉ muốn “viết tiểu thuyết”. Tôi không nhận tôi là “Nhà văn”, tôi không thoải mái khi được gọi là “ Nhà văn.” Tôi viết truyện để giải trí cho những người đọc truyện tôi viết.

LTH:  Ông nhớ gì về Miền Bắc ấu thời. Nhớ gì về Hà Nội.  Nhớ gì về Hà Ðông ?

HHT: Câu hỏi ngắn nhưng câu trả lời thì không thể ngắn. Tôi đã viết nhiều về thị xã Hà Ðông thời thơ ấu của tôi. Tôi không muốn viết nhiều về Hà Nội. Tôi chỉ sống ở Hà Nội có 1 năm nên tôi không có nhiều kỷ niệm về Hà Nội.

LTH:  Ông giỏi ngoại ngữ từ nhỏ? Ông biết bao nhiêu thứ tiếng ?

HHT: Tôi mà “giỏi ngoại ngữ” thì trên cõi đời này còn có ai “dzốt ngoại ngữ?”. Tôi tiếng Tây Bồi, tiếng Anh Bồi, tiếng Mỹ cũng bồi.

LTH:  Thuở ban đầu ông có ý định sẽ trở thành nhà văn ? Nhà báo ? Dịch giả ? hay Nhà thơ ?

HHT: Như đã trả lời ở trên: 10 tuổi tôi thích, tôi mong mai sau tôi sẽ “viết truyện.” Viết như ông Lê Văn Trương viết Trường Ðời, như ông Vũ Trọng Phụng viết Giông Tố.

LTH:  Công việc đầu tiên lúc ông vừa vào Nam là làm gì ?

HHT: Năm 1950 tôi từ Bắc Ninh, Bắc Giang trở về Hà Nội. Tôi đi học lại. Trường Văn Lang của ông Hiệu Trởng Ngô Duy Cầu. Năm 1951 ông thân tôi là công chức, đổi vào làm việc ở Sài Gòn, mẹ tôi, anh em tôi vào theo. Năm 1951 tôi học trường Tân Thanh ở đường Lacoste. Năm 1952 tôi được vào làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, cuối năm 1952 tôi được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn năm 1952 của Nhật báo Tiếng Dội. Truyện ngắn của tôi tên là “Người Con Gái Áo Xanh.” Tôi mất truyện ngắn đầu tay này ngay năm 1952. Tôi đi lính 2 năm. Năm 1954 tôi làm phóng viên-nhân viên Nhật báo Sàigòn mới. 1956, 1957 tôi làm nhân viên USOM – United States Operation Mission – tiền thân của USAID. Cuối năm 1957 tôi trở về toà báo Sàigòn mới. Tôi làm nhân viên tòa soạn Saigon mới từ 1957 đến ngay Sàigon mới bị đóng cửa năm 1964. Tôiviết tiểu thuyết phóng tác dzài dzài từ 1956 đến 1975, tôi viết nhiều nhất ở Nhật báo Ngôn Luận.

LTH:  Ông đã cộng tác với nhiều báo ở Miền Nam thời 1954-1975 ? Những tờ báo nào cho ông nhiều kỷ niệm thú vị nhất ?

HHT: Tôi chỉ có những ký ức làm tôi xúc động: Hai báo Ngôn Luận và Sàigòn mới là hai tờ báo chính trong đời tôi. Người làm công mà được chủ thấy, biết có tài, được chủ trọng đãi.. là nhất. Tôi được hưởng vinh dự và niềm kiêu hãnh ấy ở toà soạn Ngôn Luận và Sàigòn mới.

LTH:  Ông từng cộng tác với tờ báo do bà Bút Trà làm chủ. Ông có thể nói cho biết về vai trò của bà Bút Trà. Bà ta có thực sự làm chủ bút, hay cũng như nhiều tờ báo khác ngày xưa và sau này là tuy để tên một bà làm chủ bút, chủ báo, nhưng đằng sau thì luôn luôn do đàn ông làm báo và quyết định tất.

HHT: Tôi viết bài “Phơi-ơ-tông” và bài “Sài Gòn Mới” trong loạt bài Viết ở Rừng Phong. Với tôi bà Bút Trà là Linh hồn, trái tim và xương sống của nhật báo Sàigòn mới. Không có bà Bút Trà, không có tờ báo SàiGòn mới. Trong đời tôi, tôi chỉ nhận “Bà Bút Trà là Bà Chủ tôi.” Tôi không thể trả lời đôi câu về bà Bút Trà. Xin đọc bài tôi viết về bà Bút Trà trong https://hoanghaithuy.wordpress.com/ Tôi không “cộng tác” với bà Bút Trà, tôi làm công cho bà Bút Trà.

LTH:  Hình như ông đã là chủ bút tờ Thế Giới Tự Do do người Mỹ in ấn. Tờ báo do Mỹ viện trợ in rất đẹp. Ông có thể nói về tờ báo ấy đôi chút chăng ?

HHT: Không có chuyện “chủ bút, chủ mực” gì long trọng cả. Năm 1972, người Mỹ ký Hiệp Ðịnh Paris với Bắc Cộng. Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam, Họ ngừng cuộc tuyên truyền chống Cộng ở VNCH. Họ dẹp Tạp Chí Thế Giới Tự Do. Họ thay TGTD từng chống Cộng bằng Tạp Chí Triển Vọng. Cơ quan USIA – Unites States Information Agency – ra nguyệt san USA Today, trong đăng toàn những bài trích trong cáo báo Mỹ về đời sống của người Mỹ, khoa học, kỹ thuật Mỹ. Tất cả các Sở USIS ở khắp thế giới dịch những bài trong USA Today ra làm thành tờ báo tháng của nước mình. Tờ Triển Vọng – Outlook – của Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở Sài Gòn cũng làm việc ấy. Tôi làm nhân viên dịch những bài báo tiếng Mỹ. Triển Vọng dịch xong, làm thành bản gọi là “Bluebook”, gửi sang in ở một nhà in của Mỹ ở Manila.

LTH:  Tại sao Công Tử Hà Ðông ? Tại sao ông đã không lấy một bút hiệu như Công Tử Sè Gòng chẳng hạn, vì ông đã sống những năm thanh niên ở Sài Gòn và nghe nói ông cũng thuộc loại dân ăn chơi có hạng ở Sài Gòn thời đó. Tại sao Công Tử ? Tại sao Hà Ðông ?

HHT: Năm 1970 tôi giữ một trang trong Tuần Báo Con Ong, tôi cần một, hai bút hiệu Tếu để viết những bài  kiểu viết láo mà chơi. Cái tên HHT dành để viết tiểu thuyết. Tôi lấy 2 tên Công Tử Hà Ðông và Gã Thâm để ký 2 bài tôi viết trên Con Ong. Tôi ra đời, lớn lên ở thị xã Hà Ðông. Hà Ðông cách Hồ Gươm Hà Nội 11 cây số, có xe điện qua lại ngày 4, 5 lượt. Vì quá gần Hà Nội nên Hà Ðông không có gì đặc biệt cả. Ăn cao lâu, đi xem xi-nê, đi xem bói, mua thực phẩm Tết, quần áo, giày mũ, người Hà Ðông đều ra Hà Nội. Thanh niên Hà Ðông ăn diện không khác thanh niên Hà Nội nhưng vẫn là thanh niên Hà Ðông. Không ai dám tự nhận trên báo mình là Công Tử Hà Nội, nhưng nhận mình là Công Tử Hà Ðông thì được. Vì Công Tử Hà Ðông là một thứ công tử tỉnh lẻ, không giống ai, không được ai trọng. Anh Chu Tử hiểu nghĩa cái tên Công Tử Hà Ðông cuả tôi. Anh bảo tôi: ‘Anh lấy bút hiệu Công Tử Hà Ðông hay đấy.’

Lúc ấy có anh bạn tôi, nói: “Công Tử Hà Nội mới hay chứ.”

Anh Chu Tử nói: “Công Tử Hà Nội thì còn nói gì nữa.”

LTH:  Một Công Tử Sài Sòn trong thời 1955-1975, khác với Công Tử Hà Thành trước đó,  khác với  Công Tử  Bạc Liêu thời kỳ 1930-1950  như thế nào ?

HHT: Tôi không biết. Câu trả lời, nếu tôi trả lời được, cũng sẽ quá dài.

LTH:  Tiêu chuẩn nào để ông chọn những tác phẩm để phóng tác lúc đó ?

HHT: Tôi chỉ viết để người đọc giải trí. Loại tiểu thuyết phơi-ơ-tông – feuilleton – đăng trên nhật báo mỗi ngày cần có những chuyện làm người đọc phải đọc tiếp. Tôi đọc tiểu thuyết Âu Mỹ trước hết vì tôi thích đọc, tôi cần đọc. Ðọc truyện nào tôi thấy hay, tôi bị lôi cuốn, tôi nghĩ đến chuyện nên phóng tác truyện ấy cho độc giả của mình đọc.

LTH:  Những tác phẩm Jame Bond có phải là ông chọn vì nhu cầu độc giả?

HHT: Thời Ðệ Nhất Cộng Hoà, nhân viên Bộ Thông Tin  thường nói với các ông chủ báo câu: “Văn phẩm phải lành mạnh, xây dựng, có hướng đi lên..” Và gọi những truyện bị coi là khiêu dâm, vi phạm thuần phong, mỹ tục là : “Viết để phục vụ – viết theo – những thị hiếu thấp hèn của độc giả.”  Tôi phóng tác tiểu thuyết của Ian Fleming là vì tôi thích những truyện ấy, khi đọc những truyện ấy tôi thấy hay. Người ta có nhu cầu đọc truyện giải trí, tôi biết nhu cầu của đồng bào tôi, tôi biết người đọc truyện tôi muốn đọc loại truyện gì. Khả năng biết đó là do Trời cho.

LTH:  Tại sao ông lại chọn cách “phóng tác” thay vì dịch đúng nguyên bản ?

HHT: Tôi phóng tác để các vị phụ nữ Việt đọc. Các cô, các bà người Việt khó nhớ được một nhân vật lúc thì tên là Elizabeth, lúc thì tên là Liz, lúc là cô Taylor. Vì khó nhớ tên nhân vật, họ không thích đọc truyện có những nhân vật ấy. . Ðộc giả phụ nữ Việt những năm 1960 khó hiểu những truyện có những sự kiện quan trọng như thang máy,  phone, máy ghi âm, phi cơ.

LTH:  Tác phẩm phóng tác nổi tiếng nhất của ông là Kiều Giang. Tại sao từ Jane Eyre lại thành Kiều Giang ?  Nguyên tắc “phóng” của ông từ đâu ? Từ âm thanh tương tự ? Từ điển tích ? Từ ngẫu hứng ? Từ đâu ?

HHT: Khi đọc Jane Eyre, tôi nghĩ: “Mình sẽ phóng tác truyện này, đặt tên là Kiều Giang.” Tên con gái tôi là Kiều Giang, cháu ra đời cùng năm tôi phóng tác Jane Eyre trên nhật báo Ngôn Luận. 

LTH:  Những tác phẩm phóng tác của ông thời Miền Nam 1954-1975 ăn khách chỉ sau truyện Chưởng của Kim Dung. Ông ước lượng tác phẩm Kiều Giang đã được in ra bao nhiêu ấn bản?

HHT: Tôi không biết Kiều Giang được in bao nhiêu ấn bản. Từ năm 1960 Kiều Giang được in thành sách lần thứ nhất, đến năm 1975 có 2 lần tái bản ở Sài Gòn, sau 1975 có 1 lần in lại ở Hoa Kỳ.

LTH:  Kiều Giang của Sài Gòn ngày đó như thế nào ? Những điều mà độc giả chúng tôi chưa được biết ?

HHT: Có ba loại người thích đọc Kiều Giang ở ba số tuổi khác nhau: Tính vào những năm 1960-1965: Mẹ tôi 65 tuổi, vợ tôi 40 tuổi, con gái tôi 12  tuổi. Cả ba người đều đọc và thấy Kiều Giang hay.  Nếu quốc gia ta còn, Kiều Giang có thể sẽ có những lớp người Việt kế tiếp nhau đọc.

LTH:  Lúc đó một ngày ông dịch hoặc phóng tác bao nhiêu trang ?

HHT: Không nhất định bao nhiêu trang. Có những tháng tôi viết ba, bốn truyện cho ba, bốn nhật báo, có những tháng tôi chỉ viết một truyện cho một báo.

LTH:  Thù lao ông nhận được từ việc phóng tác chắc là cao ngất, so với các việc khác?

HHT: Không có gì đáng gọi là “cao ngất.” 20 năm từ 1954 đến 1975 tôi chỉ làm thư ký Sở Mỹ 4 năm – 2 lần – tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Sàigònmới 8 năm, tôi viết tiểu thuyết trong 20 năm.

LTH:  Ðứng về mặt văn chương có thể nói khả năng văn chương của ông thần sầu.  Ông đẻ ra chữ “Kiều Giang” thế là người đọc chạy theo quyển sách của ông ngay, bị dụ bởi cái chữ “Kiều Giang”. Hoặc như “Ðịnh Mệnh Ðã An Bài”`, “Nổ Như Tạc Ðạn”, “Viết Ở Rừng Phong”… Nhiều người cũng ở rừng phong  thuộc tiểu bang Virginia và cũng sáng tác ở đó, nhưng chỉ có Hoàng Hải Thuỷ đặt cho cái tên “Viết Ở Rừng Phong” nghe lên là thấy cả một trời sáng tác, mùa thu, đẹp,  thơ mộng, và có tác phẩm để đọc, nên mới chạy theo cái tên Hoàng Hải Thuỷ để tìm đọc bài “Viết Ở Rừng Phong”.  Chứ  ví dụ nghe một cụm chữ như “Rừng Phong Virginia” thì lại thấy chả có gì hào hứng để chạy theo tìm đọc . Ông biết mình có khả năng văn chương đặc biệt này từ bao giờ ?

HHT: Cám ơn lời khen. Tự nhiên tôi nghĩ ra những cái tên văn nghệ ấy.

LTH:  Ông phóng tác nhiều như thế, ông có thể cho vài nhận xét thường gặp và không thể nào quên về phương diện ngữ học của Tiếng Anh và tiếng Việt.

HHT: Tôi chẳng bao giờ để ý đến chuyện này. Tuy vậy, tôi cũng có thể trả lời câu hỏi, nhưng tôi phải suy nghĩ, nhớ lại, đưa tỷ dụ, bài viết ít nhất cũng 5 trang. Viết trong 8 tiếng chưa xong. Tôi xin lỗi đã không trả lời được nhiều câu hỏi.

LTH:  Ngày trước khi ông chưa sang Hoa Kỳ, ông phóng tác như thế. Một gia tài phóng tác khá phong phú. Bây giờ đang sinh sống ở Mỹ, nếu cho ông làm lại, ông làm như thế nào ?

HHT: Làm lại với tuổi 30? Chuyện giả tưởng, Làm lại với số tuổi 78 của tôi hiện nay? Tôi chỉ viết những bài như những bài Viết ở Rừng Phong. Tôi còn làm gì, viết gì hơn được nữa.

LTH:  Nguyễn Du cũng phóng tác Thanh Tâm Tài Nhân thành Ðoạn Trường Tân Thanh và và rồi tác phẩm phóng tác Ðoạn Trường Tân Thanh ấy trở thành tác phẩm số 1 của văn chương Việt Nam từ trước đến nay. Tác phẩm phóng tác nào của ông, ông nghĩ là xứng đáng như Kiều của Nguyễn Du, khi mà khả năng ngôn ngữ của ông cũng siêu đẳng có hạng.

HHT: Nếu tôi nói “Không có truyện nào tôi viết vừa ý tôi cả.”  Tôi thấy tôi có vẻ kiêu căng. Nay đọc lại những truyện tôi viết 50 năm xưa, như trong các phóng sự tếu, có vài đoạn làm tôi ngạc nhiên: “Tại sao ngày ấy mình viết được những lời, những chuyện như thế này?”

LTH:  Tôi hơi lấy làm tiếc cho các bác Nguyễn Du hoặc bác Hoàng Hải Thuỷ tại sao không viết một tác phẩm cho nó “nguyên chất”. Các bác tài hoa thế, sao lại cứ phóng tác mà không viết nguyên quyển cho mình nhỉ ?

HHT: Tôi làm phóng tác cho các báo túi bụi còn chưa xong. Thì giờ, tâm trí đâu mà làm một sáng tác để đời. Chuyện này cũng là một đề tài cần viết dài. Tôi sẽ viết vài bài riêng trả lời vài câu hỏi tôi không trả lời được trong bài phỏng vấn này. Khi có bài, tôi sẽ gửi Gio-o trước. 

LTH:  Trong việc thông dịch cho người Mỹ, có lúc nào bản dịch của ông bị người Mỹ sửa không?

HHT: Tôi toàn làm việc dịch bài tiếng Anh sang tiếng Việt. Các Sở Mỹ có ban chuyên viên dịch bài tiếng Việt sang tiếng Anh. Tôi ở trong ban làm Tạp Chí Triển Vọng tiếng Việt. Có tài liệu tiếng Việt nào cần dịch sang tiếng Anh, tôi đưa sang Ban Dịch.

LTH:  Thời điểm trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông có cơ hội di tản sang Hoa Kỳ? Tại sao ông không di tản ?

HHT: Tôi chạy không kịp. Chiều ngày 29 Tháng Tư 1975, vợ con tôi có tên trong danh sách nhân viên USIS lên Tân Sơn Nhứt chờ phi cơ đón đi, tôi và một số nhân viên Việt phải ở lại làm việc sở. Lúc 6 giờ tối ngày 28 phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Cuộc di tản bằng phi cơ ngừng. Những phi cơ Mỹ từ Guam bay sang nửa chừng bay về. Ðêm 28 Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu ra lệnh trên đài phát thanh: “Yêu cầu tất cả nhân viên Mỹ ra khỏi VN trong 24 giờ.” Nghe tin ấy tôi nói với vợ tôi: “Mình đi không được rồi, em ơi. Bọn Mỹ còn ở đây, may ra nó còn đưa mình đi. Nay nó bị đuổi, mình hết đường.”

LTH:  Thời gian ở tù của ông. Ông phải làm những việc gì  để giữ được ông vẫn là ông?

HHT: Tôi chẳng làm gì cả. Như anh em tù, tôi chịu khổ như anh em.

LTH:  Họ có bắt ông kê khai những công việc của ông đã làm với chế độ Miền Nam trước 1975 nhiều không?

HHT: Tôi có làm gì trong chính quyền VNCH đâu. Họ có bắt tôi khai công việc tôi làm ở USIS. Chẳng có gì tôi phải dấu hay khó khai.

LTH:  Tại sao Việt Cọng gọi ông là “Biệt Kích Văn Hoá Nguy Hiểm” vậy?

HHT: Chắc tại vì anh em chúng tôi viết và gửi ra nước ngoài một số bài diễn tả cuộc sống khổ cực của người dân Quốc Gia VNCH trong gông cùm của bọn Bắc Việt Cộng.

LTH:  Lúc ở tù ông bị đối xử như thế nào ?

HHT: Như 20 triệu công dân Quốc Gia VNCH bị bọn Bắc Cộng giam tù. Không có gì khác.

LTH:  Ông làm thơ hay viết ở trong tù như thế nào ? Ông dùng cách nào để giữ lại ?

HHT: Như mọi người tù làm Thơ trong Tù. Ban đêm làm Thơ, ghi nhớ trong óc. Ghi nhớ thật kỹ. Làm 4 hay 6 câu, ngừng lại ghi nhớ mấy câu đó. Nhớ kỹ rồi làm nhẩm tiếp. Ðêm nào cũng ôn lại. Tôi làm những bài Tại Ngục Vịnh Kiều trong năm 1988 tôi ở trong Nhà Tù Chí Hoà. Có những bài dài 100 câu lục bát mà tôi nhớ hết. Năm 1989 tôi lên Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, có giấy bút tôi ghi những bài thơ của tôi xuống giấy – tất nhiên cũng phải ghi lén, mắt trước, mắt sau – khi vợ tôi lên trại thăm tôi, tôi đưa tập thơ cho vợ tôi mang về. Thế là tôi quên những lời Thơ ấy. Tôi gửi được những bài Thơ trong Tù của tôi sang Mỹ. Năm 1995, ở Kỳ Hoa, tôi viết lời bình loạn những bài thơ ấy, làm thành tập Tại Ngục Vịnh Kiều, Nhà Làng Văn Canada xuất bản.

LTH:  Lúc ở trong tù ông tuyệt vọng  những điều gi? Ông tuyệt vọng điều gì nhất ?

HHT: Chắc tôi như anh em cùng tù. Chẳng có hy vọng gì nên  cũng chẳng có gì để tuyệt vọng. Tất nhiên là mong sống để có ngày trở về với vợ con, với mái nhà xưa, nhưng nếu có chết trong tù cũng là chuyện thường.

LTH:  Sau 1975 ông có dịp nào tiếp xúc với Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc ? Có những chuyện nào hay những nhân vật nào đáng kể ?

HHT: Tôi không thích gặp bất cứ người làm văn nghệ miền Bắc nào. Tôi chỉ có cảm tình, và trọng một người : Nguyễn Chí Thiện.

LTH:  Ông nghĩ một nhà văn nên tham dự những vấn đề chính trị hay xã hội đến đâu?

HHT: Tôi nghĩ “Việc của Nhà Văn là Viết.”

LTH:  Giới nhà văn, nhà thơ, ca nhạc sĩ của Miền Nam  thời kỳ 1955- 1975 được thoải mái tự do viết, tự do ăn chơi, nên ít chu toàn bổn phận công dân của  Miền Nam Việt Nam Cọng Hoà ? Ðó cũng là 1 trong những lý do làm cho Miền Nam Việt Nam Cọng Hoà sụp đổ. Trong khi ở Miền Bắc Cọng Sản 1945-1975 thì giới sáng tác bị đóng khuôn thành Ðồng Chí Cọng Sản cả. Họ bị tước đoạt quyền sáng tác, chỉ sáng tác để phụng sự bổn phận công dân của Miền Bắc Việt Cọng Chủ Nghĩa, nên Miền Bắc Việt Cọng Chủ Nghĩa đã đánh chiếm được Miền Nam Tự Do Chủ Nghĩa. Nếu cho ông làm lại, và làm trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị Miền Nam Tự Do Chủ Nghĩa, ông sẽ làm lại như thế nào ?

HHT: Không có chuyện “Nếu..” như thế. Làm sao người lảng xẹt về mọi mặt như tôi mà làm công tác Chiến Tranh Chính Trị được.

LTH:  Nói về Trịnh Công Sơn, một đỉnh điểm điển hình cho một công dân sáng tác đóng góp vào việc làm mất Miền Nam vào tay Miền Bắc. Tôi nghe một cuộc phỏng vấn trên một đài truyền hình trên net, bà Ðặng Tuyết Mai vợ phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ kể lại bà cho mời ông Trịnh Công Sơn vào  hát nhạc tình ca và bắt tay với nhau khen nhau này nọ trong dinh thự ông Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ. Rồi chính ông Trịnh Công Sơn ra ngoài làm nhạc Phản Chiến nhiều hơn ai hết. Thời ấy mấy ai dám làm nhạc Phản Chiến đĩnh đạc và được sống sốt như ông Trịnh Cộng Sơn. Phản Chiến là phong trào Quốc Tế. Tôi nghe nói có lúc chính quyền Miền Nam đòi bắt ông Trịnh Công Sơn, nhưng Người Mỹ không cho. Rồi tôi lại nghe ông Trịnh Công Sơn theo VC với những người thân và bạn thân của Nhóm Huế của ổng theo fò VC  tối đa, đến độ VC về Sài Gòn năm 1975 là Trịnh Công Sơn nhào ra hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên Ðài Phát Thanh Sài Gòn. Tôi cũng mê nhạc Trịnh Công Sơn, mê chết đi được. Nhưng thú thật, ở một cương vị cá nhân bị mất mát quá nhiều vì chiến tranh, tôi cũng phải nhìn lại cuộc chiến với suy tư để tự đi tìm cho mình một lời giải thích.  Tôi muốn hỏi ông một câu ông nghĩ sao về trường hợp của Trịnh Công Sơn?

HHT:  Tôi khinh anh ta.

LTH:  Ông ở lại Việt Nam sau khi người Việt Cộng Miền Bắc nhuộm Cộng Sản hết cả nước Việt Nam từ 1975 cho đến năm nay 2011, theo ông sự tàn phá nào khủng khiếp nhất mà người Việt Cộng và Hồ Chí Minh đã mang đến cho xã hội Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay.  Di sản tồi tệ nào nhất mà chủ nghĩa Việt Cộng đã để lại ở Việt Nam ?

HHT: Tôi xin không trả lời câu hỏi này.  Tôi đã viết về tình trạng ấy trong nhiều bài Viết ở Rừng Phong.

LTH:  Ông là người đầu tiên đặt lại vấn đề giá trị và tư cách của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Ðộng lực nào ?

HHT: Chỉ vì Sự Thật.

LTH:  Ông  nghĩ gì về những nhóm nhập nhằng nửa chính trị nửa văn chương Việt Nam như Nhân Văn Giai Phẩm, Sáng Tạo, Talawas đều là những trò chơi political warfare của Mỹ hoặc của các thế lực quốc tế khác trên các nhà văn Việt Nam ?

HHT: Tôi chẳng bao giờ bận trí về những chuyện được hỏi trên đây

LTH:  Cùng một thời có một người gốc Bắc Di Cư nổi tiếng là nhờ những phóng sự có tính trào phúng là Phan Nghị. Sau khi được cử sang dự hoà đàm Paris, sau đó trở về Việt Nam thì không chống cộng nữa, và kêu gọi hoà giải. Ông so sánh lại thì cũng là một người lạc quan thì đi ngược lại kiểu của ông . Ông nghĩ tại sao lại có sự khác biệt như vậy?

HHT: Làm gì có chuyện Phan Nghị “kêu gọi hòa giải?”

LTH:  Giai đoạn tù đày ? Ông ở tù bao nhiêu năm ?

HHT: Tôi bị bắt đi tù 2 lần, Lần 1 tù 24 tháng, kéo dài trong 3 năm 1976, 1977, 1978. Lần tù thứ hai 6 năm, từ 1984 đến 1989.

LTH:  Lúc ở trong tù ông nghĩ gì về người Mỹ ?

HHT: Chán ngấy.

LTH:  Họ có tìm cách cứu ông ?

HHT: Không. Tôi là cái thá gì mà họ lo cứu tôi.

LTH:  Ông hiểu gì về nước Mỹ.

HHT: Lơ mơ như nhiều người Việt cùng tuổi tôi.

LTH:  Ông hiểu gì về người Mỹ ?

HHT: Rất lơ tơ mơ.

LTH: Người Mỹ đã bỏ rơi Miền Nam. Ông có oán hận họ không?

HHT: Không.

LTH:  Hồi cuối tháng 10 năm 2010, trong một cuộc hội thảo tại bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở DC, cựu bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Henry Kissinger lần đầu tiên thú nhận công khai rằng Việt Nam Cộng Hoà bị mất là do Hoa Kỳ bỏ rơi. Ông có oán hận gì người Mỹ không ?

HHT: Không.

LTH:  Ông nghĩ gì về vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong tương lai?

HHT: Tôi chẳng nghĩ gì cả.

LTH:  Tại sao cuối đời ông mới làm thơ ?  Bài thơ sáng tác nào của ông mà ông thích nhất?

HHT: Tôi làm thơ từ năm tôi 17 tuổi. Sau năm 20 tuổi, tôi không làm thơ vì tôi không phải là thi sĩ. 30 tuổi tôi bận làm, đọc, viết, ăn chơi, thì giờ, tâm trí đâu mà tôi làm thơ. Lại thêm cuộc sống của tôi phơi phới, có gì buồn sầu, đau thương đâu mà tôi thơ với thẩn. Sau 1975 như 30 triệu người VNCH làm thơ, tôi làm thơ. Vật bất kỳ bình tắc minh. Vật bình làm sao vật minh. Còn Thơ tôi bài nào Hay thì lúc tôi thấy bài này hay, lúc tôi thấy bài kia hay. Thấy hay theo tâm trạng của tôi lúc ấy.

LTH:  Alice? Tại sao ông lại cho Alice đi vào thơ văn, một fictional character từ chính tên của người vợ ông ? Tại sao không là một tên nào khác?

HHT: Bài Thơ nào tôi làm riêng cho vợ tôi, tôi để tên nàng vào bài.

LTH:  Bây giờ ở trên blog https://hoanghaithuy.wordpress.com/  ông chống Cộng và chống nhiều thứ kịch liệt ? Ông nghĩ gì khi làm những chuyện như thế  ở thời điểm này của ông? Ðể làm gì ?

HHT: Tôi làm những việc tôi làm vì tôi thấy tôi có bổn phận làm những việc đó.

 LTH:  Một ngày của ông hiện nay sinh hoạt như thế nào ?

HHT: Như một ông già có tật “nghiện computer.” Tôi thấy tôi nghiện computer như người nghiện thuốc phiện: Người nghiện hút cả ngày quanh quẩn bên bàn đèn, người nghiện computer cả ngày quanh quẩn trước dàn computer. Tôi sẽ viết một bài về hai cái Nghiện này.

LTH:  Ông xử dụng computer vào những việc nào ? Ông có xem youtube thường không ? Ông có gia nhập Facebook không ?

HHT: Tôi chỉ viết và tìm đề tài để viết. Tôi không xem youtube, Facebook lại càng không có tôi.

LTH:  Ông nghĩ gì về vai trò của internet và sáng tác ?

HHT: Người thích viết như tôi mà viết trên Internet là Nhất, Sướng Nhất. Ông Tầu Kim Thánh Thán không có cái lạc thú này. Lại hưá tôi sẽ viết một bài về Nghiện Computer và Sướng Viết Computer. Cũng xin kính báo với quí vị đọc những dòng này: Tôi hưá nhiều, tôi thường hưá loạn cào cào  nhưng tôi là Hội Viên Hội Hứa Lèo Quốc Tế, cho nên đôi khi tôi có bổn phận làm theo tôn chỉ của Hội. 

LTH:  Làm cách nào để vẫn yêu đời và vẫn viết dào dạt khi người ta qua tuổi 70 ?

HHT: Trời cho, Chuá cho. Làm gì có cách nào.

LTH:  Ông có nghĩ là nhờ bản chất lạc quan về cuộc đời mà ông sống sót qua được những biến đổi lịch sử?

HHT: Tôi có lạc quan hay can đảm gì đâu. Tôi bản tính yếu sìu – Tử vi là Âm Nam: Ðàn ông mà tính nết như đàn bà – tôi không cương quyết, tôi dễ thay đổi quyết định, tôi không lo xa,  khi có việc rắc rối là cuống lên, sợ.  Tôi có tật “Cả nể.” Không thích làm việc đó mà nể người ép vẫn cứ làm. Làm rồi bực tức. Tôi mềm như bún thiu, như cơm vữa.

Cám ơn Gió-o và bà Lê Thị Huệ

LTH: Cám ơn nhà văn Hoàng Hải Thủy

Lê Thị Huệ thực hiện 2011

bar_divider

Hoàng Hải Thủy:

Tôi nhớ lại những buổi sáng năm xưa tôi trở dậy trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, xương cốt mỏi rừ vì nằm co quắp trên bệ xi-măng, ngồi trong vùng sáng mờ từ bên ngoài lọt vào qua ô cửa gió – ô cửa gió trên cửa sắt sà-lim nhỏ bằng quyển sách –  ca nước lạnh để trước mặt, thèm ly cà-phê nóng, thèm khói thuốc lá.., tù không biết ngày nào được trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng những buổi sáng sà-lim ấy tôi không buồn, không tuyệt vọng… như những buổi sáng năm nay tôi sống an ninh ở xứ Mỹ.

Đây là bài thơBuồn tôi làm ở Sài Gòn năm 1976.

Năm 1976 vợ chồng tôi líu ríu sống bên nhau trong căn nhà nhỏ trong xóm nhà được gọi là Cư Xá Tự Do – cư xá ở giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền.

Như cánh lá vàng sau trận cuồng phong
Anh rạt về đây, xóm hẹp, người đông.
Nhà Em, nhà Anh cách hai thước ngõ
Những chiều mưa buồn nước ngập như sông.
Em đứng não nùng trước dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con đợi trông.
Anh đứng võ vàng sau khung cửa sổ
Như người tù nhìn trời qua chấn song.
Anh đứng trông mây, Em đứng trông chồng.
Vắng chồng con bế, con bồng, Em mang.
Cái bống là cái bống bang.
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Tiếng ru hờ, tiếng khóc ơ
Vương trên khung cửa bây giờ tang thương.
Đìu hiu cuối ngõ, cùng đường.
Bên Anh tuyệt vọng, đoạn trường bên Em.
Ngày qua ngày, đêm theo đêm
Ngày rơi tàn tạ, đêm chìm phôi pha.
Buồn từ trong cửa buồn ra
Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.
Ta đang sống, ta đang mê,
Hay ta đang chết não nề, Em ơi ?

bar_divider

HOÀNG HẢI THỦY
Người viết: NGUYỄN ĐÌNH TOÀN

VIET TIDE Số 389. Ngày 26 Tháng 12, 2008

Hoàng Hải Thủy là một trong những nhà văn đã nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông nổi tiếng trước nhất như một người viết phóng sự, sau đó, như một dịch giả và một người viết tạp văn.

Từ tạp văn ở đây hiểu theo nghĩa, gặp gì viết nấy, trộn lộn cả phóng sự, văn chương, trích dẫn thi ca, âm nhạc, những ngôn ngữ do ông sáng tạo, bịa đặt ra.

Cái cách viết của ông có thể có nhiều người không thích. Nhưng khi người ta nói không thích cách đùa cợt trớt nhả của ông, có nghĩa là người ta đã đọc ông rồi.

Có phải như vậy chăng?

Phải công nhận rằng, tất cả những gì Hoàng Hải Thủy viết , đều có một sức hấp dẫn, dù nó được ký tên Hoàng Hải Thủy hay Công Tử Hà Đông. Đang viết bình thường, ông thêm vào một chữ “vưỡn“, “em vưỡn yêu anh, mí nị em thơm như múi mít.” Trong ngôn ngữ miền Bắc của chúng ta, hai từ “mí nị“, cũng có người nói là “mí lỵ” là hai tiếng “mới lại” được phát âm trẹo đi. Hoặc, những tiếng “ê, a” không có nghĩa gì, nhấn mạnh vào những chữ ấy chỉ để chê bai, chọc quê. Nghe một người con gái nói: “Em vưỡn yêu anh” thì có lẽ không anh nào dám tin đó là sự thật. Cái phần sự thật có thể có đó, so với cái phần sự thật có thể không trong câu nói nghiêm chỉnh hơn “Em vẫn yêu anh” có gì khác.

Các bông đùa của Hoàng Hải Thủy luôn ở trên lằn ranh vui buồn, thật giả đó.

Đọc “Sống và Chết ở Sài Gòn” người ta được biết những chuyện liên quan tới một số văn nghệ sĩ, trí thức, như Vũ Hoàng Chương, Thượng toạ Trí Siêu ( Lê Mạnh Thát ), Thanh Nam, Vũ Bằng, Duyên Anh, Thái Thủy, Mai Thảo, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn, Uyên Thao.. .., về Trại Giam Phan Đăng Lưu, nơi Hoàng Hải Thủy đã trải nhiều năm tù.

Chương Hoàng Hải Thủy kể lại những năm tù ở Trại Phan Đăng Lưu với nhiều tù nhân khẳng khái được Nhà văn Đặng Trần Huân coi là một chương tuyệt tác.

Người ta nhớ lại những năm sau 1975, hầu hết các văn nghệ sĩ ở Sài Gòn cũ, đều bị bắt giam.

Hoàng Anh Tuấn sau khi được thả, đã được thân nhân bảo lãnh ra khỏi nước. Hoàng Hải Thủy có mấy câu thơ gửi Hoàng Anh Tuấn được các bằng hữu của ông thỉnh thoảng nhắc lại:

Hai chuyến xe hoa về đất mẹ,
Bây giờ xa-lộ sáng đèn chưa ?
Ở đây thì chán, đi thì nhớ,
Sài Gòn mưa mà Mỹ cũng mưa.


Hẳn nhiều người đều biết Hoàng Anh Tuấn ngoài việc làm thơ còn là một đạo diễn điện ảnh. “Hai Chuyến Xe Hoa” “Đất Mẹ” và “Xa Lộ Không Đèn.” Hoàng Hải Thủy nhắc trong bài thơ tên những cuốn phim Hoàng Anh Tuấn đã thực hiện.

Sống và Chết ở Sài Gòn được viết theo kiểu tùy hứng, nhớ đến đâu viết đến đấy.

Chương ông viết về việc ông bỏ lỡ chuyến di tản năm 1975 là một chuyện cười ra nước mắt.

Khi đó, Hoàng Hải Thủy đang làm việc cho USIS tức Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Trước ngày 30/4 ông Giám đốc USIS cho biết sẽ cho nhân viên đi nhưng con trai các nhân viên phải dưới 17 tuổi mới được đi theo bố mẹ. Nhân viên phàn nàn, ông nói ông phải làm theo lệnh của chính phủ Việt Nam, không thể làm trái luật pháp, cũng không thể nhận diện em nào trên hay dưới 17 tuổi. Ngay lúc đó Hoàng Hải Thủy thật thà không hiểu câu nói của ô. Giám đốc Alan Carter, ý ông muốn bảo “các anh cứ khai các con anh 16 tuổi chứ tôi có cần các anh chứng minh đâu“. Y hệt như câu thơ của T.T.K.H, “đến khi tôi hiểu thì tôi đã” muộn mất mấy chục năm rồi.

Trong cuốn sách Hoàng Hải Thủy có nhắc đến cái chết của các nhà văn Vũ Bằng, Nguyễn Mạnh Côn, nhà báo Minh Vồ, nhiều chi tiết về những năm đen tối, khốn khổ sau 1975 mà người dân miền Nam đã phải trải qua.

Được biết cuối năm 2002 nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội/Hà Nội đã cho xuất bản cuốn “Hai Mươi Nhăm Năm Một Vùng Tiểu Tuyết” ý muốn nói tiểu thuyết ở miền Nam, nội dung đề cập tới tiểu thuyết miền Nam từ 1887 tới Hồ Biểu Chánh rồi nhẩy vọt qua tiểu thuyết từ 1975 đến 2000 đề cao những tác giả cộng sản nhất là các tác giả từ miền Bắc vào. Tất cả văn học miền Nam ( từ 1954-1975 ) không có một dòng.

Nhà văn Đặng Trần Huân viết: “Với chủ trương rõ ràng của nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam hiện nay như thế, thử hỏi nếu không có những bộ sách như Văn Học Miền Nam của Võ Phiến hay những tạp bút như Sống và Chết ở Sài Gòn thì sau này lấy đâu ra tài liệu về văn học và đời sống của văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hoà ? Ta phải cám ơn Võ Phiến, cám ơn Hoàng Hải Thủy đã giúp ta tài liệu để còn nhớ không quên những văn nghệ sĩ một thời sáng chói, dù nhớ cách nào đi chăng nữa.”

Các văn nghệ sĩ của chúng ta sống ở miền Nam trước 1975, cho đến nay, đã mất đi nhiều lắm. Người chết trong tù, chết trong nước, người chết già, chết bệnh, người chết nơi xứ lạ, quê người, số còn lại e rằng ít hơn số đã mất.

Và, trong số những người còn lại, Hoàng Hải Thủy là người duy nhất cho đến nay vẫn viết và viết được một cách đều đặn. Cách viết của ông gần như không có gì thay đổi, pha trộn văn chương với phóng sự, nửa đùa, nửa thật. Nhưng với cái nhìn sâu sắc của người đã ở ngoài cái tuổi “cổ lai hy”, đọc ông, người ta có cảm tưởng mọi sự trên đời đều hình như lúc nào cũng có hai mặt, một mặt bi thương và một hài hước.

Nói đến mọi sự trên đời, bởi vì, Hoàng Hải Thủy đề cập tới rất nhiều chuyện trong các bài viết của ông, bằng hữu, nghề nghiệp, kỷ niệm, tình yêu, chính trị, thời sự, tù đầy, cảm khái trước cái đẹp của thiên nhiên, thời tiết, kiếp sống tha hương.

Loạt bài mới nhất của ông cho đăng trên các báo chí gần đây, những phê phán chua chát của ông đối với chế độ cộng sản, sách báo của các tác giả ở trong nước và những người ông cho là đến bây giờ vẫn còn bị cộng sản mà mắt, được rất nhiều người đọc. Dù có cùng quan niệm với ông hay không, người ta vẫn thấy ở ông một tấm lòng thiết tha với đất nước, yêu cái đẹp, yêu sự thật.

Tập Đất Hồ Ngàn Năm của Hoàng Hải Thủy cho xuất bản mới đây gồm tám đoản văn: Huyền thoại Vương Chiêu Quân, Giang Tả Cầu Hôn, Rồng Nằm, ngựa chạy, Sự Tất Như Thử, Trăm Năm Binh Lửa, Thơ và Sự Khốn Cùng, Mơ Ngày Về Vẽ Lông Mày, Thiên Long Tình Sử.

Hoàng Hải Thủy cho biết ông bắt chước ông Lê Quý Đôn ghi lại những chuyện hay hay đọc được cùng với những suy luận, những nhận xét của mình.

Qua cuốn sách người ta được biết thêm một Hoàng Hải Thủy rất yêu thơ, đọc rất nhiều thơ Đường, dịch nhiều thơ Đường và còn có thể làm thơ bằng chữ Hán nữa.

Đoản văn về “Thơ và Sự Cùng Khổ” của Hoàng Hải Thủy gây nhiều xúc động trong lòng độc giả. Hoàng Hải Thủy viết đoản văn này sau khi đọc một bài thơ của Nguyễn Du trong “Bắc Hành Thi Tập”, chắc Nguyễn Du đã sáng tác trong chuyến đi sứ sang Bắc Kinh và qua nơi có ngôi mộ Đỗ Phủ.

Thi hào Đỗ Phủ trong một chuyến đi xa đã nhuốm bệnh và chết trên một con thuyền trên sông Tương. Vì nhà nghèo, vợ con không đưa được ngay di hài ông về quê nhà, phải tạm chôn ở Nhạc Châu. Bốn mươi năm sau, người cháu của Đỗ Phủ là Đỗ Tư Nghiệp mới rời được hài cốt Đỗ Phủ về Yểm Sư, mai táng trên núi Thú Dương, thuộc Hà Nam.

Tuy vậy ở Lỗi Dương vẫn có ngôi mộ giả của Đỗ Phủ do viên Huyên lệnh Lỗi Dương họ Nhất xây để tưởng niệm nhà thơ lớn.

Người Hoa ngày xưa thường xây những ngôi mộ giả các nhân vật họ kính trọng.

Đỗ Phủ thơ hay tuyệt thế nhưng suốt đời nghèo khổ, nghèo đến độ không nuôi nổi vợ con và thân mình, để đến nỗi một người con nhỏ của ông phải chết vì thiếu ăn.

Nguyễn Du đặt câu hỏi, ông (Đỗ Phủ) cùng khổ đến thế phải chăng vì thơ ? Phải chăng ta có thể quy tội làm ông khổ là thơ ?

Chính Đỗ Phủ khi nhớ tới Lý Bạch, nhớ tới Khuất Nguyên tự trầm mình ở sông Mịch La đã than thở: “Làm thơ hay như Khuất Nguyên, như Lý Bạch mà cuộc đời khổ sở đó là vì văn chương ghen ghét những người mệnh đạt. Văn chương không cho những người làm thơ được thành công trong đời.”

Bàn về thơ và sự cùng khổ Âu Dương Tu, một danh sĩ khác của Trung Quốc viết: “Không phải thơ làm người ta cùng khổ. Chính vì người làm thơ có cùng khổ thơ của người đó mới hay.”

Đỗ Phủ nói: “Văn chương ghét mệnh.”

Nguyễn Du cho rằng: “Làm gì có chuyện văn hương ghét mệnh. Làm gì có chuyện trời ghen với người.”

Nhưng trong truyện Kiều Nguyễn Du lại viết :

Lạ gì bỉ sắc, tư phong.
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.


Hoàng Hải Thủy viết: “Đây không phải một điều mâu thuẫn trong quan niệm về nhân sinh của thi sĩ. Không phải Nguyễn Du bất nhất trong quan niệm của ông về đời người. Ý thức của chúng ta rất phức tạp, đa dạng. Nguyễn Du tất nhiên là phức tạp hơn người thường.”

Hoàng Hải Thủy lấy trường hợp của ông để nói thêm về câu hỏi được nêu ra: Thơ có làm cho người làm thơ phải khổ sở không ?

“Viết tiểu thuyết từ năm 25 tuổi, có thể nói tôi suốt một đời yêu thương, gắn bó, sống chết với việc viết truyên. Với tôi, viết là hạnh phúc. Tôi đã sống để viết, viết để sống và trước năm 1975, tôi đã sống được với việc viết truyện của tôi. Trước 1975, ở Sài Gòn, Thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng hòa của tôi, trong hai mươi năm, tôi đã sống để viết và đã viết để sống. Sau 1975, tuy biết viết là tù tội, tôi vẫn viết. Dù vậy tôi vẫn không thể trả lời thỏa đáng câu hỏi: “Thơ có làm cho người làm Thơ cùng khổ hay không ?”

Tôi thấy Nguyễn Du đúng khi thi sĩ nói: “Chữ tài liền với chữ tai một vần.”, “ngu si hưởng thái bình.”

Người có tài thường gặp tai họa. Chuyện đó tôi thấy thường xẩy ra trong đời và trong thời loạn.

Tôi chịu câu nói của Âu Dương Tu: “Thơ không làm cho người làm thơ cùng khổ. Chính vì có cùng khổ thơ mới hay.”

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN

bar_divider

  VỀ QUÊ …

… Tìm quên trên Net, tôi thấy Lời Nhạc AnimatedNotesTình Khúc Thứ Nhất của Nguyễn Đình Toàn.

Những năm 1970 ngôn ngữ người Sài Gòn có tiếng “Về quê” gọi thay cho tiếng Chết. “Ông ấy về quê dzồi.” Nghe nhẹ hơn, đỡ buồn hơn “Ông ấy chết dzồi.”

Tiếng “Về quê” ở trong Lời Nhạc Tình Khúc Thứ Nhất.

Tiếng “Về quê” từ trong lời bản Nhạc Tình Khúc Thứ Nhất đến trong ngôn ngữ người Sài Gòn.

TÌNH KHÚC THỨ NHẤT

Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy
Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say
Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời
Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền
Dù Trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường
Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm Tình Yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế.

*
Ngày về quê xa lắc lê thê….

Tôi không nhớ tôi gặp Nguyễn Đình Toàn lần thứ nhất ở đâu, bao giờ. Chỉ nhớ là tôi biết Toàn khoảng năm 1960. Biết nhau là mày tao ngay.

Vào những ngày cuối năm 1975, đầu năm 1976, Sài Gòn có phong trào nuôi thỏ. Vì không có việc gì làm, người ta bầy ra trò nuôi thỏ cho qua thì giờ. Một hôm – cũng không có việc gì làm – buồn quá tôi đạp xe sang Làng Báo Chí.

Nguyễn Đình Toàn bận bộ quần áo nâu, đội nón lá, cắt cỏ trong bãi cỏ đầu làng. Toàn cắt cỏ đem về nuôi thỏ.

Ghé xe gặp bạn ngay bên đường, Toàn nói:

“Mày xem. Cả năm nay tao không được ăn miếng thịt bò, mà tao cắt cỏ bị liềm xén vào tay, mất cả nửa lít máu. Còn gì là tao nữa.”

Phong trào Nuôi Thỏ ở Sài Gòn sống bệu nhệch được năm, sáu tháng là chết ngỏm.

Tháng Bẩy 1976 Toàn và tôi đi dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho Văn Nghệ Sĩ Sài Gòn, khóa học do bọn ở cái gọi là Hội Văn Nghệ Sĩ Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức.

Nhà Toàn ở Làng Báo Chí. Buổi trưa Toàn không thể đạp xe về nhà ăn cơm, ăn xong lại đạp xe đến lớp, tôi rủ Toàn:

“Trưa về nhà mẹ tao ăn cơm với tao.”

Nhà tôi ở trong Cư Xá Tự Do, giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền. Nhà mẹ tôi ở đường Trần Quốc Toản, từ nơi học ở trong vi-la nơi Ngã Tư Trương Minh Giảng – Tú Xương tôi về nhà mẹ tôi gần hơn.

Có buổi trưa ngồi chờ giờ trở lại lớp, Toàn cầm cây đàn của con tôi, nhẹ tay đàn, hát nhẹ đôi câu, mẹ tôi nói;

“Nhạc của ông buồn quá.”

Toàn nói với tôi:

“Tao là thằng nhạc sĩ lỡ.”

Cùng dự Khóa Bồi Dưỡng với chúng tôi có Cao Nguyên Lang. Cao ký giả cũng có nhà trong Làng Báo Chí.

Toàn bảo tôi:

“Mày gọi nó là Cao Khoai Lang.. Cái tên hay đấy..”

Toàn kể chuyện:

Trong Làng Báo Chí có phòng họp. Trên tường phòng họp này có trưng ảnh Bác Hồ. Bọn nhóc trong làng bôi c.. lên miệng Bác Hồ. Cả tháng sau dân làng mới thấy. C.. trên mồm Bác Hồ đã khô nhưng vẫn còn đấy. Tất nhiên là dân làng vội hạ ảnh Bác xuống.

May mà thằng công an khu vực chưa kịp biết.

Cùng thời gian ấy, khoảng năm 1977, 1978, vì đói, một số em trai trong Làng lén gỡ tôn trên mái những căn nhà không người ở trong làng, gỡ đem đi bán. Trong số những em này có con của Cao Nguyên Lang.

Bị dân làng dọa:

“Ông không ngăn con ông gỡ trộm tôn, chúng tôi sẽ cho công an khu vực biết.”

Cao Nguyên Lang nói:

“Mấy ông, mấy bà cứ cho công an biết con tôi gỡ trộm tôn đi, tôi sẽ cho công an biết con mấy ông, mấy bà bôi c.. lên mồm Bác Hồ.”

Đấy là chuyện Nguyễn Đình Toàn kể, tôi nghe.

Thi sĩ ơi… Ông viết câu Thơ trên năm 1970. Năm ấy, năm 1970,  ông Bốn Mươi tuổi, ông thấy ngày ông Về Quê xa lắc xa lơ. Đúng thôi.

Năm nay 2015 – 45 mùa thu vàng ấm đã qua đời ông, đời tôi,  tôi chắc ông thấy rõ hơn ai hết là:

“Ngày Về Quê..” của ông, của tôi, không còn xa lắc nữa…

Chỉ có chuyện chúng ta chưa biết là ông sẽ về quê trước tôi, hay tôi sẽ về quê trước ông.

“Về quê” và “đi tầu suốt” đồng nghĩa.

Tôi có Thơ:

Đi trước, đi sau

Chưa biết thằng nào trước thằng nào.
Thằng nào đi trước, thằng nào sau.
Không thằng nào nói: “Tao đi trước.”
Không thằng nào nói: “Tao đi sau.”
Đi sau, đi trước cùng đi cả
Thằng thì đi trước, thằng đi sau.
Thằng đi sau lậy thằng đi trước.
Thằng đi trước kệ thằng đi sau.
Đi sau, đi trước cùng đi cả
Théc méc làm chi chuyện trước sau.


HOÀNG HẢI THỦY

bar_divider

Nhà Văn Hoàng Hải Thủy “Vĩnh Biệt Rừng Phong”!

**  Vương Trùng Dương **


Nhà văn Hoàng Hải Thủy tên thật là Dương Trọng Hải vừa qua đời ngày 6 tháng 12 tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Hưởng thọ 88 tuổi. Ông là nhà báo, nhà văn viết mạnh nhất với nhiều thể loại trong gần 7 thập niên qua với các bút hiệu: Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn…

Tiểu sử Hoàng Hải Thủy được tác giả tóm lược: “Năm 1950 tôi từ Bắc Ninh, Bắc Giang trở về Hà Nội. Tôi đi học lại. Trường Văn Lang. Năm 1951 ông thân tôi là công chức, đổi vào làm việc ở Sài Gòn, mẹ tôi, anh em tôi vào theo. Năm 1951 tôi học trường Tân Thanh ở đường Lacoste. Năm 1952 tôi được vào làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, cuối năm 1952 tôi được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn năm 1952 của nhật báo Tiếng Dội. Tôi đi lính 2 năm. Năm 1954 tôi làm phóng viên, nhân viên nhật báo Sài Gòn Mới. 1956, 1957 tôi làm nhân viên USOM – United States Operation Mission – tiền thân của USAID. Cuối năm 1957 tôi trở về toà báo Sài Gòn Mới. Tôi viết tiểu thuyết phóng tác dzài dzài từ 1956 đến 1975, tôi viết truyện nhiều nhất ở nhật báo Ngôn Luận.

Năm 1970 tôi giữ một trang trong tuần báo Con Ong, tôi cần một, hai bút hiệu Tếu để viết những bài kiểu viết láo mà chơi. Cái tên HHT dành để viết tiểu thuyết. Tôi lấy 2 tên Công Tử Hà Đông và Gã Thâm để ký 2 bài tôi viết trên Con Ong…”

Sau 2 lần bị tù (1977-1979) vì tội gửi một số bài thơ, bài viết sầu buồn ra nước ngoài & (1984-1990) vì tội gửi tác phẩm ra nước ngoài! Năm 1994, vợ chồng ông và 2 cô con gái sang Hoa Kỳ tỵ nạn, định cư ở Virginia, con trai út Hải Triều ở lại Sài Gòn. Sau nầy Kiều Giang ở Texas và Hoài Nguyên và Ohio nên chỉ có hai vợ chồng sống bên nhau nơi rừng phong.

Ngày mới đến Hoa Kỳ, theo lời nhà văn HHT “Tôi mang Sài Gòn trong trái tim tôi… Tôi muốn nói tôi yêu Sài Gòn, tôi đã sống đến bốn mươi năm trong lòng thành phố Sài Gòn thương yêu, tôi đã vui buồn, đã đau khổ với Sài Gòn. Nay phải đi xa, tôi mang Sài Gòn theo tôi nên tôi sẽ không thấy nhớ Sài Gòn!”. Tuy nhiên sau nầy ông đã viết các bài nói lên nỗi nhớ Sài Gòn đến quay cuồng, nhớ da diết, nhớ Sài Gòn hơn Hà Nội vì nơi đó đã tạo nên sự nghiệp cầm bút của ông và nhớ cả tháng ngày đen tối nhất của cuộc đời qua 2 lần tù tội 8 năm! Tác phẩm Sống Chết Ở Sài Gòn, đọc tác phẩm nầy được biết những chuyện liên quan tới một số văn nghệ sĩ, trí thức, như Vũ Hoàng Chương, Thượng Tọa Trí Siêu (Lê Mạnh Thát, Duyên Anh, Thái Thủy, Mai Thảo, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn, Uyên Thao, Doãn Quốc Sỹ, Khuất Duy Trác, Dương Hùng Cường, Hiếu Chân…, nhắc đến cái chết của các nhà văn Vũ Bằng, Nguyễn Mạnh Côn, nhà báo Minh Vồ…, Ông viết tháng ngày ở trại giam Phan Đăng Lưu với nhiều tù nhân khẳng khái được nhà văn Đặng Trần Huân coi là một chương tuyệt tác.

Ở Virginia, với bút hiệu Công Tử Hà Đông “Viết Ở Rừng Phong” hàng tuần tổng cộng 709 bài, khi hiền thê của ông – bà Alice Đỗ Thị Thủy – qua đời ngày 28 tháng 12 năm 2018, tinh thần ông suy sụp, ngưng viết!

Trong hai thập niên ở miền Nam Việt Nam, ngoài các tác phẩm sáng tác, phóng sự… nhà văn Hoàng Hải Thủy nổi tiếng nhất về phóng tác từ tác phẩm nước ngoài với lối hành văn thoáng và sinh động, đôi lúc dí dỏm nên hấp dẫn, lôi kéo, nhân vật được Việt hóa cho dễ nhớ… người đọc mê say từng trang sách.

Điển hình với 3 tác phẩm như tác phẩm Kiều Giang (Jane Eyre của Charlotte Bronté – phóng tác  1963). Ông lấy tên con gái, bé Kiều Giang, lúc đó mới được 6 tháng để đặt tên cho tác phẩm này. Và, bối cảnh xảy ra ở miền Trung VN. Nổ Như Tạc Đạn (Après Moi, Le Déluge của Paul Merwart – phóng tác 1964) cũng với bối cảnh ở Sài Gòn, lời văn ví von, dí dỏm, châm chọc phù hợp với thành ngữ của ta để ám chỉ cho người ba hoa, vung vít, nổ sảng.

Đỉnh Gió Hú (Wuthering Heights của Emily Bronté – phóng tác 1969). Tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Anh Emily Bronté là tác phẩm dịch thuật duy nhất của nhà văn Nhất Linh. Dịch giả cuốn Wuthering Heights từ nguyên tác Anh ngữ phối hợp với bản Pháp ngữ Les Hauts de Hurle-Vent của dịch giả Frédéric Delebecque, đăng trên nguyệt san Tân Phong ở Sài Gòn vào năm 1960.

Nhà văn Emily Bronté là em ruột của Charlotte Bronté nên có nhiều người nhầm lẫn. Nhà văn Hoàng Hải Thủy phóng tác nên có vẻ huyễn hoặc trong khung cảnh bị ám ảnh giữa thực tại và hư ảo.

Theo lời nhà văn Hoàng Hải Thủy: “Tôi viết tiểu thuyết phóng tác là do Chủ Nhiệm Hồ Anh gợi ý. Tiểu thuyết phóng tác thứ nhất của tôi là Chiếc Hôn Tử Biệt, phóng tác A Kiss Before Dying của Ira Levin, truyện này được Giải Nhất về Truyện Detective Mỹ năm 1956, tôi phóng tác thành Chiếc Hôn Tử Biệt đăng trên nhật báo Ngôn Luận năm 1957. Truyện đầu tay, truyện viết thử nghiệm, ăn khách ngay, tức truyện có người đọc và hấp dẫn được người đọc. Từ đó tôi chuyên viết tiểu thuyết phóng tác cho nhật báo Ngôn Luận.

Những tác phẩm khác như: Đi Tìm Người Yêu – The Citadel của A.J Cronin, Vụ Án Họ Trình – The Bellamy Trial, tôi quên tên tác giả, dường như là Francis Isle, Bóng Người Áo Trắng – The Lady in White của Wilkie Collins, Tìm Em Nơi Thiên Đường – My Cousin Rachel của Daphne du Maurier, Anh Gù Nhà Thờ Đức Bà – Le Bossu de Notre Dame của Alexandre Dumas, Đen Hơn Bóng Tối – Cinderella, Người Yêu, Người Giết – La Seconde Souffle của Jose Giovanni.. vv.. và vân vân”.

Ngoài những tác phẩm trên còn có: Tình Đầu (The Apple Tree của Lise Funderburg – phóng tác 1967), Hồng Loan Hồng Ngọc (The Pink Panther của Max Allan Collins – Tiểu thuyết gián điệp 1968), Tiếng Ca Cá Sấu (Never Find Sanctuary của William Faulkner – phóng tác 1968), Tình Nhân Trẻ (Le Jeune Amant của Reboux Paul – phỏng dịch 1969), Yêu Mệt (Le Repos du Guerrier của Lowell Bair – phóng tác 1969), Người Yêu, Người Giết (Le Deuxième Souffle của Rotten Tomatoes – phỏng dịch 1970), Trong Vòng Tay Du Đãng (No Orchid For Miss Blandish của James Hadley Chase – phóng tác 1970), Bẫy Yêu (007 From Russia with Love của Ian Fleming – Tiểu thuyết gián điệp 1970), Hồn Ma Đa Tình (Truyện kinh dị Hitchcock 1970, Giữa Những Người Đã Chết (D’Entre Les Morts – phóng tác 1972), Như Chuyện Thần Tiên (The Scorpion Reef của Charles Williams – phóng tác 1973), Tình Mộng (Vacances Romaines – phóng tác 1973), Người Vợ Ngoại Tình (Madame Bovary – phóng tác 1973), Ngoài Cửa Thiên Đường (Maldonné – phóng tác 1974), Không Tìm Thấy Mộ (007 Never Find Sanctuary – Tiểu thuyết gián điệp 1974), Điệp Vụ Hỏa Cầu (007 Diamond Are Forever Của Ian Fleming – Tiểu thuyết gián điệp 1974), Tiếng Cười Trong Đêm Tối (Laughter In The Dark – phóng tác 1975), Trò Chơi Khủng Bố (The Game of Terror – Tiểu thuyết gián điệp 1975)…

Trong bìa một số tác phẩm không ghi năm: Đi Tìm Người Yêu (The Citadel – phóng tác), Thầy Nô (007 Doctor No – Tiểu thuyết gián điệp), Máu Đen Vàng Đỏ (007 Live And Let Die – Tiểu thuyết gián điệp), Tay Sắt Tay Vàng (007 Goldfinger – Tiểu thuyết gián điệp), Gã Thâm (The Deep – phóng tác), Bóng Người Áo Trắng (The Lady In White – phóng tác), Đen Hơn Bóng Tối (Piège Pour Cendrillon – phóng tác), Trở Về Tội Ác (The Dark Arena – phỏng dịch), Nửa Kiếp Giang Hồ (La Scoumoune – phóng tác), Tình Trong Chiến Hào (Sebastopol của Leon Tolstoi – phóng tác )… Một số tác phẩm nêu trên thuộc loại “feuilleton” cho các nhật báo ở Sài Gòn, chưa ấn hành.

Và sau này có: Tiếng Kêu Của Máu (The Red Dragon – phóng tác 1996), Mang Xuống Tuyền Đài (The Chamber – phóng tác 1998), Dữ Hơn Rắn Độc (Deadlier Than The Male – phóng tác 2000), Thiếu Phụ Chiếc Xe Khẩu Súng (La Dame Dans L’auto – phóng tác 2002), Công Ty Rửa Tiền (The Firm), Mang Xuống Tuyền Đài (The Chamber), Báo Cáo Bồ Nông (The Pelican Brief), Mùa Hạ Hai Mươi, Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, Sài Gòn Vang Bóng…

Ngoài các tác phẩm văn xuôi, nhà văn Hoàng Hải Thủy thích làm thơ, trong mục Viết Ở Rừng Phong thường dẫn thơ vào, và đã có 3 tập thơ, từ lúc ở trong phòng biệt giam nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu đến tháng ngày ở Hoa Kỳ. Ông dịch nhiều thơ Đường và còn làm thơ bằng chữ Hán…

Bài viết “Trong Mùa Dịch Covid-19 Đọc Lại Trăm Năm Cô Đơn” của tôi vào ngày 10 tháng Tư, năm 2020. Trích đoạn có liên quan đến bản dịch của Hoàng Hải Thủy:

“Tác phẩm Trăm Năm Cô Đơn (One Hundred Years of Solitude – Cent Ans de Solitude) là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn người Colombia Gabriel Garcia Marquez (1928-2014) đã được dịch ra gần bốn mươi thứ tiếng trên thế giới đánh giá tài hoa của nhà văn theo phong trào hiện thực huyền diệu (magical realism movement). Năm 1972, G.G Marquez lãnh giải thưởng Romulo Gallegos. Giải thưởng Romulo Gallegos ra đời năm 1967, mang tên của nhà văn Venezuela Romulo Gallegos, người từng làm Tổng Thống nước này trong năm 1948, và được chính phủ Venezuela xét tặng hai lần mỗi năm dành cho các tác phẩm viết bằng tiếng Tây Ban Nha.

Trước năm 1975 ở miền Nam Việt Nam có nhiều bài viết trên vài tạp chí về G.G Marquez nhưng chưa ấn hành tác phẩm này. Năm 1982 tác phẩm Trăm Năm Cô Đơn của G.G Marquez được Giải Thưởng Nobel Văn Chương Năm 1982, nhưng ở trong nước vẫn mù tịt.

Tháng Tư năm 2014, G.G Marquez qua đời, tưởng nhớ nhà văn, Công Tử Hà Đông đề cập đến chuyện dịch sách.

“Lần thứ nhất tôi cầm quyển “One Hundred Years of Solitude” của Gabriel Garcia Marquez, lần thứ nhất tôi biết tên ông. Truyện tiếng Anh, khoảng 800 trang chữ nhỏ. Nếu dịch trọn truyện bản chữ Việt phải ít nhất là 2000 trang. Nhà văn viết “One Hundred Years of Solitude” bằng tiếng Espagnole: Spanish – Tây Ban Nha, Y Pha Nho –  tác phẩm được dịch sang tiếng Anh…

Lẽ ra phải chọn “Trăm Năm Cô Đơn,” cái tên Việt tuyệt đúng với tên Anh, tôi ngớ ngẩn chọn “Trăm Năm Hiu Quạnh”. Ngớ ngẩn hết nước nói. Cảnh hiu quạnh, người cô đơn. Thay vì nói “Trăm Năm Cô Đơn” hay hơn, đúng hơn, Trùng Dương không nói, nàng để tôi chọn “Trăm Năm Hiu Quạnh”…

Trước khi dịch, tôi để hai đêm đọc “One Hundred Years of Solitude”. Tôi mê mẩn vì truyện. Những lời văn Anh bay như Thơ, đẹp như Hoa, mịn như Lụa. Nghe tôi ca tụng, có người bảo: “Đọc nguyên bản tiếng Ét-ba-nhon còn hay, còn mê hơn nhiều”. Tôi mê mải dịch. Tôi dịch xong trong khoảng 60 ngày. Việc dịch “One Hundred…” làm tôi có cảm giác trong hai tháng tôi già đi mười tuổi. Nguyễn Đức Nhuận cho xếp chữ, làm thành bản in mẫu như quyển sách, khoảng 800 trang. Đưa đi Sở Phối Hợp Nghệ Thuật Bộ Thông Tin xin kiểm duyệt. Sách kiểm duyệt về, tôi xem thấy bị cắt khoảng 60 trang – toàn những đoạn tả Tình Dục tuyệt tuyệt – tôi nghĩ: “Truyện 800 trang, bị cắt 60 trang, như mất  một ngón tay. Được”…

Khoảng mười tháng sau Nguyễn Đức Nhuận (phụ trách nhà in Nhân Chủ của báo Sóng Thần) có giấy in thì Sở Phối Hợp Nghệ Thuật có lệnh mới: “Sách đã kiểm duyệt quá sáu tháng chưa in phải kiểm duyệt lại”. Lần thứ hai “Trăm Năm” đến Bộ Thông Tin chịu kiểm duyệt, rồi Nhuận bảo tôi:
“Trăm năm bị cấm, không cho xuất bản.”

Tôi hỏi tại sao, Nhuận nói:
“Hoàng Đức Nhã không cho xuất bản vì tác giả thân bọn cộng sản, chống chiến tranh Việt Nam, chống Mỹ, là bạn thân của Fidel Castro.”

“Trăm Năm Hiu Quạnh” bị chết khi chưa được chào đời. Tôi tiếc công tôi dịch. Nếu “Trăm Năm…” được in ngay sau lần kiểm duyệt đầu tiên.. Hay biết bao nhiêu.

… Tháng Tư 2014, Gabriel Garcia Marquez giã từ trần thế. Tôi viết bài này. Tôi ngậm ngùi tiếc “Trăm Năm Hiu Quạnh” không được chào đời ở Sài Gòn những năm đầu 1970; tôi tiếc công tôi dịch”.

Đọc đoạn này mới thán phục sức làm việc của nhà văn Hoàng Hải Thủy, vào thời điểm đó (1970) ông vừa viết truyện, phóng tác, làm báo… vừa bỏ ra 60 ngày để dịch tác phẩm 800 trang.

(Anh Nguyễn Đức Nhuận ra tờ Việt Press ở Little Saigon vào đầu thập niên 90, tôi làm Tổng Thư Ký, ở Sài Gòn trước năm 1975 có 3 người cùng tên Nguyễn Đức Nhuận)

*

Hằng tuần, Công Tử Hà Đông “Viết Ở Rừng Phong” (cũng giống như nhà văn Văn Quang “Viết Từ Sài Gòn” gửi ra hải ngoại) cho tuần báo Saigon Nhỏ, Viết dưới dạng tạp ghi, tự truyện, phiếm… hơn 2 trang báo khổ tabloid, nếu in vào trang sách, khoảng 7, 8 trang, với 709 bài ngốn khoảng 5,000 trang sách. ông chỉ chọn số bài để ấn hành tác phẩm Viết Ổ Rừng Phong.

Ông có trí nhớ tuyệt vời, ghi lại từng chi tiết về bản thân, tình yêu, cuộc sống, bạn bè… thơ văn trong mọi khía cạnh liên quan đến nội dung bài viết. Tôi thích loạt bài này vì giúp cho kiến thức bản thân…

Cuộc đời cầm bút của ông cũng gặp đôi lần “đụng độ” với chính quyền và đồng nghiệp trước năm 1975 ở Sài Gòn. Khi định cư ở Virginia ông cũng bị đả kích vụ Hai Bà Trưng. Ông đã chia sẻ: “… Tôi có viết một bài ngắn để nhận lỗi là đã đem nhân vật lịch sử ra giễu cợt, chỉ vì sau hai mươi năm không được viết, nên khi được tự do viết, đã viết quá đáng. Nhất là những người con lưu vong, xa tổ quốc, phải tôn trọng các nhân vật lịch sử. Nhưng trong bài nhận tội đó, tôi không công nhận là tôi xuyên tạc lịch sử. Tôi cũng không đính chính ngay, chỉ công nhận mình đem nhân vật lịch sử ra diễu cợt mà thôi. Cho nó êm đi. Vì nếu viết, sẽ làm bùng lên nữa.
… Có những người chỉ ngồi đó chờ xem, ai bị chửi thì nhảy vào chửi hôi, đánh hôi. Mình phải biết nhận lỗi, im đi khi người ta nói đúng. Phải nhận lỗi mình. “Quân tử trả thù mười năm cũng không muộn”, còn mình là “tiểu nhân 20 năm sau nói cũng chưa muộn”.

*

Lúc tôi làm Tổng Thư Ký tuần báo Tình Thương của Lâm Tường Dũ (thổ địa ở Little Saigon), khi Hoàng Hải Thủy sang Little Saigon, bác tài Lâm Tường Dũ chở đi gặp gỡ bạn bè, lần đầu tiên tôi được gặp. Trong 5 năm làm tờ nhật báo Saigon Nhỏ, có dịp đọc bài viết của anh hằng tuần và mỗi tháng Giới Thiệu Sách (4 tác phẩm) trên nguyệt san Tân Văn, trong đó có vài tác phẩm của anh và lần thứ hai, được gặp nhau.

Nhận được tin buồn nhà văn Hoàng Hải Thủy qua đời, tôi viết để tưởng nhớ. Đọc lại những bài thơ của anh viết về hiền thê… sống chết một đời, yêu thương, gắn bó với nhau. Sau 2 năm xa cách, nay anh theo người bạn đời vĩnh viễn nơi cõi thiên thu… bỏ lại trần gian hỉ, nộ ái, ố…!

Giờ đây nhà văn Hoàng Hải Thủy đã toại nguyện với người yêu:
“Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe em”

Vương Trùng Dương
Little Saigon Dec 08, 2020

bar_divider

VĨNH BIỆT ANH HOÀNG HẢI THỦY

**  Hồng Thủy **

Nếu không lưu lạc qua xứ người, chắc chẳng bao giờ tôi có cơ hội trở thành cô em gái thân thiết của anh chị Hoàng Hải Thủy, để được biết một chuyện không thể nào ngờ. Một nhà văn nổi tiếng, đẹp trai, hào hoa phong nhã như anh Hoàng Hải Thủy lại là một người chồng ngoan và ‘cực kỳ’ yêu vợ. Ở tuổi ngoài 80, nỗi lo sợ lớn nhất của anh Hoàng Hải Thủy là chị bỏ  đi trước  anh và anh phải sống  một mình. Có lẽ tại anh chị có một tình yêu đẹp quá. Tôi dám nói như vậy vì anh có tặng tôi một tập thơ của anh xuất bản năm 1995. Trong tập thơ đó tôi cảm nhận được tình yêu nồng thắm của anh chị.

Mở đầu tập thơ là hình ảnh chị Hoàng Hải Thủy với nụ cười Mona Lisa.  Hình này chị chụp có lẽ cũng vào lúc tóc đã điểm sương, nhưng trông vẫn còn đẹp lắm. Trên  tấm ảnh là dòng chữ Tặng Alice (tên chị) Washington DC cuối thu 94.  Dưới ký tên Hoàng Hải Thủy rất bay bướm.

Trang tiếp theo là 4 câu thơ

Alice 54

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình em mầu ấy có xanh da trời
Hoa lòng em có về tươi
Môi em có thắm nửa đời vì anh?


Bài thơ thứ nhì là bài YÊU HOÀI NGÀN NĂM anh làm ngày 15 tháng 10 năm 1977  trong phòng biệt giam Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu

Yêu Hoài Ngàn Năm

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh
Ba mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình Ta nước biển một mầu như xưa
Yêu bao giờ, đến bao giờ
Thời gian nào rộng cho vừa tình ta?
Lòng em hoa vẫn tươi hoa
Môi em thắm đến em già chưa phai
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe em
Mặt trời có lặn về đêm
Sáng mai em dậy bên thềm lại soi
Cuộc đời có khóc, có cười
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay
Thu về trời lại xanh mây
Ðầy trời anh thấy những ngày ta yêu
Càng yêu, yêu lại càng nhiều
Nhớ em, anh nhắn một điều: yêu em.


Đọc xong bài này, tôi chắc ai cũng  cảm nhận được tình anh Hoàng Hải Thủy trao cho chị Alice tràn đầy và chung thủy đến thế nào.

Những ngày ở tù tuy buồn khổ, cơ cực, tình yêu cũng vẫn tạo cho anh cảm hứng làm những vần thơ cho chị. Những câu thơ đọc lên nghe nát cả lòng

Nằm trong khám tối âm u
Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa
Bồi hồi tưởng mái nhà xưa
Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao?
Thương em nhạt phấn, phai đào
Ðêm đêm trở giấc chiêm bao một mình
Ngủ đi em, mộng bình minh
Mưa bao nhiêu giọt là tình bấy nhiêu

*

Nằm trong khám tối nghe mưa
Ðêm nào cũng thấy đêm thừa trống canh
Thương nhau nên ngủ không đành
Nhớ nhau nhưng mộng không thành em ơi
Anh nghe từng tiếng lệ rơi
Biết em đang khóc nên trời đổ mưa…

Nói đến Văn nghiệp của anh, mới 10 tuổi cậu bé Dương Trọng Hải (tên thật của anh Hoàng Hải Thủy) đã nuôi mộng trở thành văn sĩ.  Năm 10 tuổi anh đã mê đọc cuốn tiểu thuyết GIÔNG TỐ của Vũ Trọng Phụng và TRƯỜNG ĐỜI của Lê Văn Trương. Anh rất phục các ông văn sĩ, anh thấy các ông như những ông Trời con vì các ông có quyền tạo ra các nhân vật trong truyện, tạo ra cuộc sống đa dạng cũng như định mệnh của các nhân vật đó.  Anh bắt đầu viết văn năm 18 tuổi. Một năm sau, 1952 anh tham dự cuộc thi truyện ngắn do Nhật báo Tiếng Dội tổ chức. Chưa cần biết có được trúng giải hay không, chỉ cần truyện được chọn đăng là đã được trả 200$. Số tiền khá hấp dẫn với chàng trai 19 tuổi. Không ngờ truyện ngắn dự thi ‘Người Con Gái Áo Xanh’ của anh lại được giải nhất.  Tiền thưởng là 3.000$.   Ông Trần Tấn Quốc chủ nhiệm nhật báo Tiếng Dội đãi 3 người trúng giải Nhất, Nhì, Ba đi ăn tiệc cao lâu rồi đưa mỗi người một ngân phiếu. Đi lãnh tấm ngân phiếu thứ nhất quá lớn trong đời ở Ngân hàng về, anh biếu ngay bố mẹ 500$, chia cho các em một phần.  Tiền còn lại anh đi may cho mình bộ complet đầu tiên với giá 700$.

Từ đó sự nghiệp văn chương của anh bắt đầu khởi sắc. Những truyện dài đăng trên các báo của anh rất hấp dẫn người đọc. Lần lượt các truyện dài đăng báo của anh như:  Như truyện Thần Tiên, Tìm em nơi thiên đường, Định mệnh đã an bài, v.v. .. được các nhà xuất bản mua bản quyền xuất bản nhiều lần.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của anh là cuốn tiểu thuyết phóng tác KIỀU GIANG. Anh đã lấy tên cô con gái cưng, bé Kiều Giang lúc đó mới được 6 tháng để đặt tên cho tác phẩm này.

Nói tới nhà văn Hoàng Hải Thủy là ai cũng nghĩ ngay tới tác phẩm Kiều Giang. Điều này đã cho anh cảm hứng sáng tác bài thơ làm trong Sà lim Khu B, trại giam Phan Đăng Lưu năm 1978. Có những câu đọc muốn ứa nước mắt.

Người bạn tù hỏi qua song cửa
Phải anh là Hoàng Hải Thủy
Anh viết truyện Kiều Giang?
Kiều Giang …!
Ôi tên con, tên ngọc, tên vàng
Làm bố vỡ tim và hồn nức nở
Khi đặt tên con đâu ngờ có thuở
Nghe tên con giữa chốn lao tù
Những đêm dài ngục tối âm u
Bố thấy mắt con sáng bừng rực rỡ
Bố yêu con trong từng hơi thở
Trong trái tim hồng, trong giòng máu đỏ
Kiều Giang ơi, tiếng kêu thương nhớ
Con có run da thịt đêm nay?
Bố cho con trọn máu xương này.


Anh chị có 3 người con, 2 trai 1 gái.  Hoài Nguyên và Kiều Giang ở Texas và Ohio. Hải Triều còn ở Việt Nam. Tôi hỏi tại sao anh chị lại chọn Virginia để định cư. Anh cho biết anh rất thân với anh Anh Ngọc (ca sĩ rất nổi tiếng của VN ngày xưa). Hồi anh còn ở VN, anh Anh Ngọc có gửi về cho anh một tấm ảnh anh chị Anh Ngọc ngồi trên một thảm cỏ xanh mướt, đằng sau là cả một rừng lá vàng. Anh Hoàng Hải Thủy mê ngay phong cảnh quá đẹp đó, nên khi có giấy tờ được sang Mỹ, anh chị quyết định chọn nơi có thảm cỏ xanh và rừng lá vàng tuyệt đẹp để định cư. Đó là tiểu bang Virginia, một tiểu bang có cái tên thật tình tứ “Virginia  is for lovers”.

Thêm nữa, anh chị  chọn Virginia vì ở Virginia có mấy người bạn thân và có bà Khúc Minh Thơ mà với anh là người hết lòng giúp đỡ cho những cựu tù nhân chính trị ở VN qua Hoa Kỳ tị nạn. Thời gian đầu  anh chị hay tham dự những buổi hội họp văn nghệ. Từ 10 năm nay, vì lớn tuổi anh chị không tham dự những hội hè đình đám nữa. Những ngày gần đây sức khoẻ chị suy yếu, chị bị ngã mấy lần, anh luôn luôn lo lắng chị sẽ bỏ anh đi trước. Anh tâm sự: anh không thể sống thiếu chị. Tôi trêu anh, tại chị nấu ăn ngon và cưng anh quá. Chị Hoàng Hải Thủy làm chả giò rất ngon. Nhắc đến chả giò tôi lại nhớ đến một kỷ niệm rất cảm động với anh chị. Một hôm tình cờ gặp anh chị ở chợ Việt Nam bên Virginia.  Chị em tôi mừng rỡ ôm chầm lấy nhau vì lâu quá hai chị em mới có dịp gặp gỡ. Chúng tôi ở cách xa nhau. Tôi ở Maryland, anh chị ở Virginia. Đang nói chuyện với tôi bỗng chị quay qua anh nói: “ Anh chịu khó lái xe về nhà lấy gói chả giò em để trên ngăn đá mang ra đây biếu cô Thủy. Em ở đây nói chuyện với cô ấy. Lâu quá chị em mới gặp nhau.”

Tôi cản thế nào cũng không được, anh đi thật nhanh ra xe để về nhà lấy chả giò cho tôi.  Anh chị thương tôi như vậy đó và tôi cũng rất quí mến anh chị. Chị rất dễ thương nên được lòng nhiều bà hàng xóm   

Một hôm tôi tới thăm anh chị nhằm lúc anh đi đón chị ở nhà thương  vừa về tới. Tôi thấy một bình hoa hồng thật đẹp của hàng xóm đã để sẵn ở cửa để mừng đón chị về. Vào trong nhà lại thấy bao nhiêu là bánh trái. Anh nói của các bà hàng xóm thấy chị đau nên mang tặng. Có mấy ai được mọi người quí mến như anh chị đâu.

Tôi rất mừng thấy anh còn khoẻ mạnh dù tuổi đã cao. Ngoài 80 mà anh vẫn còn phong độ, sáng suốt. Vẫn lái xe đưa chị đi chợ và viết bài cho các báo. Điều hạnh phúc nhất là tình yêu của anh chị sau 62 năm vẫn còn thắm thiết như những ngày đầu.

Ngày đó gia đình chị đi Vũng Tầu nghỉ mát, thuê nguyên cả một cái Villa thật rộng. Anh họ của chị là bạn thân của anh, rủ anh cùng ra Vũng Tầu chơi.

Biển xanh, nắng vàng và những đêm trăng thơ mộng của Vũng Tàu đã cho cặp trai tài gái sắc có cơ hội gần gũi và nẩy sinh tình cảm chan chứa với nhau.

Kết quả anh tỏ tình và xin cưới chị. Anh kể: “Tối hôm trước vừa tỏ tình với chị thì ngay sáng hôm sau khi  ra phố uống café, mua tờ báo đọc, thấy họ in trên trang nhất giòng chữ thật to: Hiệp Định Genève vừa ký ngày hôm qua. Hết chiến tranh và chia đôi đất nước.Ngày anh chị quyết định kết hợp lại là ngày đất nước chia đôi thành hai miền Nam Bắc. Ngày đó không chỉ là ngày đặc biệt khiến anh chị nhớ mãi, mà cũng là ngày mà mọi người dân Việt không thể nào quên.

Nếu bài viết kết thúc ở đây thì tuyệt quá, nhưng… ở đời có lúc chữ NHƯNG đến thật bất ngờ, mang tất cả niềm đau không ai chờ đợi. Cuộc sống của anh chị đang thật êm đềm, hạnh phúc,bỗng đứt đoạn chia lìa… Những lần tôi đến thăm, trong căn phòng khách nhỏ bé ấm cúng, anh chị ngồi tiếp tôi. Gương mặt anh lúc nào cũng rạng rỡ, ánh mắt reo vui nhìn chị nói chuyện thao thao bất tuyệt, thỉnh thoảng chị lại cười thật to, hai anh em tôi cũng cười góp vì chị nói chuyện rất có duyên. Chị kể đủ thứ chuyện, những ngày ở với cộng sản, anh đi tù, tụi cán bộ đến làm khó dễ chị, chị đã không sợ lại còn trả lời chúng những câu thật chua cay. Qua những mẩu chuyện chị kể, tôi rất phục chị, chị quả thật là người đàn bà can đảm, giỏi giang. Chị lo cho anh từng li từng tí, hèn gì anh cứ tâm sự với tôi: anh không thể sống thiếu chị và cứ lo sợ chị sẽ ra đi trước anh. Nỗi lo sợ đó đã thành sự thật, chị đã bỏ anh đi thật rồi.Chị mất ngày 27 tháng 12 năm 2018.

Chị ra đi quá bất ngờ. Ngày Lễ Noel Kiều Giang về thăm bố mẹ, chị theo Kiều Giang đi mua sắm, đi chơi, chị rất khỏe và còn đòi đi uốn tóc, sửa soạn cho đẹp để ăn Tết. Đi cả ngày Kiều Giang sợ mẹ mệt, nói mẹ đi nằm nghỉ. Chị vào phòng nằm một lát rồi lại ra phòng khách ngồi nói chuyện. Đang nói chuyện chị than mệt, ngồi ngả đầu ra phía sau, nhịp tim hơi yếu. Đưa chị vào nhà thương, BS nói nhịp tim quá yếu, BS cố gắng cứu chữa nhưng không được. Chị đã trốn anh ra đi thật nhanh chóng, nhẹ nhàng.

Hôm đến viếng chị ở nhà quàn, nhìn anh ngồi trên xe lăn, khuôn mặt thất thần tôi không cầm được nước mắt. Tôi nắm tay anh chia buồn, hai anh em cùng khóc. Tôi biết anh đau buồn lắm, tôi rất lo, từ nay không có chị , không biết anh sẽ ra sao.

Nhớ Tết năm ngoái đến thăm anh chị, trên đường lái xe về, tôi cứ nhớ mãi hình ảnh thật hạnh phúc. Căn phòng khách nhỏ ấm cúng với những bông cúc đại đóa vàng tươi, chiếc bánh chưng dán chữ đỏ thắm phía ngoài, chờ đợi được bóc cho bữa cơm ngày Tết.  Hộp mứt sen Bảo Hiên Rồng Vàng trông thật hấp dẫn. Hai mái đầu bạc kề cận ngồi nhâm nhi mứt sen bên tách trà thơm bốc khói. Tết năm nay anh một mình một bóng, ai pha trà ngồi đối ẩm với anh đây?

Anh Hoàng Hải Thủy ơi, em nói vậy thôi chứ anh đừng nghĩ mình cô đơn và buồn nhé. Em biết lúc nào hồn chị cũng quanh quẩn bên anh. Chị chỉ tạm biệt anh đi trước thôi mà, chị sẽ chờ ngày tái ngộ với anh vì làm sao chị quên được lời anh dặn dò: “Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai. Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe em.”

Từ ngày chị ra đi,anh sống âm thầm như một cái bóng.Lần nào tôi đến thăm, anh cũng chỉ nói một câu “anh chỉ muốn chết’.Tôi không ngờ tinh thần anh lại yếu như vậy, hình như chị đã mang tất cả sức sống của anh đi theo chị rồi. Hình ảnh một anh Hoàng Hải Thuỷ tươi cười, mắt sáng long lanh ngồi ngắm chị nói chuyện thao thao bất tuyệt với tôi một cách sung sướng, thỉnh thoảng anh mới chen vào một câu để phụ hoạ cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn của chị, hoặc chọc phá chị để anh em tôi có cớ cười vui thoải mái.

Nhớ lần tôi đến thăm anh chị năm 2017, mang giấy mời Ra mắt Tác phẩm HOA TƯƠNG TƯ của tôi, anh cầm tờ thiệp mời trong tay nhìn tôi nói “lâu rồi anh chị không đi tiệc tùng, họp mặt gì nữa.Chân chị yếu lắm không ngồi lâu được, mà anh không muốn đi một mình. Cô thông cảm nhé “ Tôi đang định trả lời:Dạ, em hiểu, thì chị đã cao giọng ra lệnh: “Anh phải đi chứ, không đi cô Thuỷ buồn” .Rồi chị quay sang tôi: “ lâu lắm rồi anh không đi đâu nữa hết, anh chị ở ẩn rồi cô ơi, nhưng ra mắt sách của cô thì chắc chắn anh sẽ đi, cô yên tâm nhé”. Anh ngồi im re, hình như chị là phát ngôn viên của anh.Thấy anh không nói gì, tôi cũng không hy vọng là anh sẽ có mặt trong buổi RMS của tôi, vì thường các ông không cãi lại lời của các bà vợ, vì nể hay vì biết cãi cũng thua. Các ông mặc kệ vợ nói gì tha hồ, nhưng rồi đường ta ta cứ đi, giống như ông chồng của tôi vậy. Nhưng anh Hoàng Hải Thuỷ thì khác, “ Vợ muốn là Trời muốn”. Ngày RMS của tôi, anh xuất hiện cùng anh Đào Trường Phúc, trông anh vẫn chải chuốt, hào hoa phong nhã như thuở nào. Không những chỉ anh đến tham dự, mà chị còn làm cho tôi bao nhiêu là chả giò thật ngon và một hũ đồ chua to tổ bố để đãi khách.

Tình cảm anh chị dành cho tôi tràn đầy, ấm áp… như chiếc áo len tôi đang mặc do chính tay chị đan cho tôi. Chị rất khéo tay, cơm nước, may vá thêu thùa đều giỏi, lại là người rất tình cảm, chu đáo và yêu anh vô cùng. Chị đúng là người vợ toàn hảo, hỏi sao anh không thể nào nguôi nỗi nhớ… niềm đau?

Tin anh ra đi thật bất ngờ với mọi người, riêng tôi đã linh cảm từ những ngày đầu có dịch “cô vít”.

Anh sống rất khép kín, ít chịu giao tiếp với thế giới bên ngoài .Con cái ở xa hết.Người thân mà anh chấp nhận liên lạc đếm trên đầu ngón tay. Cuộc sống anh từ ngày chị ra đi đã rất cô đơn. Bây giờ với nạn dịch bệnh, còn ai  thăm viếng ? anh lại càng cô đơn và buồn hơn nữa. Ý nghĩ “chỉ muốn chết” vẫn nằm trong tâm khảm anh từ lâu, chắc lại còn mãnh liệt hơn nhiều.

Anh ra đi, để lại đau buồn cho những người thân ở lại, nhưng với riêng anh, tôi biết là một ước muốn khôn nguôi. Anh đã đến được nơi anh hằng mong đợi, xum họp với nàng ALICE, người yêu muôn thuở của anh.

HỒNG THỦY

bar_divider

THÁNG BẨY 54

Posted on July 31, 2017 by hoanghaithuy

Hoa Gạo

Anh đã từng đi khắp bốn phương,
Tháng Ba, anh có thấy trên đường
Những hoa gạo đỏ tươi như máu
Nhầu nát như người lính tử thương ?

Anh ạ, tôi buồn khôn xiết nói
Cánh Tình đã rụng tự đêm qua.
Một khi Tình rụng như Hoa rụng,
Máu đỏ lìa Tim, dạ xót xa.

Thơ Nguyễn Bính

Tháng Bẩy 2017 ở Virginia, trời nắng nóng không khác mấy trời nắng nóng Tháng Bẩy ở Sài Gòn.

Căn phòng tôi có cửa sổ mở ra hướng Đông Nam. Tôi thường dậy lúc 5 giò sáng. Pha ly cà phê tôi mang ra ngồi trước cửa sổ, nhâm nhi – cà phê không có thuốc điếu cùng đi – tôi bỏ thuốc điếu từ năm 1992, hai năm sau ngày tôi đi tù lần thứ hai, ngày tôi lần thứ hai từ nhà tù Việt Cộng trở về mái nhà xưa và vòng tay của người vợ hiền – Nhìn qua cửa sổ ra rừng phong, sáng vào khoảng 6 giờ, tôi thường thấy hai con sóc chuyền cành trên hàng cây. Loài sóc chuyên đi trên cây. Sóc không ăn sâu bọ, sóc ăn trái cây. Những vòm cây trước phòng tôi không cây  nào có trái, tôi không biết những con sóc tôi thấy đó ăn gì để sống.

Tôi không nhớ có lần nào tôi nhìn thấy sóc ở quê hương tôi không; tôi không biết nước Việt Nam của  tôi có loài sóc hay không.

Sáng nay – buổi sáng ngày 12 Tháng Bẩy 2017 – TiVi nhắc lại ngày này Tháng Bẩy năm 2002 anh Mỹ Đen John Allen Muhamad dùng súng bắn chết một người đàn bà ở parking – nơi đậu xe của Nhà Home Depot – Trước khi bắn người đàn bà này, Muhamad đã bắn chết mấy người.

Tên sát nhân bắn người vì thích giết người. Y giết người mà không có lý do. Nhà Home Depot này ở trong vùng nhà tôi, từ nhà tôi đến Nhà Home Depot này chỉ mất  3 phút chạy xe. Tôi từng đến đứng ở parking Home Depot, tưởng tượng cảnh Muhamad bắn người, hắn đứng chỗ nào, nạn nhân đứng chỗ nào.

Ngày 12 Tháng 7, 2002, Ngày 12 Tháng 7, 2017…

Dòng Thời Gian dài một ánh bay..
Những ngày như lá, tháng như mây…

Tháng Bẩy 1954.. Xe ô tô tư nhân từ thành phố Sài Gòn ra thị trấn Vũng Tầu chỉ đi và về được trong hai ngày trong tuần: ngày thứ bẩy và ngày chủ nhật. Trong hai ngày ấy xe ô tô tư nhân, xe car chở khách, phải tụ lại lúc 6 giờ sáng ở Thủ Đức, chờ xe của Lực Lượng Bình Xuyên dẫn đường ra Ô Cấp. Năm xưa ấy dân Sài Gòn quen gọi thị trấn biển ấy là Cấp, theo tên tiếng Pháp Cap Saint Jacque. Xe tư nhân từ Cấp về Sài Gòn cũng phải có xe Bình Xuyên mở đường và dẫn đường. Lực Lượng Bình Xuyên bảo đảm an ninh trên con đường ấy.

Chiến tranh chưa ngừng, chưa có Hiệp Định Geneve, đất nước ta chưa bị cắt đôi. Thị trường tiểu thuyết Sài Gòn năm xưa ấy có loại tiểu thuyết in từng tập, mỗi tập là một tờ giấy báo gấp lại thành 16 trang, giá bán 2 đồng. Loại truyện này bị gọi là tiểu thuyết ba xu, nhưng có nhiều người mua đọc. Truyện ba xu bán chạy nhất là truyện Bàn Tay Máu của Phi Long.

Phi Long là một bút hiệu của anh Ngọc Sơn, một chuyên viên Truyện Phơi-Ơ-Tông của nhật báo Tiếng Chuông. Tôi thấy anh Ngọc Sơn đúng là nhà văn Phơi-Ơ-Tông chân chính. Với bút hiệu Ngọc Sơn anh từng viết những truyện phơi-ơ-tông nổi tiếng trên nhật báo Tiếng Chuông: Hồng và Cúc, Sau Dẫy Nhà Lầu..v..v.. Năm 1963 anh Ngọc Sơn giải nghệ. Từ đó anh không viết phơi-ơ- tông nữa.

Năm nay – 2017 – tôi không biết anh Ngọc Sơn còn sống ở Sài Gòn hay không. Anh hơn tôi khoảng năm, sáu tuổi.

Đó là chuyện những năm 1952, 1953. Tiểu thuyết từng tập phát triển quá mạnh. Nó lấn át các nhật báo, tuần báo. Nó làm cho các báo không bán được. Nhiều vị chủ nhật báo kêu ca. Năm 1954 Nha Thông Tin Nam Phần cấm xuất bản loại tiểu thuyết Ba Xu này.

Năm 1953 tôi viết hai truyện tiểu thuyết Ba Xu. Mỗi tập 16 trang tôi được ông chủ Nhà In Ban Mai trả 300 đồng. Như vậy mỗi tháng tôi có 1200 đồng.

Tháng Bẩy 1954 Alice và tôi sống ở Cấp. Buổi sáng chúng tôi ăn sáng ở Chợ Vũng Tầu. Tôi đến sạp báo, trên tờ Tiếng Chuông tôi thấy hàng chữ bản tin chạy 8 cột:

Chiến Tranh Đông Dương chấm dứt.
Nước Việt Nam chia đôi!

Từ buổi sáng đó đến buổi sáng hôm nay, 62 năm…

***

Tôi thích sống ở biển. Những năm 1970 tôi có ý định ra sống luôn ở Vũng Tầu, trong một căn nhà ven biển. Từ nhà tôi đi qua đường là xuống biển. Trong căn nhà đó tôi sống và viết. Tôi gửi bài viết về những tòa báo ở Sai Gòn bằng Bưu Cục. Khoảng nửa tháng tôi về Sài Gòn một lần. Tôi về lấy tiền ở những nhà báo, nhà xuất bản. Tôi chỉ cần mua thuốc điếu Mỹ – Lucky, Pall Mall – mang ra Vũng Tầu.

Tôi nói :

– Chúng mình yêu nhau đã sáu mươi năm!

Alice nói;

– Sáu mươi hai năm.

Một buổi sáng Tháng Bẩy Sáu Mươi Hai Năm Xưa, chúng tôi ngồi bên nhau trong vườn nhãn một căn nhà trong thị xã Vũng Tầu. Nàng 22 tuổi, tôi 24. Nàng trẻ, Nàng đẹp. Nàng như bông hoa chớm nở. Nay Nàng là bà già Tám Mươi..

Tôi không thể diễn tả Nàng bây giờ, khi Nàng tám mươi tuổi.

Ngày xưa Nàng nói:

– Em thích nhất là khi em vào chỗ nào có mấy bà, mấy cô. Một bà giới thiệu “Đây là chị Hoàng Hải Thủy,” Em thấy mắt các bà, các cô ấy sáng lên.

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình Em mầu ấy có xanh da trời?
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm suốt đời vì Anh?

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình Ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?

Thời Gian nào rộng cho vừa Tình Ta?
Lòng Em hoa vẫn tươi hoa.
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài Em yêu!

Sau hai lần ngã phải vào bệnh viện, Nàng đi lại khó khăn. Lần ngã nặng thứ hai cách hôm nay 5 năm. Bị ngã quá nặng, khi nằm trong ICU – Intensive Care Unit – Phòng Cấp Cứu – Nàng nói;

– Xin Chúa tha tội cho Em.

Tôi nói;

– Em có tội gì? Mà em có tội gì, Chúa cũng tha cho Em rồi.

Bên giường nàng, tôi xin Đức Bà Maria:

– Xin Bà cho vợ con sống với con 5 năm nữa.

Tới hôm nay – một ngày Tháng Bẩy 2017 – vợ tôi đã sống với tôi 7 năm

Kính mừng Maria đầy ân phúc.
Đức Chúa Trời ở cùng bà.
Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và Jesus, con của bà, đầy phúc lạ.
Bà Thánh Maria, xin Bà cầu cho chúng tôi, khi nay và trong giờ lâm tử.

***

Tháng Bẩy 1954 tôi đang viết truyện Tình trong Hang Máu, tiểu thuyết Ba Xu, xuất bản từng tập 16 trang,

Ra Cấp, ngoài những giờ ở bãi biển, tôi ngồi nhà viết Tình trong Hang Máu

Alice ngồi bên tôi, tôi viết xong trang nào, Nàng đọc trang ấy.

Khi ấy chúng tôi tình trong như đã..Như trong tấm ảnh chúng tôi ghi ở Long Hải năm ấy, chúng tôi đứng bên nhau nhưng không nắm tay nhau. Chúng tôi chưa nói những tiếng;

– Anh yêu Em.

– Em yêu Anh.

Ảnh này đến với chúng tôi từ 60 năm trước. Dưới ảnh là xác khô của hai cánh hoa Orchid, thường được dân Sài Gòn gọi là hoa Forget Me Not

Tháng Bẩy 1954, Long Hải.

Thời gian qua mau… Những ngày như lá, tháng như mây..

Tháng Bẩy 2017, chúng tôi nói với nhau:

– Tại sao Em yêu Anh?

– Tháng Bẩy năm 1954, trong vườn nhãn ở Cấp, Em thấy mắt Anh nhìn Em, Em nghĩ:

“Làm vợ người này, mình sẽ được yêu thương nhiều lắm.”

Từ Sài Gòn, Văn Quang viết cho tôi:

“Cuộc Tình của vợ chồng mày cho thấy ở đời này có những người yêu nhau từ trẻ đến già.”

***

Đêm xuống trong bệnh viện, Nàng nói nhỏ, như tiếng thì thầm:

– Ở lại với Em. Đừng về.

Đêm khuya, Nàng khó thở, tiếng Nàng thở hít khò khè, tôi báo với cô y tá trực đêm. Cô mang dàn máy dưỡng khí vào cho Nàng thở.

Là người tỵ nạn chính trị, chúng tôi được hưởng những benefits như những sĩ quan: chúng tôi có Medicaid, Medicare, Foodstamp, đi khám bệnh, đau nằm bệnh viện không phải trả tiền.

Đặc biệt trong Sở Xã Hội Quận Fairfax, nơi vợ chồng tôi sống, có vị nhân viên người Việt có sáng kiến cung cấp những bữa cơm Việt Nam cho chúng tôi. Sở nhờ Nhà Hàng Hương Bình ở Trung Tâm Eden làm công việc này. Có những vị tự nguyên đến Nhà Hàng mỗi ngày lấy cơm đưa đến tận phòng cho chúng tôi. Những phần cơm canh đựng trong những hộp mob. Mỗi phần ăn chúng tôi phải trả 1 đồng. Như vậy tiền cơm của chúng tôi mỗi tháng là 80 đồng. Mỗi người 40 đồng.

Dường như trên khắp nước Kỳ Hoa không thành phố nào có việc Sở Xã Hôi cho nhân viên đem phần cơm đến tận nhà cho những người già như chúng tôi.

Tôi cám ơn các vị thiện nguyện.

Biết chuyện Cơm Canh của chúng tôi, Thanh Thương Hoàng, ở San Jose, nói:

– Ở đây tao cũng có cơm xã hội, mỗi bữa 3 đồng. nhưng tao phải đến ăn ở tiệm ăn Việt Nam, chúng mày sướng quá.

 Anh đã từng đi khắp bốn phương,
Tháng Ba, anh có thấy trên đường
Những hoa gạo đỏ tươi như máu
Nhầu nát như người lính tử thương ?

Anh ạ, tôi buồn khôn xiết nói
Cánh Tình đã rụng tự đêm qua.
Một khi Tình rụng như Hoa rụng,
Máu đỏ lìa Tim, dạ xót sa.

bar_divider

NHẠC SẦU THÁNG SÁU

Posted on July 5, 2017 by hoanghaithuy

Kỳ Hoa Đất Trích. Tháng Sáu 2017.

Tôi nhớ lại những sáng năm xưa tôi trở dậy trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, xương cốt mỏi nhừ vì nằm co quắp trên bệ xi-măng, ngồi trong vùng sáng mờ từ bên ngoài lọt vào qua ô cửa gió – ô cửa gió trên cửa sắt sà-lim nhỏ bằng quyển sách –  ca nước lạnh để trước mặt, thèm ly cà-phê nóng, thèm khói thuốc lá.., những sáng trong tù mà không biết ngày nào được trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng những buổi sáng xà-lim xưa ấy tôi không buồn, không tuyệt vọng… như những buổi sáng năm nay tôi sống an ninh ở xứ Mỹ.

Tại sao những sáng năm xưa ngồi trong xà-lim, với ca nước lanh trước mặt, tôi không buồn, tôi không cảm thấy tôi tuyệt vọng?

Tại vì: Những sáng năm xưa ấy tôi Năm Mươi tuổi. Năm Bó.

Tôi buồn, tôi tuyệt vọng vì năm nay tôi Tám Mươi tuổi. Tám Bó.

Tôi tìm được một số chuyện về Chết trên WEB. Mời quý vị đọc:

Chết (Huy Cận)

Chân quấn quít rồi đến ngày nghỉ bước;
Miệng trao lời rồi đến buổi làm thinh;
Thân có đôi chờ lúc ngủ một mình,
Không bạn lứa cũng không mền ấm nóng;

Tai dưới đất để nghe chừng tiếng sóng
Ở trên đời; – đầu ấy ngửng lên cao
Sẽ nằm im! Ôi đau đớn chừng nào;
Thân bay nhảy giam trong mồ nhỏ tí,

Một dáng điệu suốt trăm nghìn thế kỷ!
Ngày sẽ về, gió sẽ mát, hoa tươi,
Muôn trai tơ đi hái vạn môi cười,
Làn nắng ấm vào khua trong lá sắc;

Nhưng mắt đóng trong đêm câm dằng dặc,
Còn biết gì trời đất ở bên kia;
Bướm bay chi! tay nhậy đã chia lìa;
Tình gọi đó, nhưng lòng thôi bắt mộng.

Bỏ chung chạ để nằm khô một bóng;
Chẳng ai vào an ủi nắm bàn tay:
Khổ bao nhiêu cho một kẻ hằng ngày
Tìm thế giới để làm khuây lẻ chiếc!

Nhạc Sầu (Huy Cận)

Ai chết đó ? Nhạc buồn chi lắm thế !
Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường
Phố đìu hiu màu khói cũ lên sương
Sương hay chính bụi tàn phai lả tả
Từng tiếng lệ: ấy mộng sầu úa lá
Chim vui đâu cây đã gãy vài cành
Ôi chiều buồn ! Sao nắng quá mong manh
Môi tái nhạt nào mà cười héo vậy ?

Ai chết đó? trục xoay và bánh đẩy
Xe tang đi về tận thế giới nào ?
Chiều đông tàn, lạnh xuống tự trời cao
Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó
Thê lương vậy mà ai đành lìa bỏ
Trần gian sao? Đây thành phố đang quen
Nhưng chốc rồi nẻo vắng đã xa miền
Đường sá lạ thôi lạnh lùng biết mấy !

Và ngựa ơi, đi nhịp đằm chớ nhảy
Kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời
Ai đi đưa, xin đưa tận cuối trời
Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi
Người đã chết- Một vài ba đầu cúi
Dăm bảy lòng thương xót đến bên mồ
Để cho hồn khi sắp xuống hư vô
Còn được thấy trên mặt người ấm áp
Hình dáng cuộc đời từ nay xa tắp

Xe tang đi, xin đường chớ gập ghềnh
Không gian ơi, xin hẹp bớt mông mênh
Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt !
Và ngươi nữa, tiếng gió buồn thê thiết
Xin lặng giùm cho nhẹ bớt cô đơn
Hàng cờ đen là bóng quạ chập chờn
Báo tin xấu, dẫn hồn người đã xế…

Ai chết đó? nhạc buồn chi lắm thế !
Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương
Của cuộc đời ? ai rút tự trong xương
Tiếng nức nở gởi gió đường quạnh quẽ !
Sầu chi lắm! trời ơi, chiều tận thế !

CTHĐ tôi đọc bài Thơ Nhạc Sầu năm tôi mười tuổi – 1942, 1943. Trong bẩy mươi năm bài Thơ vẫn sống trong tôi. Nhưng tôi không nhớ toàn bài. Sáng nay tôi tìm được bài Thơ trên Internet. Tôi gửi tặng Bạn – Bạn, người đang đọc những dòng chữ này….

o O o

Điện thư Văn Quang gửi từ Sài Gòn, ngày 20 Tháng Hai 2016.

* Rất buồn nhận được mấy lá thư của mày về tình trạng bà Alice. Bà Ngân nhà tao dân dấn nước mắt khi vừa đọc xong thư mày. Tao an ủi nhưng bà ấy không cầm được nước mắt, chỉ lắc đầu không nói được câu nào. Tao biết tâm trạng rối bời đau thương của mày. Nhưng người đi được ra đi bên chồng con trong lúc tuổi già cũng là một Hạnh Phúc. Tao với vợ chồng mày là bạn thân thiết nửa thế kỷ rồi.  Dù thế nào vợ chồng tao cũng luôn cầu nguyện cho bà Alice.

Văn Quang+Ngân

o O o

Điện thư của Văn Quang, gửi từ Sài Gòn ngày 22/2/2016

Hoàng Hải Thủy ơi,

Hôm nay là Ngày Rằm Tháng Giêng và là Ngày Giỗ Bà Mẹ tao (bà mất ở Mỹ.) Tao nhận được meo này của mày khi tao đang ngồi ở Cafe với mấy đứa cháu. Tao mừng quá vội trả lời cho mày bằng cái iPhone của thằng con út tao cho, iPhone có viber để hai bố con nói chuyện với nhau và nhìn thấy nhau mà không mất xu nào. Mail không có dấu nên tao đánh vội vài câu. Bây giờ về nhà mới gửi meo đàng hoàng này cho mày và cho bà Ngân đọc mail của mày luôn. Bà ấy nói em vừa cúng Mẹ vừa cầu nguyện cho bà Alice. Được biết bà Alice từ bệnh viện về nhà, ăn được, đi lại được, Bà Ngân mừng lắm. Tao thấy Bà Alice còn ăn được mỗi bữa vài muỗng cơm và đi được vài bước là sẽ còn sống mí mày lâu, yên tâm đi, bà Alice sẽ khỏe lại. Tao tin thế.

Văn Quang

*

CTHĐ: Tháng Hai 2016 vợ tôi đau, nằm liệt mấy ngày. Phạm Thông, người chủ trương tờ báo tháng Con Ong, ở Houston, Texas, tưởng vợ tôi đã ra đi vĩnh viễn, gửi điện thư chia buồn với tôi:

* Đau đớn chia buồn cùng anh và các cháu. Chúng tôi cầu nguyện cho chị. Và xin anh bình tĩnh. Trước sau chúng ta cũng ra đi thôi.

Phạm Thông.

o O o

Bây giờ là 4 giờ sáng ngày 22 February 2016 ở Virginia. Câu Thơ về Luật Vô Thường đến với tôi:

Tử Sinh dẫu biết Luật Vô Thường
Nhưng khó ngăn dòng Lệ Tiếc Thương.

Thơ của ông Trần Văn Khê. Ông làm những lời Thơ này khi người đàn bà ông yêu thương ra đi lần cuối.

Câu Thơ này đến với tôi đã lâu, mấy ngày nay tôi mới thấm nó. Nguyên bài Thơ:

Tử Sinh dẫu biết Luật Vô Thường
Nhưng khó ngăn dòng Lệ Tiếc Thương.
Những tưởng phượng loan vầy một tổ,
Đâu ngờ cầm sắt rẽ đôi đường.
Tiễn Em chấp bút lau dòng lệ,
Điếu bạn nâng đàn đốt nén hương.
Cầu nguyện Phật Trời mau tế độ.
Dẫn Em siêu thoát tận Tây Phương.

Đoạn văn ông Trần Văn Khê viết trong Hồi Ký “Một Gánh Nhạc, Một Cuộc Đời.” Nguyên văn:

Ngày 10 Tháng Ba, 1997, tôi nhận được hung tin Em Đoan từ giã cõi đời. Lúc đó tôi vẫn chưa biết tôi có được thị thực nhập cảnh Mỹ hay không, đành giở lại hình ảnh những buổi cùng nhau du ngoạn ở Pháp, bên Mỹ, đọc lại vài bức thư của Em rối viết bài thơ phúng điếu, thắp nén hương, đờn lại những bản mà lúc sinh tiền Em thích nghe. Tôi đọc bài thơ qua điện thoại cho em gái của Đoan ghi lại để đọc trước lúc tẩm liệm:

Vĩnh Biệt Em
Tử Sinh dẫu biết Luật Vô Thường…

o O o

DANH NGÔN VỀ CHẾT

* Chúng ta không thể xóa đi nguy hiểm, nhưng chúng ta có thể xóa đi nỗi sợ. Chúng ta không được hạ thấp sự sống bằng việc đứng ngẩn ngơ nhìn cái Chết.

We cannot banish dangers, but we can banish fears. We must not demean life by standing in awe of death.

David Sarnoff       

* Người bạn công bằng: Cái Chết, vị thần bất tử duy nhất đối xử với chúng ta ai cũng như nhau; lòng thương, sự yên bình và che chở của Ngài dành cho tất cả – dù trong trắng hay vấy bẩn, dù giàu hay nghèo, dù được yêu thương hay bị chối từ.

The Impartial Friend: Death, the only immortal who treats us all alike, whose pity and whose peace and whose refuge are for all–the soiled and the pure, the rich and the poor, the loved and the unloved.

Mark Twain       

* Cuộc sống là một điều lạ lùng. Tại sao người ta lại khát khao cuộc sống như vậy? Đó là trò chơi mà không người nào thắng. Sống là lao lực vất vả và chịu đựng khổ đau, cho tới khi tuổi già trườn tới và chúng ta đặt tay xuống tro lạnh của lửa tàn. Sống thật khó khăn. Đứa trẻ đau đớn hít hơi thở đầu tiên, người già đau đớn hổn hển hơi thở cuối cùng, và tất cả ngày tháng tràn đầy rắc rối và buồn thương; và vậy mà con người tiến vào vòng tay rộng mở của cái chết, loạng choạng, ngã díu, đầu quay về sau, chiến đấu tới giây phút cuối cùng. Và cái chết đầy tử tế. Chỉ cuộc sống và những điều của cuộc sống mới đau đớn. Thế nhưng chúng ta vẫn yêu cuộc sống và căm ghét cái chết. Thật lạ lùng.

Life is a strange thing. Why this longing for life? It is a game which no man wins. To live is to toil hard and to suffer sore, till old age creeps heavily upon us and we throw down our hands on the cold ashes of dead fires. It is hard to live. In pain the babe sucks his first breath, in pain the old man gasps his last, and all his days are full of trouble and sorrow; yet he goes down to the open arms of death, stumbling, falling, with head turned backward, fighting to the last. And death is kind. It is only life and the things of life that hurt. Yet we love life and we hate death. It is very strange.

Jack London       

* I carry Death in my left pocket. Sometimes I take it out and talk to it: “Hello, baby, how you doing? When you coming for me? I’ll be ready.”

Tôi mang cái Chết trong túi áo trái. Đôi khi tôi lấy nó ra và nói với nó: “Chào cưng, dạo này cưng thế nào? Khi nào thì cưng đến với ta? Ta sẽ sẵn sàng.”

Charles Bukowski       

* Con người mù quáng đi trên đường đời, lờ đi cái chết giống như những người dự tiệc ngốn ngấu đồ ăn ngon. Họ không nghĩ đến việc sau đó sẽ phải đi vệ sinh, nên chẳng buồn tìm xem liệu có nhà vệ sinh không. Khi tự nhiên đòi hỏi, họ chẳng biết phải đi đâu, và trở nên rối loạn.

People go through life blindly, ignoring death like revellers at a party feasting on fine foods. They ignore that later they will have to go to the toilet, so they do not bother to find out where there is one. When nature finally calls, they have no idea where to go and are in a mess.

Ajahn Chah       

* Nếu con người bất tử, anh ta chắc chắn sẽ chứng kiến cái ngày mà mọi thứ anh ta tin tưởng sẽ phản bội anh ta, và, nói ngắn gọn, cuối cùng cũng tiến tới đau khổ tuyệt vọng. Anh ta rốt cuộc sẽ sụp đổ, giống như mọi cơ đồ, giống như mọi vương triều, giống như mọi nền văn minh. Thay vì điều này, chúng ta có cái chết.

If man were immortal he could be perfectly sure of seeing the day when everything in which he had trusted should betray his trust, and, in short, of coming eventually to hopeless misery. He would break down, at last, as every good fortune, as every dynasty, as every civilization does. In place of this we have death.

Charles Sanders Peirce       

* Để chống lại cái Chết, bạn không cần quá nhiều ở cuộc sống, chỉ một cuộc sống chưa kết thúc là đủ rồi.

To combat Death you don’t need much of a life, just one that isn’t yet finished.

Herta Müller       

* Linh hồn không mang gì theo nó sang thế giới bên kia, ngoài nền tảng giáo dục và văn hóa. Ở điểm khởi đầu của cuộc hành trình sang thế giới bên kia, nền tảng giáo dục và văn hóa có thể trở thành trợ giúp lớn nhất, hoặc nếu không sẽ thành gánh nặng lớn nhất của người vừa qua đời.

The soul takes nothing with her to the next world but her education and her culture. At the beginning of the journey to the next world, one’s education and culture can either provide the greatest assistance, or else act as the greatest burden, to the person who has just died.

Plato       

* Nếu bạn sợ bệnh, nếu bạn sợ chết thì hãy quán sát xem chúng từ đâu đến. Chúng đến từ sự sinh. Thế nên, đừng buồn khi có người chết. Cái khổ của họ trong đời này đã hết rồi. Chết là một chuyện tự nhiên thôi. Nếu bạn muốn buồn thì hãy buồn khi có người sinh ra đời: “ Tội nghiệp thay! Họ lại đến nữa rồi. Họ sắp phải đau khổ và sẽ phải chết nữa ”.

If you’re afraid of illnesses, if you are afraid of death, then you should contemplate where they come from. Where do they come from? They arise from birth. So don’t be sad when someone dies – it’s just nature, and his suffering in this life is over. If you want to be sad, be sad when people are born: “Oh, no, they’ve come again. They’re going to suffer and die again!”

Ajahn Chah       

* Cái Chết không dập tắt ánh sáng; nó chỉ là việc tắt đèn đi vì bình minh đã đến.

Death is not extinguishing the light; it is only putting out the lamp because the dawn has come.

Rabindranath Tagore       

* Ngay khi bạn sinh ra trên thế giới này, bạn đã đủ già để chết.

Once you are born in this world you’re old enough to die.

Soren Kierkegaard      

* Và tốt hơn biết bao khi chết trong thời gian hạnh phúc của tuổi trẻ còn chưa nản chí, sống hết mình trong ánh sáng rực rỡ, hơn là nhìn thể xác kiệt quệ và già nua và vỡ mộng.

And how much better to die in all the happy period of undisillusioned youth, to go out in a blaze of light, than to have your body worn out and old and illusions shattered.

Ernest Hemingway       

* Người hiểu biết phải ý thức rằng mọi pháp trên thế gian không có bản thể trường cửu. Bởi vậy, Người hiểu biết không vui hay buồn vì họ không bị cuốn trôi theo các pháp thế gian luôn luôn biến đổi này. Trở nên vui là sinh. Trở nên buồn là tử. Chết rồi lại được sinh ra, và sinh ra lại chết nữa. Sống và chết trong từng phút giây là sự luân lưu bất tận của vòng sinh tử.

The “one Who Knows” clearly knows that all conditioned phenomena are unsubstantial. So this “One Who Knows” does not become happy or sad, for it does not follow changing conditions. To become glad , is to be born; to becomes dejected, is to die. Having died, we are born again ; having been born . we die again . This birth and death from one moment to the next is the endless spinning wheel of samsara.

Ajahn Chah       

* Cái chết không phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy đến cho con người.

Death is not the worst that can happen to men.

Plato       

* Trong mỗi cái chết đều có sự hân hoan; trong mỗi khoái lạc đều có chút chết chóc.

In every death is a celebration; in every ecstasy, one little death.

Norman Mailer       

* Sinh và tử của ta chỉ là một. Bạn không thể có cái này mà chẳng có cái kia. Người ta buồn rầu than khóc khi có ai chết, và vui cười hớn hở khi thấy một đứa trẻ sinh ra đời. Thật khôi hài làm sao! Đó chỉ là ảo tưởng mà thôi. Nếu muốn khóc, hãy khóc lúc có ai sinh ra. Hãy khóc từ cái gốc, vì không có sự sinh thành, cũng sẽ không có cái chết. Bạn hiểu được không?

Our birth and death are just one thing. You can’t have one without the other. It’s a little funny to see how at a death people are so tearful and sad, and at a birth how happy and delighted. It’s delusion. I think if you really want to cry, then it would be better to do so when someone is born. Cry at the root, for if there were no birth, there would be no death. Can you understand this?

Ajahn Chah       

* Ngọt ngào sao tình yêu chân thực được trao đi trong vô vọng, ngọt ngào sao cái chết lấy đi những khổ đau.

Sweet is true love that is given in vain, and sweet is death that takes away pain.

Alfred Tennyson       

* Cái chết chỉ đơn giản là sự lột xác của thể xác cũng như con bướm chui ra khỏi kén. Nó là sự chuyển tiếp sang một trạng thái nhận thức cao hơn, mà ở đó bạn tiếp tục quan sát, nhận thức, cười, có thể trưởng thành, và thứ duy nhất mà bạn mất đi – cái mà bạn không còn cần nữa, đó chính là thể xác bạn. Điều này giống như việc bạn cất áo ấm khi mùa xuân tới và bạn biết cái áo đã trở nên quá mòn sờn và bạn không còn muốn mặc nó nữa.

Death is simply a shedding of the physical body like the butterfly coming out of a cocoon. It is a transition into a higher state of consciousness, where you continue to perceive, to understand, to laugh, to be able to grow, and the only thing that you lose is something that you don’t need anymore, and that is your physical body. It’s like putting away your winter coat when spring comes and you know that the Coat is too shabby and you don’t want to wear it any more.

Elisabeth Kubler-Ross       

* Tôi hy vọng cái chết sẽ là hạnh phúc lớn lao, hạnh phúc lớn lao như tình yêu, tình yêu thỏa nguyện.

I hope death will be a great happiness, a happiness as great as that of love, fulfilled love.

Hermann Hesse       

* Việc dễ nhất trên thế gian này là Chết. Việc khó nhất là Sống.

It is the easiest thing in the world to die. The hardest is to live.

Eddie Rickenbacker       

* Đức Phật dạy Ngài Ananda quán sát sự vô thường, quán tưởng cái chết trong từng hơi thở. Chúng ta phải hiểu sự Chết. Chúng ta chết để được sống. Câu nầy có nghĩa gì? Chết là chấm dứt mọi hoài nghi, mọi vấn đề và sống ngay trong hiện tại. Không phải ngày mai chúng ta mới chết, chúng ta phải chết ngay bây giờ. Bạn có thể làm được điều này không? Nếu làm được, thì chẳng còn vấn đề gì nữa và bình yên tĩnh lặng sẽ đến với bạn.

The Buddha told his disciple Ananda to see impermanence, to see death with every breath. We must know death; we must die in order to live. What does this mean? To die is to come to the end of all our doubts, all our questions, and just be here with the present reality. You can never die tomorrow; you must die now. Can you do it? If you can do it, you will know the peace of no more questions.

Ajahn Chah       

* Cái chết gần gũi với ta như hơi thở.

Death is as close as our breath.

Ajahn Chah       

* Nếu biết tự luyện và thực hành đúng cách thì bạn sẽ không sợ hãi mỗi khi bị bệnh và không còn đau buồn trước cái chết của người thân. Khi phải vào bệnh viện chữa trị thì hãy tự xác quyết rằng: Lành bệnh thì tốt mà không lành bệnh cũng tốt thôi. Nếu bác sĩ cho biết tôi bị ung thư và sẽ chết trong vài tháng thì tôi sẽ nhắn nhủ bác sĩ rằng: “ Hãy cảnh giác, cái chết cũng đang đến tìm ông đó! Vấn đề là ai đi trước và ai đi sau mà thôi! ”. Bác sĩ không thể chữa trị và ngăn ngừa cái Chết. Chỉ có Đức Phật mới làm được việc này. Vậy còn chần chờ gì nữa mà không dùng thuốc của Đức Phật?

If you trained properly, you wouldn’t feel frightened when you fall sick, nor upset when someone dies. When you go into the hospital for treatment, determine in your mind that if you get better, that’s fine, and that if you die, that’s fine, too. I guarantee you that if the doctors told me I had cancer and was going to die in a few months, I’d remind the doctors, “Watch out, because death is coming to get you, too. It’s just a question of who goes first and who goes later.” Doctors are not going to cure death or prevent death. Only the Buddha was such a doctor, so why not go ahead and use the Buddha’s medicine?

Ajahn Chah       

* Chúng ta sợ hãi cái Chết, ta run rẩy trước sự bất ổn định của cuộc đời, ta đau khổ khi thấy hết đóa hoa này đến đóa hoa khác héo tàn, và lá cây rụng xuống, và trong trái tim, ta biết ta cũng chỉ là một thoáng phù du và sẽ sớm tan biến. Khi người nghệ sĩ vẽ tranh và nhà tư tưởng tìm kiếm quy luật và hình thành tư duy, cũng chính là để cướp lấy thứ gì đó từ vũ điệu vĩ đại của cái Chết, để tạo ra thứ gì đó trường tồn hơn bản thân chúng ta.

We fear death, we shudder at life’s instability, we grieve to see the flowers wilt again and again, and the leaves fall, and in our hearts we know that we, too, are transitory and will soon disappear. When artists create pictures and thinkers search for laws and formulate thoughts, it is in order to salvage something from the great dance of death, to make something last longer than we do.

Hermann Hesse       

* Và một ngày nào đó, sẽ chẳng có gì còn lại của những thứ đã vặn vẹo cuộc đời tôi, không ngừng khiến tôi chất đầy đau khổ. Một ngày nào đó, trong cơn mệt mỏi cuối cùng, sự bình yên sẽ đến và đất mẹ sẽ đón tôi về nhà. Đấy không phải là kết thúc, chỉ là một cách để tái sinh, sự đắm chìm và giấc ngủ nơi những người già nua nằm xuống, nơi người trẻ bắt đầu hơi thở. Và rồi, với những suy nghĩ khác, tôi sẽ bước dọc theo những con phố, và lắng nghe các dòng chảy, và nghe điều bầu trời nói vào buổi chiều, không ngừng nghỉ.

And some day there will be nothing left of everything that has twisted my life and grieved it and filled me so often with such anguish. Some day, with the last exhaustion, peace will come and the motherly earth will gather me back home. It won’t be the end of things, only a way of being born again, a bathing and a slumbering where the old and the withered sink down, where the young and new begin to breathe. Then, with other thoughts, I will walk along streets like these, and listen to streams, and overhear what the sky says in the evening, over and over and over.

Hermann Hesse       

* Với sự trang nghiêm bao la, cái Chết là ánh sáng khiến những đam mê lớn lao, cả tốt và xấu, đều trở nên trong suốt, không còn bị giới hạn bởi vẻ bề ngoài.

Because of its tremendous solemnity Death is the light in which great passions, both good and bad, become transparent, no longer limited by outward appearences.

Soren Kierkegaard       

* Khi không hiểu được sự Chết thì cuộc sống này có nhiều lẫn lộn.

When one does not understand Death, life can be very confusing.

Ajahn Chah      

bar_divider

Thơ Hoàng Hải Thủy cho Alice ...

Ba Mươi Sáu Câu Cho Alice

Anh không biết ngày xưa em trẻ
Khi em yêu em đợi, em chờ
Có bao giờ em buồn như thể
Sáng nay em trong cửa mong thơ ?

Niềm hy vọng trong em chợt hé
Người phát thư xe đạp đi qua
Chưa bao giờ thấy em buồn thế
Khi nghiêng vai, em trở vào nhà.

Em yêu ơi … Tim anh như xé
Chưa thương em đến thế bao giờ .
Anh lặng biết em không cần kể
Những xót xa, ly tán, đợi chờ
Hồn em nặng sầu non, muộn bể
Những đau thương ray rứt không bờ
Từ cơm áo rã rời sinh kế
Đến oan khiên tù tội không ngờ
Đau chồng con chia từng giọt lệ
Thương hôm mai biết đến bao giờ
Đời u tối như chiều đông xế
Môi em thâm nên mắt em mờ
Nên em buồn não nùng như thể
Sáng nay em trong cửa đợi chờ .

Sáu năm dài dập dồn dâu bể
Đời sống ta cơ cực Thành Hồ
Anh lặng biết sao em buồn thế
Sao em gầy, sao tóc em khô!

Trên mái tóc thu về đã trễ
Trên đôi môi thoáng bóng hư vô
Trong ánh mắt não nùng xiết kể
Trên đôi vai xuân đã mơ hồ
Anh thấy cả một trời dâu bể
Anh chưa đau đến thế bao giờ
Anh lặng hiểu sao em buồn thế
Sao em mong người phát thư vô
Niềm mơ ước trong em thật bé
Em chờ mong chỉ một thùng đồ.



Còn Xót Xa Nào

Mất nhau trong cuộc biển dâu
Hồn anh hoa muộn, lá sầu hoang sơ .
Tim anh quằn quại bóng cờ
Tai anh mán hú, mọi hờ quanh năm .
Trời bỏ ta, khóc đi em
Em ơi sương lạnh trên thềm đau thương .
Ô Giang vó ngựa ngập ngừng
Cùng đường Hạng Vũ, đoạn trường Ngu Cơ .
Anh hùng lệ cũng sa mưa
Em ơi lệ ấy bây giờ đang rơi .


Câu Hỏi

Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương …..
Khóc tình tang, xót tình thương
Giữ tình ta nhé, đoạn trường vẫn yêu .
Áo vân em gửi mây chiều
Chiều nghiêng mây bạt, chiều xiêu mây về .
Lửa đời nấu mộng, nung mê
Em nghe câu hỏi não nề không em ?


Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu

Nằm trong khám tối âm u
Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa
Bồi hồi tưởng mái nhà xưa
Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao?
Thương em nhạt phấn, phai đào,
Đêm đêm trở giấc chiêm bao một mình.
Ngủ đi em, mộng bình minh
Mưa bao nhiêu giọt là tình bấy nhiêu.


*
Nằm trong khám tối nghe mưa
Đêm nào cũng thấy đêm thừa trống canh
Thương nhau nên ngủ không đành
Nhớ nhau nhưng mộng không thành, em ơi.
Anh nghe từng tiếng lệ rơi,
Biết em đang khóc nên trời đổ mưa.


*
Đêm đêm nghe tiếng tắc kè
Tưởng như tiếng gọi “Sắp về ..!” bên tai .
– “Sắp về ..!” nghe suốt đêm dài
Mơ màng cũng ấm lòng ai muốn về.
– “Sắp về ..!” nhờ chú tắc kè
Lòng ta dịu nỗi não nề thương đau.
Ngày về quyết chẳng quên nhau,
Mua ngay tặng chú một bầu rượu ngon

bar_divider

MỘT NGÀY TRONG ĐỜI

Tất cả mùa xuân rộn rã đi
Xa xôi người có nhớ thương gì ?
Sông xưa chảy mãi làm đôi ngả,
Ta biết xuân nhau có một thì !

Một ngày trong đời được diễn tả trong bài Viết ở Rừng Phong Tháng Ba 2017 không phải là một ngày trong đời Nhà Văn Solzhenytsin mà là một ngày trong đời người viết những dòng chữ này – Công Tử Hà Đông.

Tháng 12 năm 1946 chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Hà Nội, gia đình tôi từ thị xã Hà Đông chạy loạn về làng quê tôi – làng Linh Quy, tổng Kim Sơn, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh – năm 1947 tôi ở trong Ban Văn Nghệ Gia Lâm. Gọi là Ban Văn Nghệ cho oai, thực ra cái gọi là Ban Văn Nghệ này chỉ có một việc làm là đi diễn kịch tuyên truyền ở những làng chưa bị quân Pháp tấn công, chưa có đồn bót của quân Pháp trấn đóng, chưa là “làng Tề,” một thứ làng quê có đồn bót của quân Pháp đóng ở gần làng, Ban ngày lính Pháp trên đồn kiểm xoát những làng này, ban đêm nhiều làng có Việt Minh về hoạt động. Làng phải có chính quyền xã – thường là do quân Pháp chọn người và cho làm đại diện dân làng – ban đêm những ông “đại diễn bất đắc dĩ” này phải ứng phó với Việt Minh. Các ông ở trong tình cảnh “một cổ hai tròng.” Ngôn ngữ Việt Nam ở Bắc Việt thời ấy có thành ngữ “Ấm ớ Hội Tề” là do tình trạng những ông làng Bắc Kỳ phải cùng một lúc làm vừa lòng những người Việt Minh kháng chiến và người Pháp chiếm đóng.

Cái gọi là Ủy Ban Hành Chính Kháng Chiến Gia Lâm có anh Dũng làm Ủy Viên Ban Thanh Niên. Tất nhiên anh Dũng là bí danh của anh. Anh trạc 30 tuổi, chưa vợ, người không phải là dân vùng quê tôi. Anh đến sống trong làng quê tôi, anh thành lập cái gọi là Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi Gia Lâm.

Cái gọi là Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi Gia Lâm này có 5 thiếu niên, trong số có tôi và Xuân Cang, một thiếu niên bằng tuổi tôi. Làng của Xuân Cang là làng Trân Tảo, cách làng Linh Quy của rôi một cánh đồng và một con sông đào.

Năm 1947 quân Pháp hành quân qua vùng Làng tôi. Cái gọi là Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi Gia Lâm chỉ  có  5 chú thiếu niên, chú nào cũng trạc 14, 15 tuổi. Trong số những chú này có tôi. Chúng tôi diễn toàn kịch cương, tức kịch không có kịch bản, không có đối thoại. Tôi có cái kèn harmonica, dường như là kèn Butterfly. Tôi thổi cây kèn này khi các bạn tôi hát bài Tiến Quân Ca mở đầu buổi diễn kịch.

Năm 1945, 1946 tôi ở trong đoàn Hướng Đạo Đống Đa. Tôi có chừng 10 số báo Thẳng Tiến của Hướng Đạo Việt Nam. Trong những số Thẳng Tiến xuất bản mỗi tháng một kỳ này có khoảng năm, bẩy vở kịch của Hướng Đạo. Những vở kích ngắn, ít vai, dễ diễn, thường được diễn trong những đêm lửa trại của Hướng Đạo. Tôi kể cốt chuyện những vở kịch Hướng Đạo này cho các bạn tôi nghe, chúng tôi diễn cương theo ý những vở kịch ấy. Toàn là kịch vui.

Quân Pháp hành quân qua vùng, Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi Gia Lâm tan rã, anh Dũng đi qua sông Đuống sang vùng Bắc Ninh chưa bị quân Pháp đánh tới. Năm ấy những vùng đất như thế được gọi là Vùng Tự Do. Từ đó tôi không một lần được gập lại anh Dũng.

Những làng vùng quê tôi có tên chữ Hán, có tên tiếng Nộm: như tên làng tôi là Linh Quy, tên Nôm là Làng Vụi, làng Xuân Cang là làng Trân Tảo, tên Nôm là Làng Táo. Có những ngày mùa thu năm 1947, ở quê thường ăn cơm trưa sớm. Khoảng 10 giờ sáng ăn cơm xong tôi đi qua cánh đồng sang làng Xuân Cang. Đi đường tắt cho gần. Ông bố của Xuân Cang là ông nhà giầu trong làng. Bà Mẹ của Xuân Cang là bà hai, hay bà ba của ông. Bà được ông chồng lo cho một nhà riêng. Những ngày tôi đến nhà Xuân Cang, bà mẹ anh thường di chợ buôn bán vắng nhà.

Tôi đến, mỗi ngày Xuân Cang cho tôi ăn một miếng khoai lang khô, cho tôi đọc một tập truyện Ba Người Lính Ngự Lâm Pháo Thủ.

Truyên Les Trois Mousquetaires do ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch, xuất bản từng tập 30 trang. Xuân Cang cho tôi biết bộ truyện do ông anh của Xuân Cang mua, ông anh của Xuân Cang đi kháng chiến.

Năm 2010 tôi tìm thấy Xuân Cang trên Internet. Hiện nay Xuân Cang làm việc trong tòa soạn Báo Lao Động ở Hà Nội. Anh là nhà văn có nhiều tác phẩm. Tôi không biết Xuân Cang có nhớ tôi, người bạn cùng tuổi anh, từng đến nhà anh đọc truyện, ăn khoai khô năm xưa hay không.

1947 – 2017.. Tôi không biết năm nay, sống ở Hà Nội, Xuân Cang có nhớ tôi không – sống ở Kỳ Hoa, tôi còn nhớ Xuân Cang. Tôi mong Xuân Cang đọc những dòng chữ này.

Những chuyện tôi vừa kề xẩy ra năm 1947. Đã hơn 60 năm trôi qua đời tôi kể từ ngày ấy. Hôm nay một buổi sáng nắng vàng mùa Xuân ở Virginia, Miền Đất của những Người Yêu – Virginia is for Lovers – trong những ngày cuối đời tôi, tôi viết về những chuyện 50. 60 năm xưa. Với tuổi tác – năm nay, 2017, tôi 84 tuổi – tôi còn nhớ nhiều chuyện, tôi đã quên nhiều chuyện.

Một buổi chiều năm 1947, anh Dũng đưa anh em chúng tôi đến gập mấy anh bộ đội – Vệ Quốc Quân –  vừa ghé về đóng trong làng. Các anh đãi chúng tôi món khoai lang luộc. Chúng tôi ngồi quanh rổ khoai trêm thềm nhà. Anh Đại Đội Trưởng nói với chúng tôi:

– Các anh chiến đấu dành độc lập, nhưng các anh sẽ không hưởng cái hạnh phúc độc lập ấy. Các em sẽ hưởng.

Một đêm sáng trăng ở Thái Nguyên, ngồi quanh rổ sắn luộc, một anh Việt Minh trạc 30 tuổi nói với mấy chú thiếu niên liên lạc viên, trong số có tôi:

– Các anh chiến đấu là bổn phận của bọn anh. Nhưng các em đang tuổi đi học. Lẽ ra ở tuổi này các em sống  yên vui trong gia đình các em, sống trong tinh yêu thương của cha mẹ các em. Nhưng các em cũng đi chiến đấu cho đất nước như bọn anh.

Anh không nói, chúng tôi biết anh thương chúng tôi.

Ban Văn Nghệ  do anh Dũng thành lập có  5 chú thiếu niên, chú nào cũng trạc 14, 15 tuổi. Trong số những chú này có tôi. Chúng tôi diễn toàn kịch cương, tức kịch không có kịch bản, không có đối thoại.

Năm 1984 tôi bị bọn Công An Thành Hồ bắt, tôi bị chúng cho nằm phơi rốn 5 mùa lá rụng ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu và Nhà Tù Chí Hòa. Cùng bị bắt với tôi với cùng một tội: “gửi tác phẩm văn nghệ ra nước ngoài” là các anh Doãn Quốc Sĩ, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường, Duy Trác, Trần Ngọc Tự, cô Lý Thụy Ý, cô Nguyễn Thị Nhạn.

Trong thời gian bị giam dài đến 4 năm ở Nhà Tù Chí Hòa, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, anh Dương Hùng Cường bị chết thảm.

Năm 1988 chúng tôi – Doãn Quốc Sĩ, Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn và tôi bị đưa ra tòa xử. Người làm chánh án trong phiên tòa xử chúng tôi là một người đàn bà. Tôi nhớ tên bà ta là Nguyễn Thị Thu Phước. Khi vừa tuyên án xong, bà ta gập tập hồ sơ lại, đứng lên, đi ngay ra khỏi phòng.

Năm 1993 vợ chồng tôi, ba con tôi, ngồi chờ quyết định của nhân viên ODP. Ông Trưởng Ban ODP nói:

– Ông bà này – ( ông đọc tên vợ tôi, tên tôi ) – được nhận sang Hoa Kỳ, được coi là tỵ nạn chính trị. Mấy người kia không được xét đến.

Nói xong, ông gập tập hồ sơ lại, đi ngay ra khỏi phòng.

Nhiều năm qua tôi vẫn nhớ hình ảnh hai lần người ta tuyên án về số phận vợ chồng tôi và các con tôi. Vừa tuyên án xong, người ta gập ngay hồ sơ, đi ngay ra khỏi phòng.

Vợ chồng tôi sang Mỹ năm 1994. Ba con tôi không được cùng sang Mỹ với chúng tôi vì năm đó các con tôi không sống trong cùng một nhà với chúng tôi. Năm 2003 nhờ Thượng Nghị Sĩ John McCain đệ trình Quốc Hội Tu Chính Án cho phép con những người đi HO vì không ở cùng nhà với bố mẹ nên không được sang Mỹ, nay được sang Mỹ. Hai con chúng tôi sang Mỹ, một con chúng tôi ở lại Sài Gòn.

Chính phủ Hoa Kỳ chỉ nhận đón sang Kỳ Hoa những người Việt bị Công Sản bắt đi tù từ 3 năm trở lên vì “tội là ngụy quân, ngụy quyền.”

Tôi và vợ con tôi được sang Hoa Kỳ như các ông sĩ quan đi HO vì tôi là nhân viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, và tôi bị CS bắt tù 2 lần, tất cả là tù 8 năm.

Nhân Viên ODP cho vợ chồng tôi hưởng tiêu chuẩn tỵ nạn chính trị. Chúng tôi không xin, chúng tôi có xin cũng không được.

Năm 1993 tôi được giấy của cơ quan USIA – Cục Thông Tin Hoa Kỳ –  cho biết tôi và vợ con tôi được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhận cho sang Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.

Vợ chồng tôi làm hồ sơ xin đi. Trong khi chúng tôi chưa biết chúng tôi nên xin đến sống ở thành phố Hoa Kỳ nào, chúng tôi được thư của ông bà Anh Ngọc, ông bà sang Hoa Kỳ khoảng năm 1990. Trong thư có tấm ảnh ông bà ngồi trên thảm cỏ xanh, quanh ông bà là những chiếc lá thu vàng. Ông bà ghi những tấm ảnh này ở Virginia.

Nhìn ảnh, vợ chồng tôi bảo nhau:

– Đẹp quá. Chúng mình đến Virginia nhé.

Cùng những ngày ấy tôi thường nghe những buổi phát thanh tiếng Việt của Đài VOA. Tình cờ tôi nghe được buổi ông Nguyễn Ngọc Bích phỏng vấn bà Khúc Minh Thơ, bà Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị. Bà Khúc Minh Thơ, ông Nguyễn Ngọc Bích cùng sống ở Virginia, Thành phố Falls Church, Quận Fairfax, Thủ đô Wasington DC nằm trong bang Virginia.

Tôi gửi thư xin bà Khúc Minh Thơ làm sponsor – người bảo lãnh cho vợ chồng tôi. Và một buổi trưa Tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi líu ríu dắt nhau vào phi trường Reagan. Bạn hữu đến đón chúng tôi thật đông.

Bà Khúc Minh Thơ giúp vợ chồng tôi và các con tôi thật nhiều. Vợ chồng tôi không bao giờ quên Tình và Ân của Bà Khúc Minh Thơ.

Những ngày như lá, tháng như mây…

Thấm thoắt vậy mà đã 23 năm…

Cảm khái cách gì!

Đến thành phố Falls Church, tôi được quen Thi sĩ Thái Thụy Vy. Anh sống trong một tòa nhà có nhiều phòng do Sở Xã Hội Quận Fairfax mướn và cho những người già có tiền thu nhập thấp mướn lại. Sở Xã Hội mướn nhà khoảng 1000 Đô một tháng, người nghèo như vợ chồng tôi chỉ phải trả tiến nhà bằng 1/3 số tiền SSI của chúng tôi. Thái Thụy Vy chỉ cách cho vợ chồng tôi xin mướn nhà cùng nhà anh ở. Nhà này gần Trung Tâm Eden. Những ngày thu dịu nắng nhiều ông bà trong nhà chúng tôi có thể đi bộ ra Trung Tâm Eden. Trong hai, ba năm đầu Thái Thụy Vy sốt sắng đưa vợ chồng tôi đi khắp nơi trong Virginia. Anh cư xử thật tốt với vợ chồng tôi.

Không đi làm việc một ngày ở Mỹ, không từng đóng một đồng thuế, tiền SSI của vợ chồng tôi, hai người, là 1200 Đô, chúng tôi trả tiền nhà mỗi tháng là 320 Đô, tiền điện nước ở trong 320 Đô. Chúng tôi được cấp Medicaid, Medicare.

Căn phòng vợ chồng tôi sống líu ríu bên nhau có khung cửa sổ lớn nhìn ra hướng Đông Nam. Buổi sáng mặt trời hồng lên ở bên tay trái tôi, nắng sáng chiếu vào tận bếp phòng tôi. Đêm trăng, nửa đêm tôi thấy trăng qua khung cửa sổ, nằm giữa phòng tôi.

Đến sống ở nhà này tôi gặp lại ba người quen cũ.

Tôi quen với Trần Kính năm 1954 ở Sài Gòn, tôi gập lại anh năm 1956 khi anh là huấn luyên viên Thể Dục ở thành phố Nha Trang. Anh là một trong số những ông bạn đến phi trường đón vợ chồng tôi khi chúng tôi đến Mỹ. Anh sống nhiều năm trong cùng tòa nhà gọi là Nhà Già với vợ chồng tôi. Anh qua đời vì bệnh khoảng năm 2008.

Người tôi quen cũ thứ hai tôi gập lại trong Nhà Già là ông Lê Phùng Thời. Ông này nguyên là dân biểu thời TT Ngô Đình Diệm. Dường như vì chống chính quyền Ngô Đình Diệm, có nhiều năm ông Lê Phùng Thời phải sang sống ở Nam Vang, Cao Miên.

Ông LP Thời sống một mình trong Nhà Già. Rồi ông bỏ Virginia, ông đi sống ở nơi khác.

Người quen xưa tôi gặp lại ở Nhà Già này là bà Tuấn. Những năm 1947, 1948 bà là nhân viên Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm. Bí danh của bà là Cô Tú. Tôi năm ấy hoạt động cùng một cơ quan với bà, tôi gọi bà là chị.

Sáu mươi năm sau tôi tình cờ gập lại bà trong tòa Nhà Già này ở Virginia. Tôi nhớ bà là chị Tú của tôi năm xưa. Nhưng bà không nhớ tôi. Gợi chuyện bà nói bà nhớ có thời gian đi kháng chiến bà ở Bắc Ninh, nhưng bà không nhớ tôi là ai. Nay bà đã rời nhà này, tôi nghe nói bà về sống với con gái của bà.

Đọc sách mười năm học lấy quên 
ta, đêm Hồng Thủy dạo con thuyền
giận công trác tuyệt trời khai thác
tay cuốn dòng sông, nổi sóng lên
ruộng đất đã nguôi lòng thảo dã
mặc ta rừng núi khóc lâm tuyền
thơ đâu? chẳng nói lời yêu hoặc
vẽ mặt sầu nhân, nét bút điên? 

ĐINH HÙNG

Tôi không học Quên. Nhưng đến Tuổi Già – Tám Bó – tôi Quên như mọi Ông Già Tám Bó trong cõi đời này. Tôi Quên nhưng tôi Quên Vừa Phải thôi, tật Quên của tôi chưa có gì tai hại nhiều cho tôi. Nay tôi quên những chuyện mới xẩy ra, quên ký trả bill, quên những việc tôi phải làm..v..v.. Tôi nhớ những chuyện đến với tôi sáu mươi, bẩy mươi năm trước.

Trong Nhà Già vợ chồng tôi sống từ 23 năm nay có bà già 91 tuổi, bà Năm Hầu. Trước đây khoảng năm, sáu tháng, sau vài phút nhìn mặt và nhớ lại, bà còn gọi đúng tên vợ tôi, tên tôi. Nay bà ngày ngày ra nhà khách ngồi nhìn người qua lại nhưng bà không còn nhớ tên ai.

Nhà già của vợ chồng tôi có hai ông già, ông nào cũng trên 90 tuổi: ông Phan Vỹ và ông Lương Tuất.

Ông Phan Vỹ là thành viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông bị tù khổ sai nhiều năm ở quê nhà. Ông ăn chay trường. Hai, ba năm trước ông hoạt động mạnh, ông luôn đi dự những hội nghị chống Cộng, ở New York, ở London. Ngoài 90 tuổi tâm trí ông vẫn sáng, vẫn nhớ, ông không Quên, ông vẫn chăm đi Lễ Chùa.

Ông Lương Tuất nguyên là doanh gia ở Sài Gòn. Ông là chủ nhân Nhà Hàng Queen Bee ở tòa nhà Eden Sài Gòn. Ông từng nghiên cứu Khoa Châm Cứu, ông là tác giả bộ sách về Khoa Châm Cứu dầy cả ngàn trang.

Viết đấn đây tôi thấm mệt. Bài Viết ở Rừng Phong này phải gửi qua tòa báo ở Cali trong tối nay. Tôi mời quí bạn đọc bài này:

Trích TẠI NGỤC VỊNH KIỀU, Viết cho Người Yêu

Về mục nhà ông Viên Ngoại họ Vương được tả là “thâm nghiêm kín cổng cao tường”, Công tử Hà Đông bèn có thơ rằng:

Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành mỉa mai…
Mỉa mai nó mỉa mai ai?
Thâm nghiêm có cái mặt ngoài mà thôi.
Bề trong thì chán mớ đời
Cô em trong trắng quá chời là trong!
Dưới hoa em kết giải đồng,
Cuối tường em lộn nẻo thông mới rào.
Sắn tay em cho nó mở khóa động đào,
Rẽ mây em cho nó trông tỏ lối vào thiên thai.
Con oanh nói mỉa, nói mai
Mỉa mai nó mỉa: “Nhà này thật thâm…”

Khi Thúy Kiều xăm xăm băng lối vườn khuya một mình thì lúc đó trăng đã nhặt thưa gương rọi đầu cành, tức là vào khoảng 7, 8 giờ tối, giờ Tây Dương – đêm trăng ấy lên sớm.

Đến lúc đôi tình nhân diễn trò thề thốt dưới trăng thì trăng đã vằng vặc giữa trời, tức là trăng đã lên đến đỉnh trời. Thúy Kiều ở lại đó thề thốt, ký văn tự, đàn ca, uống rượu, đưa đầy với Kim Trọng mãi cho đến khi bóng tàu vừa lạt vẻ ngân, tức là khi ánh trăng đã nhạt trên những tàu lá chuối trong vườn.

Thời gian lúc trăng nhạt, trăng lặn đó phải là 3, 4 giờ sáng, giờ Tây Dương. Như vậy là Thúy Kiều đã qua gần một đêm trắng với Kim Trọng. Nếu không có tên gia đồng vào gửi tin nhà mới sang thì ta có thể nói mà không sợ mang lỗi vu oan cho nàng là nàng sẽ passnight với Kim Trọng. Không những chỉ qua đêm mà thôi, nàng còn có thể ở đó tới trưa hôm sau mới trở về cái gọi là đài trang hết sức thâm nghiêm kín cổng cao tường của nàng.
Việc Thúy Kiều chui rào qua nhà Kim Trọng vào cái năm Gia Tĩnh triều Minh cách nay cả năm sáu trăm năm ấy là một việc những thiếu nữ lương thiện đời nào cũng không nên làm. Nhưng việc Thúy Kiều lẻn sang nhà Kim Trọng vào buổi chiều và vào lúc nửa đêm cũng chưa ly kỳ bằng sau khi được tin “… thúc phụ từ đường. Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. Liêu Dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang…”, Kim Trọng đã cũng chui rào, hoặc leo tường, phăng phăng vào tận phòng ngủ của Thúy Kiều để chia tay. Tự do cứ như là nhà Thúy Kiều không còn một người nào khác ngoài Thúy Kiều. Luông tuồng đến như vậy nhưng mỉa mai thay, tòa nhà Viên Ngoại họ Vương vẫn được mô tả là:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.

Mấy lần cửa đóng then cài
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?

Về mục nhà ông Viên Ngoại họ Vương được tả là “thâm nghiêm kín cổng cao tường”, Công tử Hà Đông bèn có thơ rằng:

Con oanh nó mỉa, nó mai

Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành mỉa mai…
Mỉa mai nó mỉa mai ai?
Thâm nghiêm có cái mặt ngoài mà thôi.
Bề trong thì chán mớ đời
Cô em trong trắng quá chời là trong!
Dưới hoa em kết giải đồng,
Cuối tường em lộn nẻo thông mới rào.
Sắn tay em cho nó mở khóa động đào,
Rẽ mây em cho nó trông tỏ lối vào thiên thai.
Con oanh nói mỉa, nói mai
Mỉa mai nó mỉa: “Nhà này thật thâm…”

Khi Thúy Kiều xăm xăm băng lối vườn khuya một mình thì lúc đó trăng đã nhặt thưa gương rọi đầu cành, tức là vào khoảng 7, 8 giờ tối, giờ Tây Dương – đêm trăng ấy lên sớm. Đến lúc đôi tình nhân diễn trò thề thốt dưới trăng thì trăng đã vằng vặc giữa trời, tức là trăng đã lên đến đỉnh trời. Thúy Kiều ở lại đó thề thốt, ký văn tự, đàn ca, uống rượu, đưa đầy với Kim Trọng mãi cho đến khi bóng tàu vừa lạt vẻ ngân, tức là khi ánh trăng đã nhạt trên những tàu lá chuối trong vườn. Thời gian lúc trăng nhạt, trăng lặng đó phải là 3, 4 giờ sáng, giờ Tây Dương. Như vậy là nàng đã qua gần một đêm trắng với Kim Trọng. Nếu không có tên gia đồng vào gửi tin nhà mới sang thì ta có thể nói mà không sợ mang lỗi vu oan cho nàng là nàng sẽ pass night với Kim Trọng. Không những chỉ qua đêm mà thôi, nàng còn có thể ở đó tới trưa hôm sau mới trở về cái gọi là  “đài trang hết sức thâm nghiêm kín cổng cao tường” của nàng.

Việc Thúy Kiều chui rào qua nhà Kim Trọng vào cái năm Gia Tĩnh triều Minh cách nay cả năm sáu trăm năm ấy là một việc mà những thiếu nữ lương thiện đời nào cũng không nên làm. Nhưng việc Thúy Kiều lẻn sang nhà Kim Trọng vào buổi chiều và vào lúc nửa đêm cũng chưa ly kỳ bằng sau khi được tin “… thúc phụ từ đường. Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. Liêu Dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang…”, Kim Trọng đã cũng chui rào, hoặc leo tường, phăng phăng vào tận phòng ngủ của Thúy Kiều để chia tay. Tự do cứ như là nhà Thúy Kiều không còn một người nào khác ngoài Thúy Kiều. Luông tuồng đến như vậy nhưng mỉa mai thay, tòa nhà Viên Ngoại họ Vương vẫn được mô tả là:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.

Mấy lần cửa đóng then cài
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?

Viết ở Sài Gòn năm 1991.

Viết ở Kỳ Hoa Tháng Ba 2017

Tất cả mùa xuân rộn rã đi
Xa xôi người có nhớ thương gì ?
Sông xưa chảy mãi làm đôi ngả,
Ta biết xuân nhau có một thì !

Cảm khái cách gì.

HOÀNG HẢI THỦY 

bar_divider

  TÀI VÀ TUỔI

Những ngày như lá, tháng như mây..” Thơ Thanh Nam. Mới đó mà thời gian đã 40 mùa thu lá bay  qua cuộc đời tôi.

Mới đó là buổi sáng, hay buổi chiều, tôi không nhớ rõ, ngồi bên tủ thuốc lá của Lê Xuyên, tôi nghe Lê Xuyên nói:

“Bây giờ tôi biết thế nào là thiên mệnh.”

Tôi không hỏi, Lê Xuyên không nói thêm. Thời gian qua dễ đến 40 năm, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn thắc mắc không biết Lê Xuyên muốn nói gì với tiếng “thiên mệnh.” Không lẽ cái “thiên mệnh” anh nói đó là việc Quốc Gia Việt Nam Công Hòa bị tiêu vong, là việc cờ máu và ảnh Lão Hồ Chí Minh vào thành phố Sài Gòn, hay đó là việc anh phải ngừng viết tiểu thuyết, ngừng viết mãi mãi, ngừng viết suốt những năm tháng anh còn sống kể từ 12 giờ trưa Ngày 30 Tháng Tư 1975, hay anh muốn nói “thiên mệnh” là việc anh ngồi bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè từ năm, sáu giờ sáng  đến tám, chín giờ tối.

Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, có thể nói “tất cả” giới văn nghệ sĩ Sài Gòn sống lơ bơ, lờ phờ. Không một người nào có việc làm, không người nào kiếm ra được một đồng bạc. Trong những ngày tháng chúng tôi sống dở, chết dở ấy, tôi biết có ba người bắt tay ngay vào việc kiếm sống. Đó là các anh Tường Tuấn, Trần Phong Giao và Lê Xuyên. Tường Tuấn bán cà phê ngay trước cửa nhà anh. Vì quá thừa thì giờ, anh bán cà phê cho đỡ buồn, không phải để kiếm sống. Có thể nói tiệm cà phê Tường Tuấn là tiệm cà phe nghèo nhất thế giới. Tôi phải viết rõ: vì quá buồn, vì không có việc gì để làm, vì ngày quá dài, đêm quá sâu, nhiều người Sài Gòn ra vỉa hè bầy bán thứ gì đó cho qua ngày, không phải để kiếm sống.

Vào khoảng năm 1980 Sài Gòn có rất nhiều quán cà phê vỉa hè. Toàn là quán lộ thiên. Hai, ba cái bàn, vài cái ghế đóng bằng loại gỗ thùng. Cà phe Tường Tuấn ở đường Trương Minh Ký, khoảng trước Nhà Thờ Ba Chuông. Sáng sáng có một bà mang cà phe đi giao cho những tiệm cà phe vỉa hè trên con đường này. Bà giao cho mỗi tiệm một bao nylon một lạng cà phe. Giao hàng mà không lấy tiền ngay. Bà đi suốt sáng từ đầu đường đến cuối đường, rồi đi trở lại. Bà đi qua hỏi xem có tiệm nào cần lấy thêm cà phe; và bà thu tiền. Năm 1980 một ly cà phê đen vỉa hè Sài Gòn giá 1 đồng.

Tường Tuấn là ký giả nhật báo Xây Dựng, chủ nhiệm Linh Mục Nguyễn Quang Lãm. Trước Ngày 30 Tháng Tư 1975, anh không ngồi quán cà phe đấu hót cả buổi, không sống bừa bãi như nhiều ký giả thời ấy.

Có nhiều tháng Trần Phong Giao, nhà ở Tân Định, gần mấy vựa củi, sáng chở ba, bốn bó củi trên xe đạp, mỗi bó một đồng, đi giao cho những chỗ bán chuối nướng trên đường Phạm Ngũ Lão, khoảng trước tòa soạn báo Văn. Bó củi một đồng mà những chị bán chuối nướng vỉa hè cũng không có tiền trả ngay, gần trưa Trần Phong Giao phải trở lại lấy tiền.

Lê Xuyên là văn nghệ sĩ xuống đường kiếm sống trước nhất. Những tháng đầu sau 30 Tháng Tư 1975, từ 4 giờ sáng anh đến lò bánh lấy bánh đem giao cho những xe bánh ở Ngã Ba Ông Tạ, Ngã Tư Bẩy Hiến. Buổi chiều anh đạp xe đi thu tiền. Nhà tôi ở vùng này. Gập anh trên đường, tôi mời anh chiều hôm sau đến nhà tôi, ăn cơm với vợ chồng tôi.

Lê Xuyên đến. Xe anh có cái cần xế đựng bánh. Tôi thấy trong cần xế có cái bơm xe đẹp, loại bơm cỡ lớn thường thấy ở những góc sửa xe đạp lề đường. Lê Xuyên nói ruột xe của anh bị mọt, sì hơi, đi khoảng một tiếng là lốp xep, phải bơm lại. Anh không thể mượn bơm của những người sửa xe vệ đường. Mượn bơm phải trả chủ bơm 1 đồng. Giao bánh mỗi ngày anh kiếm được khoảng 10 đồng. Một ruột bánh xe máy  năm đó giá 100 đồng, Anh không có tiền mua ruột bánh xe mới.

Rồi Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ ờ vỉa hè. Anh ngồi với tủ thuốc lá dưới mái tôn một tiệm hủ tiếu. Anh nói:

— Phụ nữ không thể ngồi bán thuốc lá như tôi. Ông coi.. Trời nắng, hơi nóng từ mái tôn dội xuống, từ mặt đường bốc lên. Tàn phai nhan sắc kinh khủng lắm.

Lê Xuyên bán thuốc lá vỉa hè mãi đến khi anh không ngồi được nữa. Bị bại liệt, anh nằm nhà và anh im lặng qua đời.

Hôm nay 40 năm sau ngày nghe Lê Xuyên nói anh “tri thiên mệnh,” tôi kể chuyên anh để nói trong đời tôi, tôi đã không “tri thiên mệnh.” Cho đến những ngày cuối đời tôi, tôi không biết thế nào là “thiên mệnh.”

o O o

Năm nay – 2016 – tôi 84 tuổi. Những ngày sống của tôi không còn bao lâu. Đã hơn một lần, trong những bài Viết ở Rừng Phong, tôi gửi lời chào vĩnh biêt bạn đọc. Tối nay, tôi chào vĩnh biệt quí vị lần nữa; tôi cám ơn quí vị đã đọc những gì tôi viết từ bao năm nay.

Tôi là người viết nhiều về tôi, về vợ con tôi, về những mối tình của tôi. Ngạn ngữ Pháp có câu “Le Moi est haisable.” Cái Tôi là cái đáng ghét. Theo câu nói này “người nào nói nhiều về minh là người đáng ghét.” Tôi viết nhiều về Tôi nhưng tôi thấy tôi không bị người đọc ghét. Không có người đọc nào chê trách tôi đã viết nhiều về Tôi. Trong hai mươi năm sống và viết ở Kỳ Hoa, – vợ chồng tôi đến Mỹ đầu năm 1995 –  nhiều ông bạn già đọc những bài Viết ở Rừng Phong của tôi. Có những ông nói với tôi:

— Cám ơn ông. Ông đã nói lên những gì chúng tôi muốn nói.

— Đọc anh để nhớ, để thương Sài Gòn.

— Đọc anh để biết về cuộc sống dưới ách cộng sản của những văn nghệ sĩ.

Văn Quang, hiện sống ở Sài Gòn, gửi I-Meo – Email – cho tôi:

– Mày đã viết thay cho những cặp vợ chồng yêu thương nhau từ trẻ đến già.

o O o

Những năm 1940, 1941 , khi tôi mới mười một, mười hai tuổi, sống ở thành phố Hà Ðông xứ Bắc Kỳ, tỉnh nhỏ nằm ngay sát nách và dưới nách Thủ đô Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường, tôi đã say mê đọc tiểu thuyết. Nhiều năm về sau một bà bạn của mẹ tôi những năm xưa ấy thường đến chơi với mẹ tôi, nói với tôi:

— Ngày ấy tôi đã biết về sau thể nào anh cũng trở thành văn sĩ. Lần nào tôi đến nhà anh cũng thấy anh cầm một trong ba thứ: quyển truyện, cái kèn harmonica, cây súng cao su…

Ngày ấy, nói ngày ấy thì nhẹ thôi, nhưng ngày ấy là năm mươi mùa ổi chín trước kia, hoặc ngày ấy là nưả thế kỷ về trước, nửa thế kỷ trần ai, khoai sùng đã trôi vào cái gọi văn huê là dĩ vãng, ngày ấy không những tôi chỉ mê đọc truyện mà thôi — nhiều chú nhóc bằng tuổi tôi cũng say mê đọc truyện như tôi nếu không muốn nói là say mê hơn tôi nhiều — tôi mê đọc truyện và tôi còn mơ đến việc mai sau tôi cũng sẽ viết tiểu thuyết như các ông Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng.

Ngay từ ngày đó không biết vì sao tôi đã không thích viết theo lối văn chương sạch, đẹp, nhưng không có thật, những truyện không có những sự kiện phũ phàng, không có những đối thoại trần tục của người thường, tôi không thích tạo dựng những nhân vật lý tưởng, lúc nào cũng cư xử đường hoàng, đứng đắn, không “ăn tục, nói phét” như những truyện và những nhân vật của các ông Khái Hưng, Nhất Linh.

Tôi ngẩn ngơ trước thế giới thời ấy, thế giới tôi thấy là thần kỳ, tuyệt vời được Nhà Văn Lê Văn Trương diễn tả trong tiểu thuyết Trường Ðời. Ðọc Trường Ðời tôi thán phục Trọng Khang, tôi mê Marie Khánh Ngọc, tôi khinh bỉ Francois Giáp — ba nhân vật chính của tiểu thuyết Trường Ðời.

Ngây ngất trên những trang Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, tôi thấy mơ màng ẩn hiện hình ảnh Vạn Tóc Mai nằm đấu hót bên bàn đèn thuốc phiện, cảnh Ông già Hải Vân xuất ngoại đi làm cách mạng chia tay với anh con Tú Anh trên bãi biển đêm mưa tầm tã, cảnh Tuyết nằm trên nệm bông, trong ánh đèn mờ ảo trên những trang tiểu thuyết Giông Tố. Tuyết nằm khỏa thân, làn “âm mao” mơn mởn…

Kể từ ngày ta có chữ Quốc ngữ đến nay tôi thấy mới chỉ có một mình Văn sĩ Vũ Trọng Phụng tả người thiếu nữ nằm trần truồng chờ đợi tình yêu và tả làn “âm mao” của nàng. Dường như từ khởi thủy Việt Nam ta có tiểu thuyết đến nay ông Vũ Trọng Phụng là người viết tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất đưa hai tiếng “âm mao” vào tiểu thuyết. Ông ngang nhiên viết “âm mao” lên giấy trắng, mực đen, in thành tiểu thuyết cho đồng bào ông đọc.

Cứ rộng rãi cho là cả trăm năm sau ngày ông Vũ Trọng Phụng hạ ngọn bút thần kỳ diễn tả nữ nhân vật Tuyết Giông Tố, những người viết sau ông, tức những ông dzăng sĩ, tiểu thuyết gia kiêm tiểu thuyết dzô lớn nhỏ, kể cả những ông viết hung hãn, liều mạng, ba đá, hăng tiết vịt nhất.. cũng chưa có ông nào dám diễn tả cái gọi là “âm mao” như ông trong những cái gọi là tác phẩm tiểu thuyết.

Hơn một nửa thế kỷ đã qua, tôi và những người từng đọc Vũ Trọng Phụng vẫn nhớ, và vẫn đôi khi nhớ, nói, những câu trong Giông Tố và Số Ðỏ như:

— Nàng không yêu ta, ta phải hiếp nàng..

— Ông lại hiếp cho một cái nữa bây giờ…

— Táo Tầu Nghị Hách…

— Thế này thì còn làm ăn cái mẹ gì được nữa..

— Mịch đã nằm nghiêng cho Long hưởng thụ ái tình.

— Biết rồi… Khổ lắm… Nói mãi…

Ngày xưa ấy tuổi đời mới Một Bó lẻ mấy que nào tôi đã biết gì về những “lý thuyết dzăng nghệ, dzăng gừng”. Nhưng tôi đã lờ mờ thấy việc viết tiểu thuyết là một việc làm hết sức hấp dẫn, người viết tiểu thuyết là một Ðấng Tạo Hoá Toàn Năng trong tác phẩm của mình, người viết sáng tạo ra một thế giới riêng của mình trên những trang truyện. Trong thế giới riêng ấy người viết tạo ra những nhân vật riêng, cho họ là người có nhân cách, được yêu thương hay là người hèn mạt, đểu giả, bị khinh bỉ. Tất cả đều do ý muốn của người viết. Người viết cũng cho, cũng bắt nhân vật sống, chết, yêu thương, thù ghét, sung sướng, đau khổ theo ý mình.

Thời ấy, năm mươi mùa lá rụng trước đây, những buổi chiều mùa đông trời đất sám sịt, nằm một mình trên căn gác vắng trong căn nhà của gia đình tôi trong tỉnh lỵ Hà Ðông, tôi thường rờn rợn sợ vì nhà vắng quá, vì chưa tối mà nhà đã lờ mờ tranh tối, tranh sáng. Những chiều xưa ấy tôi đã mơ màng mai sau tôi cũng sẽ viết tiểu thuyết như các ông Lê văn Trương, Vũ Trọng Phụng. Tôi mơ ước tôi sẽ sáng tạo được những thế giới của riêng tôi, trong thế giới đó tôi cho những nhân vật của riêng tôi sống chết, yêu thương, thù ghét như ý tôi muốn.

Như vậy là, xin nhắc lại, tôi mơ được viết tiểu thuyết từ những ngày xưa tôi còn bé. Tôi không bao giờ mơ, hay muốn, thích, làm bác sĩ, kỹ sư. Tôi lại càng không ưa làm tri phủ, tri huyện — những ông Phủ, ông Huyện tôi thấy ở Hà Ðông năm xưa ấy đều là những mẫu người chẳng hào hoa, phong nhã chút nào. Cũng cần phải nói thêm tôi vốn dốt nát, lười biếng, ham chơi hơn học, lơ đãng, tôi có muốn làm kỹ sư, bác sĩ cũng chẳng có được. Nhưng quả thực là ngay từ khi mới nứt mắt, tôi đã ước mơ mai sau trưởng thành tôi viết tiểu thuyết.

Một chiều thứ bẩy ông bố tôi không phải đi làm. Ngủ trưa trở dậy ông uống trà Tầu, hút vài điếu thuốc lào, nói vài ba câu với mẹ tôi rồi dắt tôi đi ra cánh đồng gần nhà. Thời ấy thị trấn liền với cánh đồng. Chiều xuân, cảnh sắc cánh đồng của bố con tôi không hẳn như cảnh xuân được tả trong Kiều: “Cỏ non xanh rợn chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” nhưng cũng rất đẹp. Cánh đồng trồng toàn các thứ rau xanh mơn mởn. Ông bố tôi có bà vợ chết chôn ở cánh đồng này. Chiều ấy ông đi thăm mộ.

Trên đường đi, bố tôi hỏi tôi mai sau tôi muốn làm gì? Câu hỏi bất ngờ, tôi không chờ đợi và cũng chưa bao giờ ngờ có ngày tôi sẽ bị hỏi một câu như thế, câu trả lời đã nằm sẵn trong tiềm thức của tôi. Không nghĩ ngợi cũng không chút đắn đo, tôi trả lời ngay boong:

— Mai sau con muốn làm văn sĩ.

Ðang nắm tay tôi bước đi, câu trả lời xanh rờn của tôi làm ông bố tôi phải đứng lại. Ông nhìn tôi rồi ông nói:

— Viết văn, làm thơ không phải là một nghề nuôi nổi mình. Con phải đi học, đi làm như thầy, con phải kiếm được tiền nuôi thân con và vợ con con. Lúc đó con có thể làm thơ, viết văn, nhưng chỉ làm để chơi thôi.

Ông bố tôi nói câu trên vào năm 1940. Năm ấy ông nói đúng. Khi khuyên anh con như thế ông nghĩ đến những ông nhà thơ như Trần Tế Xương, Tản Ðà. Báo chí A-nam trước 1945 chưa thành một kỹ nghệ. Mười năm sau ở Sàigòn — 1950 — tình hình đổi khác.

o O o

Sau bốn năm đi kháng chiến chống Pháp ở vùng Gia Lâm, Thuận Thành, Lang Tài, Từ Sơn, Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, tôi trở về Hà Nội.

Tôi đi xem xi-nê ở tất cả những rạp xi-nê mới cũ của Hà Nội: Rạp Majestic mới xây cất lại sau chiến tranh Việt Pháp, rạp mới toanh, hiện đại nhất Ðông Dương, Studio Majestic nằm ngay cạnh rạp chính, Rạp Eden cổ kính với những thân cột đá trang nghiêm giống như những đền thánh Ba Tư trong những phim thần thoại Ngàn Lẻ Một Ðêm, Rạp Studio Eden cũng nhỏ như Studio Majestic — hai rạp Studio này chuyên chiếu những phim Pháp thuộc loại sân khấu chuyển thể thành phim phục vụ Tây Ðầm — Hà Nội có thêm rạp xi-nê Ciro’s mới toanh, rạp Porte d’Or trong Cao Lâu Ðông Hưng Viên cũng mới toanh, rạp Philharmonique ở Bờ Hồ, rạp Trung Quốc Hàng Bạc. Rạp Moderne Hàng Ðàn, Xi-nê Olympia Chợ Hàng Da bị tàn phá vì chiến tranh vừa mới được sửa lại.

Tôi ăn thịt bò khô chú Tầu Bờ Hồ, uống nước chanh đá Quán Mụ Béo, ăn phở Hàm Long. đi bơi Hồ Tây, Rặng Oi, cắp sách trở lại Trường Văn Lang đường Phạm phú Thứ . Và tôi bắt đầu viết truyện.

Không những tôi chỉ viết truyện ngắn mà thôi, tôi còn viết cả truyện dài. Năm ấy — 1950 — tôi chưa được hân hạnh quen biết, cũng chưa có dịp nào mon men đến gần một ông dzăng sĩ, báo sĩ nào của làng văn, làng báo Hà Nội, kể cả những ông dzăng sĩ, báo sĩ hạng bét. Năm ấy tôi chưa dủ sức viết nổi một truyện ngắn. Việc tôi viết truyện dài là chuyện hoang tưởng.

Nhưng tôi cứ cặm cụi viết. Tác phẩm đầu tay của tôi nằm trong hai tập vở học trò, mỗi tập 100 trang, trừ đi 4 trang bià còn 96 trang. Viết một mặt giấy nên cả cái gọi là truyện dài của tôi chưa được đủ 100 trang chữ viết tay.

Tôi đem tác phẩm đầu tay đến nhà xuất bản. ông chủ nhà xuất bản nói:

— Anh để tác phẩm lại đây chúng tôi xem. Sẽ trả lời anh sau…

— Thưa… bao giờ tôi trở lại được?

— Tuần sau.

Một tuần chờ đợi đầy những hy vọng. Biết đâu tác phẩm của tôi lại chẳng được ông chủ nhà xuất bản cho là có thể xuất bản được? Biết đâu đấy! Khi ta chờ đợi, ta thấy thì giờ qua thật lâu. Ðúng một tuần sau tôi trở lại nhà xuất bản. Vẫn cái nhà đó, vẫn ông chủ nhà tôi gập và trao tác phẩm ngày này tuần trước, chỉ có một chuyện cần nói là ông ta không nhớ ông đã gập tôi. Ông nhìn tôi như nhìn một kẻ hoàn toàn xa lạ với ông:

— Thưa ông.. tôi đến xin ông cho biết về quyển truyện của tôi…

Ông théc méc:

— Quyển truyện nào nhỉ?

— Thưa quyển truyện tôi đưa ông tuần trước. Ông nói để ông đọc, ông hẹn tôi hôm nay trở lại.

— À… à..

Ông tìm trong ngăn kéo. Tôi thấy rõ tác phẩm của tôi được ông bỏ vô đấy và ông quên đi.

Ông lấy “tác phẩm” của tôi ra, hai quyển vở, đưa trả lại tôi. Tôi để mất cái gọi là “tác phẩm đầu tay” năm xưa ấy của tôi. Nếu còn, tôi đã đăng lên đây để quí vị độc giả của tôi đọc.

Năm 1951, lần thứ hai tôi đem tiểu thuyết của tôi đi dạm bán. Lần này xẩy ra ở Sài Gòn. Ông thân tôi là công chức. năm 1950  ông được chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn làm việc. Mẹ tôi và anh em tôi vào Sài Gòn theo ông.

Tôi viết cái gọi là “tác phẩm đầu tay” thứ hai của tôi ở Hòa Hưng, Sài Gòn. Cũng vẫn 2 quyển vở học trò. Lần này tôi mang “tác phẩm” tới tòa soạn nhật báo Saigonmoi. Người tiếp tôi là ông chủ bút Nguyễn Dân.

Bổn cũ soạn lại:

— Xin ông xem.. Nếu được, xin đăng báo.

—  Để chúng tôi đọc. Tuần sau anh trở lại.

Ông chủ bút Nguyễn Dân báo Saigonmoi coi bộ còn quên nhiều hơn ông chủ nhà xuất bản ở Hà Nội. Ông ngơ ngác:

— Quyển truyện nào?

Tôi nhắc ông. Ông mở ngăn kéo lấy “tác phẩm” của tôi ra đưa trả tôi:

— Truyện này không hợp với nhà báo chúng tôi.

Ba năm sau – năm 1954 – một hôm Nguyễn Ngọc Tú – tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả The Godfather: Bố Già – bảo tôi:

— Tao gập bà Bút Trà báo Saigonmoi ở Bộ Thông Tin. Bà ấy nói Saigonmoi cần một ri-pọt-te. Mày đến xem.

Lần thứ hai tôi đến tòa soạn nhật báo Saigonmoi. Ông chủ bút Nguyễn Dân đã qua đời. Đây là lần thứ nhất tôi gặp Bà Bút Trà. Tôi tự giới thiệu tôi từng làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng. Bà nhận tôi vào làm trong tòa báo ngay. Hai, ba năm sau, khi đã là nhân viên thân tín của nhà báo, tôi hỏi bà Bút Trà:

— Khi tôi đến xin việc, tại sao bà nhận tôi vào làm ngay mà không cần hỏi gì về khả năng của tôi.

Bà trả lời:

— Khi ấy có mấy anh tới. Tôi có biết tài năng các anh ra sao đâu. Tôi chọn anh là vì tôi thấy anh ăn bận đàng hoàng.

Thì ra tôi được nhận vào làm nhân viên nhật báo Saigonmoi, tờ nhật báo có một thời nhiều người đọc nhất Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa là vì tôi trang phục đàng hoàng, áo sơ-mi dài tay, khuy manchette, đi giầy tây, đầu tóc gọn ghẽ, nói năng lễ độ.

Việc tôi làm nhân viên nhật báo Saigonmoi trong 7 năm liền – từ năm 1957 đến năm 1964 – là một sự kiện quan trọng trong đời tôi. Thời gian 7 năm, từ 1957 đến 1964, là thời gian đẹp nhất trong đời tôi.

o O o

Mùa Thu 2016 đi qua Rừng Phong, những chiếc lá phong cuối cùng rơi rụng. Tôi nghe nói nhiều đền “thiên mệnh,” tôi đọc nhiều về “thiên mệnh,” nhưng tôi không biết gì đáng kể về việc “tri thiên mệnh.”

Dường như Khổng Tử là người tóm tắt thời gian đời người trong câu:

— Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận…

Tôi hiểu: Người ta ba mươi tuổi biết mình làm gì, bốn mươi tuổi không còn nghi ngờ, năm mươi tuổi biết mệnh trời, sáu mươi tuổi nghe chuyện gì cũng được…

Có thể tôi hiểu không đúng ý nghĩa những câu tiếng Hán trên đây.

Vào cuộc đời này Tháng Ba Năm 1933, cầm tinh Con Gà – Quý Dậu – năm nay tôi 84 tuổi. Tôi đã Viết dài dài, đều đều trong 60 năm. Lẽ ra nay  tôi phải ngừng Viết. Tôi thích Viết Truyện từ năm tôi 10 tuổi, tôi Viết năm tôi 18 tuổi, tôi làm ký giả nhà báo năm 1952, tôi thành ký giả nhà nghề năm tôi 30 tuổi. Cùng năm tôi thành người viết truyện phơi-ơ-tông – feuilleton – cho các báo Sài Gòn. Tôi sống được với cái nghề tôi yêu – nghề viết tiểu thuyết – trong suốt cuộc đời tôi. Tôi sống được với nghề, tôi nuôi được vợ con tôi bằng nghề Viết của tôi.

Chuyện 70 năm xưa: một buổi chiều thứ bẩy năm 1941, hay năm 1942, ông bố tôi đi thăm mộ người thân của ông trong cánh đồng cuối tỉnh Hà Đông. Ông thân tôi có cái số gọi là “trung niên táng thê,” ông có hai bà vợ qua đời trước khi ông “rổ rá cạp lại” với bà mẹ tôi. Ông mua một sào ruộng ở cánh đồng làng Đơ để chôn hai bà vợ. Tôi theo ông đi thăm mộ. Đường đến mộ gần thôi, bố con tôi đi bộ. Buổi chiều ấy cuối mùa thu. Cánh đồng khô, trồng toàn rau, trời nắng nhạt, trong và mát. Đang đi, bố tôi hỏi tôi:

— Mai sau con lớn, con muốn làm gì?

Nếu lúc đó tôi trả lời “Con muốn làm kỹ sư…, con muốn làm bác sĩ..,” chắc ông bố tôi vui lắm. Nhưng tôi trả lời  ông:

— Con muốn làm văn sĩ.

Câu trả lời của tôi làm ông bố tôi ngạc nhiên. Bố con tôi nắm tay nhau. Ông đứng lại nhìn tôi, như để xem tôi nói thật đến là chừng nào. Khi thấy tôi nói thật, ông bố tôi bảo tôi:

— Viết văn, làm thơ không phải là một nghề có thể nuôi thân. Con phải học, con phải có một công việc như thầy, con mới có thể nuôi thân con và nuôi vợ con con. Viết văn, làm thơ không phải là một nghề nuôi được người.

Ông bố tôi nói đúng. Những năm 1940, 1941 việc viết văn, làm thơ trong xã hội ta không phải là một nghề nuôi được người làm văn, làm thơ. Hai mươi năm sau, những năm 1960, xã hội ta có nhiều báo, nhiều sách truyện được in ra, tôi làm nhân viên tòa báo Sài Gòn Mới, tôi viết tiểu thuyết phơi ơ tông cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tuần báo Màn Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai …v..v.. Tôi kiếm được nhiều tiền. Ông bố tôi nói:

— Con làm nghề ký giả mà lại hay đấy. Làm báo, viết văn, ngoài việc có tiền nuôi vợ con con, con còn giúp được thầy mẹ, giúp được các em con.

Hai lần ông bố tôi nói đều đúng. Hai lần ấy cách nhau 20 năm.

o O o

Năm tôi Tám Bó tuổi đời, tôi gặp câu “Lão lai tài tận.Già đến, tài hết.”

Tôi thấm câu nói: “Già đến, tài hết.” Tài đây là tài năng, và tài tiền.

Ngày vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ — Tháng 12 năm 1994 – các bạn tôi, những người đến Hoa Kỳ trước chúng tôi, gửi tiền cho chúng tôi thật nhiều. Không phải chỉ khi đến được nước Mỹ tôi mới nhận được tiền của các bạn tôi. Khi đi tù lấn thứ hai – 6 năm – trở về mái nhà xưa, tôi đã nhận được tiền của nhiều bạn tôi ở nước ngoài gửi về giúp. Trong 6 tháng đầu vợ chồng tôi đến Kỳ Hoa, chúng tôi được nhiều bạn chúng tôi gửi tiền giúp. Nhiều vị không quen, không ở trong giới văn nghệ, đã sốt sắng gửi tiền giúp chúng tôi. Xin cám ơn quí vị.

Trong 2 năm 1996-1997 nhật báo Người Việt gửi cho tôi mỗi tháng 500 đô. Năm 1997 Người Việt đăng truyện Dữ Hơn Rắn Độc của tôi theo kiểu tiểu thuyết Phơi-ơ-tông. Truyện này của tôi năm ấy được nhiều người tìm đọc.

Trong 10 năm – từ năm 1995 đến năm 2005 – tôi kiếm được nhiều tiền với những bài Viết ở Rừng Phong. Nhiều báo Việt đăng bài viết của tôi, đăng và trả tiền, mỗi bài là 50 Mỹ kim. Có báo Việt ở Canada, ở Úc. Nhiều báo Việt ở Mỹ đăng truyện Kiều Giang của tôi khi tôi chưa đến Mỹ. Có ông bà chủ báo viết thư cho tôi:

– Trong lúc không liên lạc được với ông, báo tôi đăng truyện Kiều Giang của ông mà không xin phép ông. Nay ông bà sang, chúng tôi xin gửi ông bà tiền nhuận bút.

Thời gian qua, tôi rơi vào tình trạng “lão lai tài tận.” Những tờ tuần báo Việt Nam trên đất Kỳ Hoa cứ chết dần. Đến nay – Tháng Mười Hai 2016 – chỉ còn tuần báo SAIGONNHO, tờ báo đang ở trên tay bạn, còn đăng bài Công Tử Hà Đông Viết ở Rừng Phong.

Lão lai tài tận… Tuổi già đến, người ta hết tài, hết tiền.

Tuổi già đến với tôi, tôi hết tài, hết tiền. Như mọi người. Không có gì khác lạ.

Tôi cho ảnh phim Le Destin Execrable de Guillemette Babin vào bài VoRP này để tặng những ông 60 năm xưa đã xem phim ấy ở rạp xi-nê Ciro’s Hà Nội. Năm xưa ấy các ông trẻ nhất cũng phải 17, 18 tuổi. Năm nay – 2016 – các ông phải ở số tuổi Tám Bó.

HOÀNG HẢI THỦY

Hoàng Hải Thủy – Pleiku 1971

bar_divider

Sài Gòn Đêm Ba Mươi Tết

“Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục!…”

Ðó là một câu tôi nhớ trong số những câu tôi nhớ của tiểu thuyết Ðồ Long Ỷ Thiên Kiếm của Kim Dung, tác phẩm tiểu thuyết tôi đọc ở Sài Gòn những năm 1960, thời gian tôi ba mươi tuổi. Ðó là câu Dư Liên Châu nói với Trương Thúy Sơn trên chiếc thuyền lênh đênh giữa biển khi hai anh em đồng môn gặp lại nhau sau mười năm xa cách, khi Trương Thúy Sơn đưa vợ con: Hân Tố Tố và Vô Kỵ, từ Băng Hỏa Ðảo trở về trung thổ, Thúy Sơn sợ Trương Tam Phong, sư phụ của chàng, không cho chàng kết hôn với con gái của Giáo Chủ Bạch Mi Giáo. Chàng được Dư Liên Châu trấn tĩnh.

“Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục…!”

Một câu nói rất thường trong một truyện kiếm hiệp – truyện kiếm hiệp hay nhất trong đời tôi – làm cho tôi xúc động mãi. Khi ngồi trong Nhà Hàng Pagode đêm cuối năm, quanh chúng tôi chỉ còn những chiếc ghế da nâu không người ngồi và nhà hàng sắp đóng cửa – lúc ấy là mười một giờ đêm 28 Tết, còn hai đêm nữa là đêm Giao Thừa – người ta, những người Sài Gòn đi chơi đêm, giờ này đến các tiệm nhẩy, tôi và Quang còn ngồi buồn ở đây.

Nhìn nét mặt đăm chiêu và những nếp nhăn hằn trên trán Quang, tôi chợt nhớ đến lời Dư Liên Châu nói với Trương Thúy Sơn – “Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục” và tôi xúc động. Tôi muốn nói một lời để an ủi Quang, nhưng tôi im lặng, vì tôi nghĩ trong lúc này, và trong nhiều trường hợp, yên lặng là tiếng nói của Trái Tim.

Tôi tuổi Dậu, Quang cũng tuổi Dậu, nhưng anh sinh trước tôi mười hai năm, tức là một giáp. Như vậy là tôi “ẩn tuổi” Quang; theo kinh nghiệm, các cụ ngày xưa cho rằng nhũng người ẩn tuổi nhau thường hợp nhau, thương mến nhau. Các cụ nói đúng trong trường hợp “ẩn tuổi nhau” của Quang và tôi. Chúng tôi thân mến nhau, thông cảm nhau. Tôi thường đoán trước, biết trước được những điều Quang sắp nói, những việc Quang sắp làm. Ngược lại, Quang cũng biết trước về tôi như tôi biết về anh.

Quang là luật sư. Năm 1950, tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn, tôi đi làm phóng viên nhà báo và tới ngụ tại nhà anh trong một thời gian. Ngày ấy, anh đang kiếm ra tiền. Gia đình anh sống trong một vi-la đường Mayer. Tôi sống nhờ trong nhà anh, với gia đình . Vợ chồng anh coi tôi như người trong gia đình. Anh đưa tôi đi ăn chơi, anh là người mở đầu cuộc sống “trăng hoa” của tôi tại Sài Gòn. Vợ anh là gái Hà Nội, hiền, khá đẹp nhưng không có gì xuất sắc. Chị là người không gây thiện cảm mà cũng không gây ác cảm. Năm đó Ngọc lên năm tuổi. Cô bé xinh xắn, nước da hơi nâu, mạnh khỏe, thông minh, có đôi mắt tròn, đen láy, năm ấy cô bắt đầu cắp sách đi học Mẫu giáo. Trường gần nhà, đi bộ qua một con phố. Có những buổi chiều tôi đến trường đón Ngọc về. Thanh niên chưa có vợ, chưa có con thường thích trẻ con và muốn gần bọn trẻ con kháu khỉnh, xinh xắn, sạch sẽ và thông minh. Ngọc là một đứa bé có đủ nết ấy.

Rồi thời gian qua, Quang thành công với nhiều “áp phe” lớn. Ðịa vị của anh ngày một vững, tên tuổi anh nổi sáng. Rồi chiến tranh Ðông Dương kết thúc. Năm 1954, đất nước chia đôi, Quang trở thành một nhân vật lý tài quan trọng, cỡ quốc tế. Ðó là những năm tôi sống trong quân ngũ. Xa Sài Gòn, tôi xa gia đình Quang, cho tới ngày tôi được tin anh gặp tai họa. Những nhân vật của chế độ mới – tức chính quyền Ngô Ðình Diệm – những người cộng tác mật thiết với ông Diệm, ông Nhu, đã giương một cái bẫy để hại Quang và hất anh ra khỏi cái địa vị chuyên gia kinh tế tài chính quốc gia mà anh đang giữ.

Quang bị tù hai năm. Ở tù ra, anh trắng tay. Những người hại anh đã củng cố được một địa vị và thế lực quá vững. Họ tiếp tục làm hại anh bằng cách ngăn cản không cho anh ra mặt làm bất cứ công việc gì. Họ phá không cho anh hành nghề luật sư. Các công ty ngoại quốc không dám mướn anh. Anh phải kiếm sống bằng cách nhận làm riêng cho vài ông luật sư bạn. Những ông này giúp anh bằng cách giao việc cho anh đem về nhà làm.

Và những tai họa theo nhau đến với Quang. Vợ anh bỏ đi – người vợ hiền thục của anh – bỏ chồng con, bỏ nhà đi chung sống với một người đàn ông khác. Hai đứa con được để lại cho Quang nuôi. Quang sống những ngày dài buồn nản trong thất vọng và túng thiếu. Người hào phóng tự tin ở tài năng của mình và thành công ngay từ ngày bước vào đời như Quang, nỗi thất vọng và buồn nản càng nặng nề khi anh đã ngoài bốn mươi tuổi, số tuổi mà những người đàn ông có tài bắt buộc phải có địa vị. Không được phép xuất ngoại, Quang đi lén ra ngoại quốc mấy lần, nhưng không thoát. Bọn mật vụ theo dõi anh, ngăn cản không cho anh đi. Có lần anh đã trốn được xuống một chiếc tầu buôn của Pháp, khi tầu sắp rời bến Sài Gòn, bọn mật vụ mới biết tin và ập xuống tầu lùng xét. Chúng không tìm ra chỗ nấp của anh, nhưng sau đó, ông Thuyền Trưởng đích thân gặp anh, xin anh trở lên bờ để tránh cho tầu của ông gặp khó khăn trong những chuyến sau tầu ghé bến Sài Gòn.

Ðó là những tin, những chuyện về Quang và gia đình của anh tôi được biết trong những năm tôi sống trong quân ngũ. Rồi một người đàn bà khác xuất hiện trong đời Quang. Người đàn bà này đẹp – rất đẹp, nổi tiếng hoa khôi tại Sài Gòn – Nàng thuộc loại “chơi bời quí phái” và nàng có một tài sản đủ cho nàng sống phong lưu suốt đời.

Người đàn bà ấy yêu Quang, nàng chấm dứt cuộc sống cũ để chung sống với Quang, để làm vợ Quang. Họ yêu nhau, họ sống đầy đủ về vật chất nhưng không được hạnh phúc lắm về tinh thần, cả hai người cùng yêu nồng nàn và cùng ghen tuông dữ dội. Quang bị cuộc sống cũ của vợ ám ảnh. Vợ Quang biết nỗi ám ảnh ấy của Quang, nàng sợ một ngày nào đó Quang sẽ khinh nàng, sẽ chán nàng, sẽ yêu một người đàn bà khác trẻ, đẹp, có dĩ vãng trong sạch hơn nàng. Nhưng cả hai người cùng cần có nhau để sống. Theo tôi, Quang là người cần vợ hơn và yếu thế hơn vợ. Người vợ thứ hai của anh – đẹp, sang, được đàn ông say mê, giầu tiền – là một bằng chứng thành công của anh. Ít nhất anh cũng còn thành công với đàn bà. Người vợ trước để lại cho Quang hai đứa con. Một gái, một trai. Thằng bé hãy còn nhỏ được anh gửi bà Nội nó nuôi. Ngọc, đứa con gái lớn được anh gửi vào một trường Nữ Học.

– Tôi đang bối rối không biết phải làm sao thì cậu đến. Có cậu thay tôi lo cho nó mấy ngàyTết này tôi yên tâm. Chắc nó cũng buồn, cũng giận tôi, nhưng nhẹ thôi. Cậu cố giúp tôi. Nói cho nó hiểu. Tôi biết. Cậu từ xa về đây cần phải du hí mấy ngày Tết. Bị vướng cẳng vì một con bé chắc cậu bực mình lắm.

Người cha khổ sở vì không thể đón được đứa con gái yêu từ nhà nội trú của trường ra ăn Tết với mình nhờ tôi lo cho con anh trong mấy ngày Tết. Anh lên Ðà Lạt ăn Tết với vợ. Vợ anh muốn thế, anh không đi không được. Nhưng nếu sáng mai anh đi, chiều mai, không có ai đến trường đón Ngọc, con gái anh, ra trường. Mẹ đi lấy chồng khác, bố có vợ, bố ăn Tết với bà vợ, người thiếu nữ ấy bị bỏ rơi trong ba ngày Tết. Tôi là người thay mặt bố nó để làm cho nó bớt cô đơn, đỡ tủi thân trong mấy ngày đầu năm.

Trước nét mặt khổ não của Quang tôi phải quay mặt đi. Quanh chúng tôi, nhà hàng vắng tanh chỉ còn một cặp Tây Ðầm già đang ngồi như chờ đợi ai ở góc phòng. Tôi cảm thấy thương Quang và lại nhớ đến câu nói của Dư Liên Châu! “Ngũ đệ… Anh em ta tình thân hơn cốt nhục…” Tôi hiểu nỗi khổ tâm của Quang. Anh thương con anh nhưng cùng một lúc, anh cũng yêu vợ. Ngọc là con riêng của anh. Anh không thể “bỏ vợ, hy sinh vợ” trong mấy ngày Tết để gần, để sống với đứa con riêng của anh. Tôi nhận lời giúp anh.

***

Tôi đã được nghe nói về những nữ sinh của trường nữ trung học này, những chuyện được xếp vào loại “ly kỳ”.

Những chuyện đồn đại, không có bằng chứng. Ðại khái cuộc sống của nhiều nữ sinh trong Internal trường này rất loạn, nhiều nàng chơi trò đồng tính ân ái, nhiều nàng đêm đêm vẫn trốn ra đi chơi, đi nhẩy đầm, bọn vương tôn công tử Sài Gòn đêm đến đậu xe trong một con đường ngách bên trường, đợi các nàng ra, rước đi chơi.. v.v.. Tôi nghe qua những chuyện ấy rồi bỏ ra ngoài tai.

Chiều Ba Mươi Tết, tiếng xe ô tô ngoài đường làm ồn cả phòng đợi. Vào những ngày lễ hội, ngày nghỉ, thủ đô Sài Gòn đông xe hơn ngày thường, đông nhất là buổi chiều gần tối. Ở đây, phụ huynh tấp nập đến đón con ra trường. Nữ sinh người Pháp không còn là bao nhiêu. Nhìn quanh tôi chỉ thấy toàn người Việt Nam.

Tôi trình Thẻ Phụ Huynh, giấy phép được nhân lãnh học sinh. Một bà đầm trung niên – có vẻ là giám thị – ghi mấy dòng chữ vào quyển sổ, rồi nhấc điện thoại gọi vào trong. Bà nói tiếng Pháp.

Tôi ra hiên nhà, đứng hút thuốc lá.

– Chú…!

Tôi quay lại. Năm năm đã qua:

“Chú gặp cháu lần cuối năm 1964. Bố cháu bị bắt… chú đang ở lính. Chắc chú đâu có nhớ cháu, gặp nhau ngoài đường chắc chú không nhận ra cháu, phải không chú?”

Trong phòng lạnh của Restaurant Choeng Nam, trên bát “consommé chaud”, Ngọc mở rộng đôi mắt đen và trong, nói với tôi câu nói gợi lại kỷ niệm. Nàng hỏi:

“Chú có thấy cháu thay đổi nhiều không? Cháu chóng lớn quá, phải không chú…?”

Nàng dơ tay khoát nhẹ nửa vòng trong không khí, điệu bộ nhí nhảnh như cô đào điện ảnh Sandra Dee trong vai thiếu nữ dậy thì, con nhà giàu, ngây thơ, gợi tình. nàng nhắc lại:

“Chú gặp cháu ngoài đường chắc chú không nhận ra cháu. Nếu có ngờ ngợ chắc chú không dám hỏi. Phải không chú? Nhưng cháu nhận ra chú ngay!”

Nàng nheo mắt nhìn tôi đăm đăm như cô giáo nhìn anh học trò quấy phá

“Cháu nhận ra chú ngay! Chú có già đi chút chút, nhưng khuôn mặt, nét mặt vẫn không khác”.

Ánh mắt nàng long lanh, vành môi nàng cười mỉm.

“Tóc chú bạc nhiều rồi.” Tôi nói.

Trong năm năm, Ngọc thay đổi nhiều. Lần tôi đến nhà Ngọc lần cuối, Quang đang nằm trong khám Chí Hòa. Hôm ấy tôi chỉ thấy loáng thoáng bóng hai chị em Ngọc rồi tôi đi ngay, cho tới nay cô cháu ngồi trước mặt tôi giờ đây là một thiếu nữ mười sáu, mười bẩy tuổi, tóc để theo kiểu tóc Jacqueline Kennedy, mặt trái soan, mắt to và sáng, môi hồng mỏng và hai bên mép sa xuống. Ðôi khi, tôi thoáng thấy Ngọc có vẻ chán đời, ngạo đời – vì đôi môi sa xuống hai bên mép. Những người phụ nữ có đôi môi hai bên mép sếch lên, cũng như đuôi mắt sếch lên, thường có vẻ tươi vui – Ngọc bận đầm, đúng thời trang, không hoa hòe, hoa sói mà đẹp, trang trọng và gọn . Áo sơ mi trắng dài tay, váy Tergal xám, có hai dây vắt qua vai, ngực áo thêu hai chữ HN: Hồng Ngọc, bằng chỉ xanh. Một thiếu nữ đang đứng trên ngưỡng cửa cuộc đời. Ðời nàng xấu hay đẹp, mai sau nàng khổ sở hay sung sướng – suốt những năm còn lại, đó mới là cuộc đời, ba mươi năm, bốn mươi năm nữa – tùy thuộc vào vài năm sống sắp tới của nàng. Tôi thấy tôi lo sợ một cách chánh đáng: ai sẽ dẫn dắt cô gái này đi trong mấy năm trời quyết định ấy? Mẹ nàng đi lấy chồng khác, cha nàng có vợ và con riêng, cuộc đời nàng có biết bao nhiêu là cạm bẫy.

Nàng ngước lên, nét buồn vừa qua biến mất:

“Tại tóc chú bạc sớm chớ có phải tại nhiều tuổi đâu? Phải không chú? “

Hàm răng trắng của nàng lộ ra dưới vành môi mỏng.

” Chú kém ba cháu những mười hai tuổi. Năm nay, chú mới ba mươi ba tuổi. Ba cháu bốn mươi nhăm rồi. Tóc ba cháu đã bạc đâu. Có bạc, nhưng không nhiều bằng tóc chú. Hồi này, không hiểu ba cháu có nhuộm tóc không? Sao chú không nhuộm tóc, chú?”

“Chú không thích nhuộm. Chú thích tóc trắng?”

“Sao thế?”

Tôi nhún vai:

“Tại chú thích.”

Nàng cười thành tiếng:

“Tóc bạc như Jeff Chandler…! Cháu biết tại sao chú lại thích rồi!”

“Tại sao?”

” Chú muốn cho các cô phải để ý đến chú vì mái tóc của chú chứ gì? Chú khôn lắm. Cô nào thấy chú hãy còn trẻ măng mà tóc đã bạc trắng thì cũng phải để ý! Chú thấy không… Ðến cháu quen với chú là thế mà vẫn còn phải hỏi nữa là.”.

Tôi làm bộ ngượng vì bị nói trúng tim đen, nàng cười sung sướng.

” Ðã có cô nào nói với chú là… yêu chú vì mái tóc của chú chưa!”

Tôi cau mày:

” Ðừng hỏi bậy!”

” Cháu có hỏi gì quá lố đâu?

Mặt nàng cũng nghiêm lại.

” Chú vẫn… cho là cháu còn con nít? Chú là văn sĩ mà chú chẳng biết tâm lý chút nào! Cháu không dám nói là cháu đã yêu nhưng… cháu có đủ tư cách để nói chuyện về Tình Yêu với chú, với bất cứ ai…!”

Tôi muốn khuyên nàng vài câu. Tôi biết những điều mà nàng biết về tình yêu đó chỉ là những điều nàng đọc được trong tiểu thuyết, nàng nhìn thấy trên màn bạc xi-nê và nàng nghe vài cô bạn thuật lại. Tôi muốn nói cho nàng biết nàng chưa đủ tư cách để nói về bất cứ một chuyện gì, nhất là về Tình Yêu. Nhưng tôi chưa kịp mở miệng. Nàng đã tiếp:

” Cháu học hết năm nay thôi. Sang năm, chú sẽ không còn gặp cháu ở Sài Gòn nữa đâu.”

“Ngọc đi đâu?”

” Cháu đi xa.”

” Xa là tận đâu?”

” Bên kia biển.”

Ðôi mắt nàng mơ màng. Tôi thấy sợ – tôi biết là nàng nói thật – tôi hỏi:

” Ba cháu có biết chuyện cháu sắp đi xa không?”

Nàng lắc đầu:

” Ba cháu chưa biết. Nhưng có biết, chắc ba cháu cũng không ngăn cản cháu được, cháu hy vọng ba cháu sẽ không ngăn. Và cháu tin rằng ba cháu sẽ không ngăn cháu đâu..”

Giọng nàng chợt đổi khác, rất già dặn, đứng đắn:

” Ðến đúng lúc, cháu sẽ cho ba cháu biết chuyện.”

” Ngọc đừng có dại!”

” Không đâu, chú ơi. Chú sẽ thấy là cháu rất khôn. Cháu sẽ có tiền gửi về cho ba cháu, em cháu và cả mẹ cháu nữa. Ở đời này, tiền trên hết chú ạ! Tiền là tất cả. Chú viết truyện ca ngợi tình yêu, nhưng nếu nhà báo không trả tiền chú, chú ngưng viết ngay. Chẳng tình yêu thì đừng. Chú có thể viết truyện ca ngợi tình yêu rất hay, rất… ra rít, với điều kiện là truyện đó chú phải bán được ra tiền…”

Tôi trừng mắt:

” Ðừng nói lảm nhảm. Tôi không muốn nghe Ngọc nói nhảm. Ngọc chưa đến tuổi nói đến tiền, đến tình yêu.”

Nàng xịu mặt và có vẻ sợ:

” Cháu xin lỗi chú.”

Bữa ăn trôi qua trong tẻ nhạt. Chúng tôi trao đổi với nhau những câu hỏi đáp thông thường. Tôi suy nghĩ về những câu Ngọc vừa nói và thấy nàng có lý. Tôi thắc mắc muốn biết rõ về chuyện sắp đi xa của nàng. Nàng sẽ đi đâu? Ði với ai? Nói thật hay quan trọng hóa một sự việc chưa có gì là quan trọng cả?

Nàng buồn và ủ dột một cách lạ thường. Ăn xong, tôi cảm thấy hối hận nên vui vẻ:

” Chú thay mặt ba cháu cho cháu đi chơi đêm Giao Thừa. Cháu muốn đi đâu, chú đưa đi.”

” Cháu muốn chú cho cháu đi coi xi nê, rồi cho vào Dancing nghe nhạc…!”

” Cũng được. Nhưng đi Dancing thì khuya quá. Sau đó, cháu về trên bà nội có tiện không?”

” Ðược chú. Nếu không đi quá nửa đêm sao gọi là đi chơi đêm Giao Thừa được! Với lại… cháu thỉnh thoảng vẫn về bà nội cháu khuya quá nửa đêm, không sao đâu. Nhất là có chú đưa về, “suya” quá rồi!”

Nàng tươi lên khi tôi nhận lời. Ngồi trong rạp xi-nê, nàng chăm chú theo dõi những hình ảnh trên màn bạc, thỉnh thoảng mới thốt ra một câu phê bình truyện phim và lối đóng của các diễn viên, nàng phê bình rất sành, rất đúng.

Vào Dancing, nàng đòi uống Champagne. Ðêm Tất Niên, Grand Monde chật người, hết bàn, không khí thật vui. Tiếng nhạc và người nhẩy thật hào hứng. Nhìn quanh thấy những bộ mặt thỏa mãn ẩn hiện trong bóng tối lờ mờ, tôi chợt nghĩ lẩm cẩm rằng trong số những người ở đây, chắc không có một ai nhớ rằng đất nước này đang có chiến tranh, đang bị tấn công ngày đêm, giờ này, đang có những đồng bào của họ đổ máu và chết.

Tôi gọi Champagne. Chị Cai Gà thấy tôi vào, nhân lúc bồi đến mời uống, chị ghé đến bàn chúng tôi. Chị tủm tỉm cười, ra cái điều thông cảm và ngầm nói với tôi :”Ðêm nay ông anh đưa trẻ đi ăn, đi chơi”, chị kín đáo hỏi nhỏ tôi:

“Anh có cần em nào ngồi bàn, để gọi?”

Tôi lắc đầu:

” Ðêm nay tôi đi với cô cháu, chỉ đến nghe nhạc thôi, cám ơn chị.”

Chị ta nhắc lại:

” Dạ… anh đi mí cô cháu…!”

Không nhìn theo,chị Cai Gà, Ngọc hỏi tôi:

” Bà nào đấy chú? Có phải bà “Chef-Taxi-girl” không chú?”

Tôi gật đầu.

” Bà ấy có vẻ… bồ với chú lắm? Chắc là chú đi nhẩy nhiều nên bà ấy biết chú chứ gì?”

Thời gian càng trôi qua, đêm cuối cùng của năm nay càng gần giờ Giao Thừa, tôi càng thấy khó khăn trong việc trò chuyện với Ngọc. Nàng không còn trẻ con, nhưng cũng chưa hẳn là người lớn Nàng không thuộc loại Nymphet, nữ nhân vật Lolita của Vladimi Nabokov. Tiểu thuyết Lolita của Vladimir Nabokov được người đọc khắp thế giới nhắc đến và đọc từ năm ngoái, năm kia nhưng qua đến giữa năm nay, một vài cuốn tiểu thuyết này mới lọt vào Việt Nam. Chính quyền Ngô Ðình Diệm giữa thời cực thịnh, kiểm soát và cấm đoán gắt gao các loại sách báo và phim ảnh ngoại quốc bi mang tiếng là khiêu dâm. Ngọc không giống Lolita vì thân thể nàng nẩy nở, tròn và đầy hơn là Lolita thon và dài.

Khi nhận lời đến trường đón Ngọc cho đến lúc gặp Ngọc trong trường, tôi vẫn nghĩ rằng Ngọc hãy còn nhỏ, hãy còn là một đứa con gái sợ sệt mà tôi có thể đưa đi ăn kem, đi mua sách vở, mua quà con búp bê. Tôi nghĩ việc tôi đưa cô cháu ấy đi chơi sẽ không gây ra một sự hiểu lầm nào, kể cả những tên bạn lưu manh nhất của tôi cũng không có lý do để nghĩ bậy khi thấy tôi đi với cô cháu. Nhưng trong bữa ăn ở Choeng-Nam tôi thấy tôi nghĩ lầm. Nhìn tôi với Ngọc, chắc không ai cho rằng nàng là cháu tôi.

Và giờ đây, trong vầng ánh sáng mờ mờ của Dancing, rượu Champagne làm đôi mắt Ngọc sáng long lanh, tôi thấy nàng hoàn toàn khác hẳn với cái hình ảnh cháu Ngọc mà tôi vẫn có. Nhìn nàng, tôi hiểu tại sao cõi đời này có những người con gái thích lấy chồng già và chỉ có thể lấy – hoặc chung sống – được với những người đàn ông gấp đôi – hoặc gần gấp đôi tuổi các nàng – như người thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi đang ngồi trước mặt tôi đây chẳng hạn. Bọn con trai mười sáu, mười bẩy, kể cả hai mươi tuổi, ngộc nghếch như gà tồ, chưa biết tý gì về đời, chưa biết suy nghĩ – như tôi năm tôi mười bẩy tuổi chẳng hạn. Nếu đem xếp Ngọc đứng gần một anh hai mươi tuổi, nàng sẽ phải khóc thét lên vì bực mình.

Thấy tôi không trả lời câu nàng hỏi về chị Cai Gà, nàng mỉm cười.

” Chú có muốn gọi Cave thì cứ gọi, chú nhá – Nhưng nếu chú gọi thì chú gọi cô nào trông “élégante” một chút, nghe chú. Và chú phải nhẩy với cô ấy. Chia ra, với cháu một bản, với người ta một bản..

Tiếng trống vang rền, đèn điện mờ dần rồi tắt. Giờ Giao Thừa. Năm mới đã đến. Trong bóng tối người ta ôm nhau, hôn nhau, chúc tụng nhau năm mới. Tiếng cười, tiếng í e xen tiếng trống rền. Sau một phút như vậy, đèn sáng trở lại; Ngọc lấy được một trái bong bóng màu xanh. Nàng buộc dây bóng vào thành ghế rồi vỗ nhẹ hai bàn tay vào nhau:

“Vui quá. Năm nay, cháu sẽ được sống những ngày thật đẹp và có nhiều thay đổi.”

Tôi đứng dậy đưa nàng ra “pít”.

” Cháu chúc chú năm nay viết được truyện hay, kiếm được nhiều tiền và… chú gặp một người đàn bà yêu chú đủ để chú yêu lại và lấy làm vợ.”

Ban nhạc trình tấu bốn bản liền. Tango rồi Rumba rồi Mambo và Cha Cha Cha. Nhiều cặp phải bỏ cuộc đi vào lúc tiếng nhạc chưa ngừng. Ngọc nhẩy giỏi và đẹp như một vũ nữ nhà nghề. Nàng học nhẩy từ bao giờ? Nàng học nhẩy ở đâu? Với ai? Những câu hỏi ấy chỉ thoáng đến với tôi rồi biến đi ngay. Tôi không còn ngạc nhiên nữa. Tôi biết Ngọc còn dành cho tôi nhiều ngạc nhiên khác nếu tôi muốn tìm ngạc nhiên và việc tập nhẩy đầm không phải là một việc làm lén lút của nàng. Có lẽ trong cái trường Nữ Học nổi tiếng ấy, chỉ có Dì Phước và những nữ sinh thọt chân mới không biết nhẩy đầm. Hai nữa, chất rượu đã bắt đầu ngấm trong cơ thể tôi. Tôi chưa say, nhưng tôi đã nhìn đời bằng một đôi mắt khác.

” Chú với cháu đẹp đôi nhất Dancing đêm nay. “.

Nàng nói bằng một giọng nghiêm trang, đôi mắt nàng nhìn vào mắt tôi. Nếu lúc đó, tôi mỉm cười và gật đầu đồng ý cũng chẳng sao nhưng vì một mặc cảm, tôi nhíu mày:

” Ðừng nói bậy! “

Nàng dẩu môi :

” Nếu không biết rõ chú, cháu đã cho chú là đạo đức giả và… giả dối nữa là khác! “

Như người đàn bà trưởng thành nói chuyện với tất cả sự bình tĩnh, nàng tiếp:

” Nếu chú với cháu đẹp đôi, và biết là chúng ta đẹp đôi, có gì là xấu?… Chúng ta kiêu hãnh vì chúng ta hơn người . Nếu chú lờ khờ, nhà quê, cháu không được hãnh diện vì chú. Cũng như nếu cháu luộm thuộm bê bối, chú cũng không hăng hái lắm khi phải đưa cháu đến những nơi đông người. “

Nàng nói tiếp:

” Cháu không thích những người con trai ngang tuổi cháu hoặc hơn cháu chút ít, cả tụi bạn của cháu cũng vậy. Cháu chỉ có thể yêu được những người đàn ông nhiều tuổi hơn cháu. “

Tôi hỏi:

” Cháu đã yêu bao giờ chưa? “

Nàng cười, đôi mắt sáng lộ rõ vẻ tinh nghịch, hàm răng trắng lấp lánh. Trong bóng tối tôi chỉ trông thấy rõ đôi mắt và hàm răng của nàng:

” Nếu chú thấy cháu có thể nói chuyện với chú về Tình Yêu, cháu sẽ kể chú nghe truỵên tình của cháu, người sắp mang cháu đi… đi xa, là một người bằng tuổi chú…

Tôi nhớ lời nàng nói với tôi khi chúng tôi ăn ở Nhà Hàng Choeng Nam – “Cháu chỉ học hết năm nay thôi. Sang năm cháu sẽ đi xa…” Bây giờ nàng không nói hết lời tôi cũng biết người đàn ông bằng tuổi tôi mà nàng nói là người sẽ mang nàng đi đó là một người Hoa Kỳ.

Chúng tôi trở lại bàn, Ngọc nâng ly chạm ly tôi:

” Năm mới, chúc chú vạn sự như ý, chúc chú gặp người yêu chú đủ để chú cưới về làm vợ. “

Tôi đáp:

” Năm mới, chúc Ngọc vui vẻ, học giỏi và không làm điều gì để những người thương yêu Ngọc phải buồn. “

Nàng uống hết ly rượu:

” Cháu chỉ có ba và em cháu. Má cháu đã đi lấy chồng. Nếu thương cháu, bà đã chẳng bỏ đi như thế, nhất là bỏ đi trong lúc ba cháu gặp tai họa. Ba cháu đã làm lại cuộc đời. Em cháu còn nhỏ chưa biết gì, cháu ra đi nhẹ nhàng. Chú yên trí đi, cuộc đời của cháu – ít nhất trong năm nay – đã được sắp đặt sẵn rồi, chú khỏi phải chúc . “

Tôi gợi chuyện:

” Chú đoán người đàn ông bằng tuổi chú Ngọc nói đó là một người Mỹ? “

Nàng gật đầu:

” Chú nói đúng. “

” Cháu yêu người đó? “

” Cháu chưa biết, phải mười năm nữa cháu mới trả lời được chú câu ấy. Nghĩa là phải mười năm nữa cháu mới biết chắc là cháu có yêu anh ấy hay không. Tình yêu phải được thời gian thử thách. “

” Tên hắn là gì? “

” Sang đến Mỹ, cháu sẽ cho chú sẽ biết tên chồng cháu. Cháu không sợ chú phá cháu đâu, nhưng chú cũng chẳng nên biết sớm. “

Tôi cười:

” Ngọc quên là Ngọc mới mười bẩy tuổi, người Mỹ trọng pháp luật… “

” Chú muốn nói cháu hãy còn là gái vị thành niên và có yêu cháu đến điên cuồng người ta cũng không dám mang cháu đi chứ gì? “

Nàng ngắt lời tôi :

” Chú chưa biết cháu đi sang Mỹ học và cháu có học bổng, hai chánh phủ Mỹ-Việt bằng lòng cho cháu sang bên đó du học, cháu đi do chánh phủ và nhân dân Mỹ quốc đài thọ!

Tôi nhìn nàng và tôi nhớ tới lời nói của một anh bạn. Anh bạn tôi bốn mươi nhăm tuổi, dược sĩ, có tiền, vẫn còn độc thân mặc dầu đã nhiều lần yêu. Mới đây anh nói với tôi :

” Toa phải viết về tình trạng: những cô gái Việt thích lấy chồng Mỹ. Những cuộc nhân duyên ấy không thể bền đẹp. Hiện giờ có quá nhiều gái Việt Nam con nhà tử tế, lấy Mỹ và đi theo chồng sang Hoa Kỳ. Toa nên nhớ trước kia thời Pháp… đa số me Tây đều là bọn gái hạ cấp. Nhưng bây giờ khác, bây giờ có cả con gái nhà tử tế, có thể nói là thượng lưu… cũng ham lấy chồng Mỹ.”

Anh bạn tôi cho rằng người Mỹ gần gái Việt là chỉ để chơi, để giải sầu. Nhưng tôi thấy đa số người Mỹ đến đây khi giao thiệp với gái bản xứ đều yêu và cố kết. Họ kết hôn cả với những cô gái điếm hạ cấp nhất. Tôi thấy tận mắt nhiều em điếm một trăm, sáu chục, hành nghề ở An Nhơn, Gò Vấp trở thành những cô vợ Mỹ rồi thành công dân Hoa Kỳ. Những cuộc hôn nhân ấy có bền và có hạnh phúc hay không ? Ðó là một chuyện khác. Những chuyện đã xảy ra ở Ðại Hàn, ở Nhật Bản, giờ đây không có gì lạ đang xẩy ra ở Việt Nam.

Bỗng dưng tôi thấy buồn. Buồn và nản một cách lạ thường. Tôi nghĩ đến Quang. Anh sẽ nghĩ sao, sẽ nói gì khi con gái anh báo tin nó lấy chồng Mỹ va nó sang ở luôn bên Mỹ. Tôi sẽ không biết nói sao nếu con gái tôi nói với tôi như vậy.

” Nhẩy với cháu nữa đi chú. Sao chú buồn thế? Cháu đã đi mất ngay đâu. Cháu còn ở đây những gần mười hai tháng nữa kia mà! “

Hai giờ sáng, chúng tôi ra khỏi Grand Monde. Nàng say và yêu cầu tôi lái xe đưa nàng ra Cấp. Tôi không thể đưa nàng về nhà bà nội nàng trong lúc nàng say rượu.

Ðêm trên xa lộ, trời tối om. Ðêm Ba Mươi Tết. Nhiều chiếc xe, cũng như xe chúng tôi, vun vút chạy xa Sài Gòn. Trên xe nào cũng có một cặp nhân tình.

Gần hết xa lộ, tôi dừng xe gần một vườn cao su. Tôi xuống xe theo nàng, sương đêm xuống lạnh hai vai áo. Nàng đi vài bước trên con đường vắng, rộng thênh thang, rồi nàng dơ tay thả trái bong bóng bay lên trời. Nàng đứng nghiêng nghiêng, trong chiếc áo lạnh màu trắng sữa, ngửa mặt nhìn theo trái bong bóng bay lên trời cao.

Viết cuối năm 1969 ở Sài Gòn.

HOÀNG HẢI THỦY 

bar_divider

Tôi ra đời trong một thành phố nhỏ ở gần Hà Nội. Thành phố, đúng ra nó chỉ là một tỉnh lỵ, nhưng tôi vẫn khoái gọi Hà Đông là một thành phố. Danh từ “thành phố” nghe ít quê hơn là tỉnh lỵ. Hà Đông, thành phố thời thơ ấu của tôi là thành phố duy nhất ở Việt Nam, và ở cả Đông Dương nữa, có một đường xe điện dài, dài tới 12 cây số, đường xe điện dài nhất Việt Nam đó nối liền Hà Đông với Hà Nội.

Sàigòn trước năm 1954 cũng có đường xe điện. Đường xe điện của Sàigòn chạy trên đường Trần Hưng Đạo nối Sàigòn và Chợ Lớn. Bến xe điện Sàigòn thời ấy ở nhà ga trước bồn binh chợ Bến Thành, hiện giờ là nhà ga xe buýt ở đầu đường Hàm Nghi. Từ đó, xe điện Sàigòn một mặt chạy về Đakao, vào Bà Chiểu và lên tận Hốc Môn. Vào khoảng trước năm 1954, trong một kế hoạch chỉnh trang thành phố Sàigòn, người ta cho việc dân chúng lưu thông bằng xe điện là bất tiện nên người ta dẹp bỏ xe điện ở Sàigòn. Trên mặt đường Trần Hưng Đạo bây giờ, bạn còn thấy vết tích của đường xe điện bị cán dẹp xuống đó. Theo tôi, việc hủy bỏ xe điện ở Sàigòn là một việc có hại cho những người có tâm hồn nghệ sĩ ở Sàigòn. Ngày xưa, có những buổi chiều mưa, tôi đã nhiều lần cùng với người yêu bé nhỏ đưa nhau lên ngồi trên xe điện đi chơi một vòng, đi cho tới hết đường lại trở về điểm chúng tôi lên xe. Những cuộc đi chơi bằng xe điện như vậy thật thơ mộng vào những chiều mưa, sau khi đã chán ngồi trong những rạp hát bóng kín mít hoặc những cuộc đi xem thú trong Sở Thú. Thành phố và người, vật, nhìn qua cửa sổ xe điện bên người yêu bé nhỏ, có những mầu sắc mới, những cảnh lạ. Tôi nghe nói những thành phố lớn bên Mỹ như San Francisco, Chicago…vẫn còn giữ nguyên những đường xe điện treo cồng kềnh và xưa cũ của họ. Với trình độ tiến bộ về cơ khí nhất thế giới của họ hiện nay, người Mỹ thừa tư cách để bỏ những đường xe điện treo cổ lỗ sĩ và không chuyên chở được nhiều người ấy, nhưng họ vẫn không bỏ, họ giữ cho đẹp thành phố, cho thành phố văn minh của họ có những nét cổ kính. Tôi tán thành việc đó. Nếu năm xưa, tôi là người có quyền quyết định trong việc đặt kế hoạch chỉnh trang thành phố Sàigòn, chắc chắn tôi đã phản đối tới cùng việc hủy bỏ đường xe điện.

Trở lại với Hà Đông, thành phố thời thơ ấu của tôi. Cho tới hôm nay, khi tôi ngồi trong một căn phòng nhỏ nhìn ra một vườn cây và nhìn ra con đường Hồ Biểu Chánh nhỏ hẹp, mùa mưa đường lầy lội suốt từ đầu mùa tới cuối mùa- (Nhà văn Hồ Biểu Chánh có một căn nhà ở đường này, hồi còn sống nhà văn đã ở đây nên sau khi ông mất, người ta lấy tên ông đặt cho con đường này, một con đường nhỏ ở Sàigòn)- viết những dòng này thì đường xe điện Hà Đông – Hà Nội vẫn còn hoạt động. Tôi thả hồn mơ ước tới một ngày nào không xa, tôi trở lại ngồi một mình trên con tầu điện chạy trên con đường nên thơ đó, để hồi tưởng dĩ vãng, nhớ lại những chuyến đi trên con tàu đó năm xưa, những lần đi theo cha mẹ, những buổi sáng tinh sương, những buổi chiều vàng đi ra Hà Nội học và trở về.

Trong những năm gần cuối của Đệ Nhị Thế Chiến, Hà Nội bị oanh tạc, những trường tư Thăng Long, Văn Lang dọn vào Hà Đông, đường xe điện Hà Nội – Hà Đông trở thành náo nhiệt vì đám khách học trò. Những anh học trò thanh niên quấy phá bận quần tây, đi giầy tây nhưng bận áo dài ta, đi đầy thành phố. Thuở ấy ở xe điện có một anh Tây controleur, người Corse to béo, bụng phệ, rất “hắc búa” với nhân viên bán vé Việt Nam và với đám “nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò.” Đa số học sinh đi tầu điện đều không chịu mua vé. Không phải họ không có tiền mua vé mà là vì họ không thích mua vé. Đi tầu không vé họ mới thích. Những kiểm soát viên người Việt thường dễ dãi với học sinh nhưng anh Tây Coóc thì không. Anh “thực thi pháp luật” xe điện đến nơi đến chốn: đi xe điện là phải mua vé, trốn vé là phải phạt, vé hạng bét không được léng phéng lên ghế hạng nhất v.v.. Một vài anh học trò bị anh Tây Coóc bắt và bợp tai, đá đít theo đúng thái độ của Tây thực dân. Học sinh liền tổ chức một trận đòn hội chợ để trả thù. Anh Tây Coóc bị một trận đòn nhừ tử và bị đạp xuống bỏ giữa cánh đồng. Việc học trò đánh Tây xe điện làm dư luận, nhất là trong giới học trò con nít tôi lúc đó, sôi nổi, thích thú.

Sau 1945, chiến tranh chấm dứt, tôi còn đi học gần trọn một niên học nữa mới tới ngày xẩy ra cuộc chiến tranh kéo dài 8 năm trên toàn diện đất nước chúng ta. Năm đó tôi 15 tuổi ngày ngày xách cặp cùng với các bạn lên xe điện ra Hà Nội học, buổi chiều lại theo tàu điện trở về Hà Đông. Trong khoản tiền mẹ cho mỗi ngày để đi học, ăn quà sáng, có thêm khoản tiền vé xe điện đi về, trước khi tôi lên tận Thụy Liên, nơi có văn phòng chính của Sở Xe Điện để nộp hình và tiền, mua một tấm carte đi xe điện hàng tháng. Có tấm carte đó, tôi có quyền đi xe điện tha hồ mỗi ngày năm mười chuyến cũng được. Nhưng trước ngày đi lên Thụy Liên đóng tiền mua carte, có một chuyện xẩy ra trên đường tầu điện Hà Đông – Hà Nội làm cho tôi đến nhiều năm sau, vẫn còn hối hận mỗi khi nhớ tới.

Như tôi đã kể, bọn học trò chúng tôi đi học, cha mẹ cho tiền mua vé, nhưng chúng tôi cứ khóai đi tầu không vé. Khi bị xét thì chuyền từ đầu toa đến cuối toa, nhẩy từ toa trên xuống đường khi tầu đang chạy để nhẩy lên toa dưới. Tên nào nhẩy tầu giỏi, không bao giờ phải mua vé được coi là can đảm, linh lợi, tháo vát, được sự mến phục của đồng bọn. Tên nào chăm chỉ bỏ tiền ra mua vé bị coi là cù lần, bị thịt, bị chê và khinh . Tôi không dám nhẩy tầu liều lĩnh khi tầu đang chạy nhanh như các bạn, song tôi cũng thích đi tầu không phải lấy vé. Một thủ đoạn rất thường mà bọn học trò chúng tôi áp dụng để qua mặt mấy ông kiểm soát là gài một cái vé xe cũ trên vành mũ, hoặc ở tay cầm của cặp sách, làm như mình đã mua vé rồi. Kiểm soát viên nhiều khi trông thấy cái vé vê tròn gài ở vành mũ, ở tay cặp sách của chúng tôi, bèn bỏ qua không hỏi.

Cho tới một buổi chiều, tôi còn nhớ đó là một buổi chiều mùa thu đẹp, trời cao và xanh, qua Ngã Tư Sở và Thái Hà Ấp, nơi có đền người Tầu thờ Sầm Nghi Đống, những rặng cây thấp hai bên đường tầu đã giăng những sợi dây tơ hồng vàng óng, tôi cũng gài một cái vé xe điện cũ vào tay cặp sách và tôi bị kiểm soát viên hỏi vé.

Cái vé cũ gài ở cặp chỉ có tính cách trình diễn mà thôi. Khi bị hỏi vé nếu tôi thông minh và nhanh trí khôn hơn một chút, tôi phải làm lơ cái vé gài sẵn đó đi để móc tiền ra mua vé ngay. Trong lúc bối rối tôi quên mất là trên những tấm vé đều có số, mỗi chuyến tầu người bán từ số vé nào đều phải ghi vào sổ để trình với kiểm soát viên. Tôi đưa vé hôm qua, hoặc là vé buổi sáng, họ biết ngay là vé cũ đã dùng rồi nhưng chưa xé. Nếu hôm đó khi bị hỏi, tôi móc đồng bạc ra mua vé thì không có chuyện gì xảy ra cả. Đằng này tôi lại rút cái vé cũ gài ở quai cặp đưa cho người kiểm soát.

– Vé cũ. Cậu mới mua vé này hay là cậu đi vé cũ? – Ông kiểm soát coi cái vé tôi đưa rồi hỏi tôi.

Đến lúc đó tôi vẫn còn có thể cứu vãn tình thế bằng cách cười ruồi, cười gượng, đỏ mặt rồi ấp úng thú nhận là đi vé cũ và móc tiền mua ngay vé mới, hoặc thú nhận là tiêu hết tiền…Tất cả những kiểm soát viên Việt Nam đều dễ dãi với bọn học trò đi xe điện. Họ cũng có con cháu đi học và bọn con cháu họ cũng nghịch ngợm, cũng thích đi tầu không vé như tôi. Nhưng tôi không làm thế, tôi lại chỉ người bán vé đứng sau lưng ông kiểm soát và nói chính anh ta vừa bán cho tôi cái vé đó.

Tôi không biết rằng lời nói dối của tôi có thể rất tai hại cho anh bán vé. Tôi có thể gian lận bằng cách đi vé cũ không sao, nhưng nếu người bán vé bán vé cũ, vé đã dùng rồi cho tôi, anh có thể bị mất việc. Đã từng có những người bán vé tầu điện kiếm thêm bằng cách bán vé cũ cho khách và đã bị đuổi. Tôi còn nhớ rõ người bán vé – một thanh niên trạc hai mươi nhăm tuổi, người gầy gò có vẻ đói rách, bận sơ mi cụt tay sờn cổ – mặt xanh dờn khi bị tôi chỉ mặt. Anh ấp úng và anh run rẩy:

– Cậu hại tôi…Tôi làm thế…Cậu giết tôi..

Trong cơn bối rối , sợ hãi, tôi không còn biết phải nói gì, làm gì nữa. Thú nhận mình đi vé cũ e muộn quá. Cứ khăng khăng nói rằng mình mới mua vé ư?…Tôi không quen nói dối. Chắc lúc đó mặt tôi cũng đỏ, cũng xanh không kém mặt người bán vé bị tai nạn nghề nghiệp. Ông kiểm soát cũng chưa biết xử trí ra sao. Bỗng có một người đàn ông lạ, một người tôi không hề quen biết, đi cùng trên toa xe, bước tới sau lưng tôi, đưa ra một đồng bạc và nói bằng một giọng hoà nhã:

– Em tôi nó nghịch , nó đi vé cũ đấy. Không phải ông này bán vé cho nó đâu. Các ông bán cho cái vé khác.

Cuộc bê bối của tôi đến đây là ngừng. Ông kiểm soát không muốn kiếm chuyện, bảo anh bán vé xé cho tôi tấm vé khác. Anh bán vé cũng không mong gì hơn là không bị buộc tội bán vé cũ. Chắc anh cũng có một vài lần kiếm thêm vài đồng mua qua cho con bằng cách đó nên anh sợ, nếu tôi cứ nhất định nói là chính anh bán cho tôi cái vé cũ đó thì đời anh rắc rối nặng.

Tôi xấu hổ và ân hận ôm cặp ngồi đưa mặt ra suốt từ đó cho tới lúc tầu vào tới đầu cầu Hà Đông. Tôi nhìn trộm người đã mang tôi ra khỏi cơn bê bối đó. Anh là một người đàn ông trạc ba mươi tuổi, ăn bận thường, mặt dài và da hơi xanh. Tôi không đủ kinh nghiệm để nhận xét anh làm nghề gì. Tôi chỉ thấy anh thường thường như tất cả mọi người và tôi không hề quen biết anh.

Khi xe điện ngừng ở đầu cầu, tất cả mọi người đều xuống xe. Anh cũng đi qua cầu sông Nhuệ để vào tỉnh, tôi mới lấy lại được đủ can đảm để cám ơn anh và đề nghị trả anh đồng bạc anh bỏ ra mua vé cho tôi. Để chứng tỏ là tôi không thiếu tiền, tôi mở cặp cho anh thấy tôi có tới bẩy, tám đồng trong đó.

Chúng tôi dừng lại dưới chân cầu. Trước mặt tôi là người đàn ông lạ và dòng sông. Bên phải tôi là nhà Cercle của công chức Toà Sứ. Sau lưng tôi là nhà riêng của Công-sứ Pháp, một toà nhà lầu nằm giữa một vườn cây rộng và đẹp, toà nhà đẹp nhất tỉnh. Tôi nhớ rõ đôi mắt anh nhìn mấy tờ giấy bạc nằm trong cặp sách của tôi, nhìn mặt tôi. Tôi có cảm giác như lúc đó anh rất buồn vì một thiếu niên có vẻ “con nhà” như tôi có thể nói dối một cách trắng trợn như anh đã thấy. Anh lắc đầu, không cầm đồng bạc tôi trả và anh đặt tay lên vài tôi. Tôi còn nhớ rõ anh chỉ nói có mấy tiếng:

– Em không nên dối trá. Em có thể làm cho người bán vé mất việc. Khổ cho vợ con người ta….

Rồi chúng tôi lại đi. Qua một đoạn đường nữa, anh rẽ vào con đường đi về khu phố chợ, tôi thẳng đường về nhà, lòng bồi hồi, xúc động và ân hận như chưa bao giờ tôi ân hận đến thế.

Cho tới bây giờ, ba mươi năm trời đã trôi qua, khi nhớ lại tôi vẫn còn thấy rõ khuôn mặt gầy gò, hốc hác của anh bán vé xe điện khi bị tôi chỉ mặt, làn da xanh xao và cái cổ ngẵng có cục xương nhấp nhổm lên xuống của anh ấp úng minh oan.

Tôi vẫn còn nhớ rõ lời khuyên của người anh tôi không quen, không biết tên, người tôi chỉ gặp có mỗi một lần ở trong đời “Em không nên dối trá….”

Hoàng Hải Thủy
(trích TUỔI NGỌC -tập 1- số 9 -1969)

  TUỔI NGỌC SỐ 9 – năm 1969 (PDF)

bar_divider

Thanksgiving 2013

Ngọc Hoài Phương, Hoàng Hải Thủy, Hồng Dương, Lâm Tường Dũ – 12/1994

Thanksgiving 2013. Ðêm. Tôi nhớ những người bạn đã làm ơn cho vợ chồng tôi từ năm 1954. Nhiều bạn. Trong số có hai bạn tôi viết lời Tạ Ân trong bài viết đêm nay.

Việc làm của hai bạn làm tôi xúc động. Năm 1974 nhật báo Sàigònmới, nhật báo Ngôn Luận – hai nguồn tiền chính của tôi – bị chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Khánh đóng cửa. Tội “cấu kết với Nhà Ngô.” Ðời tôi và đời sống của vợ con tôi đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó. Tôi thất nghiệp – tôi không có báo nào để làm với lương tháng – chu kỳ lá đa ca dao này kéo dài cả năm. Vợ chồng tôi về ở trong một căn nhà vách ván Xóm Chuồng Bò, đường Petrus Ký. truớc bến xe đò đi Ðà lạt. Một buổi chiều khoảng 5 giờ,  thấy có bóng người đến trước cửa, tôi ra đón. Hồng Dương và Linh Linh Ngọc đến, dắt theo đưá con trai thứ nhất của họ. Hồng Dương bảo tôi:

“Tôi đã nói để Chính Luận mời anh viết phơi-ơ-tông. Xong cả rồi. Mai anh có thể đến đưa bài.”

Trước khi Chính Luận ra số 1, Từ Chung đã mời tôi viết phơi-ơ-tông cho Chính Luận. Tòa báo đã chi cho tôi nguyên một tháng lương. Lúc ấy đời tôi đang tuột dốc, tôi gặp nhiều chuyện bê bối, tôi lãnh tiền mà không đưa bài. Từ Chung là bạn mày tao với tôi. Anh giận tôi. Tôi không thể nào vác mặt mốc đến gặp Từ Chung:

“Tao đói. Thu xếp cho tao viết truyện.”

Hồng Dương thương tôi không có việc làm. Trong một cuộc họp tòa soạn, anh  đề nghị tòa báo mời Hoàng Hải Thủy viết. Nhiều người ngần ngại. Người viết truyện H2T còn nổi tiếng vì cái tật đưa bài muộn, đưa bài thiếu, làm cho ban xếp chữ gặp nhiều phiền nhiễu. Hồng Dương bảo đảm lần này H2T sẽ viết đàng hoàng, không bê bối.

50 năm sau ngày chịu ân ấy, đêm nay, một đêm Tháng 11 năm 2013, tôi viết lời Tạ Ân

Hồng Dương.

Hồng Dương trên xe lăn. Ảnh năm 2010


Nhưng nay dù tôi có nói một ngàn câu: “Hồng Dương ơi.. Cám ơn.” Hồng Dương cũng không nghe, không biết. Cách đây khoảng hai năm,Hồng Dương bị bại liệt. Nay người bạn trẻ hơn tôi khoảng năm, sáu tuổi, vẫn sống nhưng không còn biết, không còn nhớ.

Tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi đến Virginia. Tháng 12 cùng năm, Hồng Dương mời vợ chồng tôi sang thăm Cali. Bạn cho tôi có dịp gặp lại những người bạn cũ, bạn mới, những độc giả của tôi.

Lúc 9 giờ tối nay tìm trong bao giấy chứa những bài báo cũ, tôi tìm thấy bài viết của Hồng Dương. Bạn tôi viết bài này trong tháng January 1995. Như vậy, bài này có tuổi đời 18 năm. Bài đăng trên Nguyệt san Hồn Việt.

Hồng Dương, Cảm khái về một chút gì.. rất Hoàng Hải Thủy.

Ông Thủy thân mến,

Từ giữa năm 87 tới nay tôi không viết một trang nào; viết hiểu theo nghĩa viết văn, viết truyện. Tôi gần như quên mất nghề Viết. Như ông nói: “Hồng Dương tự đứng ra ngoài việc Viết.” Thật sự tôi cũng chưa bao giờ thấy tôi đứng ở trong. Hình như tôi chỉ thập thò cạnh chiếu văn nghệ.

Khi ông và bà Alice sang, gặp lại ông bà, tôi có nhiều xúc động. Không biết tôi có được quyền tự coi là thân với ông hay không, nhưng tôi có nhiều kỷ niệm với ông. Thời lên voi như lúc xuống chó. Khi ái tình được mùa như khi ái tình mất mùa. Không thể quên được.

Vì thế, khi gặp lại ông và bà Alice, tôi cảm thấy có một sức thổi nào đó khơi dậy trong tôi ý muốn viết. Hôm nay tôi viết về ông, bên ông là hình ảnh bà Alice.

Tôi nghĩ trên đời này tất cả những anh đàn ông dù thành công hay thành danh tới đâu cuộc đời hắn vẫn chưa đầy đủ nếu hắn không yêu, không ấp ủ được trọn đời hắn một người đàn bà được gọi là “vợ hiền.”

Nếu ông đồng ý với tôi như vậy thì ông không được chối ông là người đàn ông rất đàn ông, và ông là người đàn ông hạnh phúc nhất, sung sướng nhất cõi đời này. Dẫu rằng tôi biết ông còn nhiều thương tưởng về các con ông sống ở Sài Gòn, về những người thân và về những người bạn đồng nghiệp kém may mắn hơn chúng ta.

Chắc là ông không nhìn thấy những giọt nước mắt xúc động của tôi trong buổi sáng 24 tháng 12, 1994 khi chúng ta ngồi ở bàn ăn  cạnh bếp trong căn nhà ở Fountain Valley. Việc đầu tiên  bà Alice nhờ tôi làm là gửi ngay mấy trăm đô về trả nợ bà bạn của bà và cho ba đứa con của ông bà.

Bà Alice nói đây chỉ là trả nợ tiền, còn cái nợ tình nghĩa thì khó mà trả được. Bởi vì ba, bốn trăm đô-la là số tiền lớn ở Sài Gòn, vậy mà bà bạn quen ở cùng cư xá sốt sắng cho bà vay để trang trải nợ nần trước khi ông bà ra đi. Cho vay không biết đến bao giờ trả, cho vay không biết người vay có trả hay không. Cái Tình đó quả thật nặng, bà Alice nói rất đúng.

Còn ông thì tính ngay đến việc san sẻ chút tiền còm của ông về nước cho một số văn nghệ sĩ đang sống rất rách, rất khổ và tất nhiên là rất cần tiền, trong số có người mới vừa được ra khỏi tù. Có người văn nghệ bạn chúng ta ra tù về nhà thấy bà mẹ anh chết, con anh chết, vợ anh có chồng khác.

 Tôi có tật hay ngưỡng mộ những người biết nghĩ tới nỗi khổ của bạn. Nói huỵch toẹt ra đây là tôi ngưỡng mộ ông. Nên khi nghe ông nói đến việc gửi tiền về nước cho các bạn ta, tôi xúc động không cầm được nước mắt. Tôi tán thành ý muốn của ông là kiếm một số tiền gửi về cho anh em, tiền càng nhiều càng tốt. Tôi tiếp tay với ông, tôi tin rằng nhiều anh em ta ở xứ này cũng tiếp tay với ông.

o O o

Tôi nhớ lại một ngày trong Tháng Tư năm 1976, đang chạy Honda ngoài đường, tình cờ tôi nhìn thấy Minh Vồ ngồi ở băng sau cái xế cát-xăng-cát có tài xế lái, có hai người ngồi hai bên, chạy trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Thấy Minh trong xế hộp, tôi thầm nghĩ: “Thằng này giỏi thật. Ði xế hộp với Việt Cộng rồi.” Tôi trên xe hai bánh chạy bên xe Minh Vồ một quãng. Minh trông thấy tôi, anh đưa hai tay lên cho tôi thấy tay anh bị còng, bằng cách ấy anh cho tôi hay anh bị bắt.

Ông cho tôi thắp lên nén hương tưởng nhớ Minh Vồ, bạn ta, người đã bỏ cuộc chơi để phơi phới đi về miền miên viễn.

Tôi báo tin Minh Vồ bị bắt cho các bạn tôi gặp, cuộc báo tin theo lối dây chuyền chưa được mấy ngày thì tôi và nhiều anh em bị bắt như Minh Vồ. Chúng tôi bị còng tay đưa vào Phòng A, Phòng B của Nha Cảnh Sát của ta đường Trần Hưng Ðạo. Dường như anh Nguyễn Mạnh Côn, anh Hồ Văn Ðồng ngụ ở Phòng B. Phòng A chứa gần sáu mươi mạng. Chưa bao giờ Sài Gòn có cuộc đại hội văn nghệ sĩ-ký giả đông đến như thế.

Lão Ngoan Ðồng Hoàng Anh Tuấn ẩn cư trên Ðàlạt, Lão Quái Khách Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Lão Ký giả Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh, Nhà báo hành tung huyền hoặc  Như Phong Lê Văn Tiến theo nhau đi vào phòng giam. Chỉ có vài người không có mặt, trong số có Mai Thảo và Hoàng Hải Thủy, tức Công Tử Hà Ðông, lại tức Gã Thâm, người tôi đang có vài lời cảm khái hôm nay.

Mai Thảo là dân xê-li-bạt-te không bị ràng buộc nợ thê nhi, sau Tháng Tư 75 lại hay phiêu bạt, không ngụ một chỗ, công an VC tìm chưa ra nên chưa bị bắt thì còn có lý, Hoàng Hải Thủy vợ con dầm dề, chỗ ở cố định, việc thộp cổ đâu có khó. Thế thì tại sao chưa thấy bạn ta vào khám họp đại hội quần hùng?

Sau này anh em mới vỡ nhẽ. Ðầu đuôi như sau:

Công Tử khi được tin Ngày N đã tới, bèn lấy cái túi vải nhét vào trong đó vài thứ lỉnh kỉnh như áo thun, sà-lỏn, bàn chải răng, kem đánh răng, cục sà-bông. Ðó là tất cà hành trang cậu chuẩn bị cho cuộc vào nhà tù. Buổi sáng cậu dậy sớm, đeo túi vải lên xe đạp đi lăng quăng kháp nơi. Ðến khi toàn bộ văn nghệ sĩ-ký giả bị bắt bị đưa về Nhà tù Số 4 Phan Ðăng Lưu vẫn không thấy có công tử. Anh em nghĩ lẩm cẩm rằng chắc công tử đẻ bọc điều lại có thánh nhân phù trợ nên bọn công an VC bỏ sót cậu. Giả thuyết khác cho rằng có thể vì thấy cậu chuẩn bị vào tù nên bọn công an chưa bắt cậu, chúng theo rõi cậu để tìm tông tích vài người chúng chưa bắt được.

Nghe nói khi thấy bạn hữu bị bắt hết mà mình thì bị lờ đi, Công Tử Hà Ðông đâm ra ức lòng, cậu ức vì cậu không được bị bắt như anh em, cậu nằm nhà sáng tác những bài ca dao mới, cậu làm thơ gửi ra nước ngoài.

Cuối cùng cậu bị bắt. Tù hai năm cậu được tha về Ngã Ba Ông Tạ. Những văn nghệ sĩ ở tù khi được thả đều được phát cái giấy gọi là  “lệnh tạm tha.” Ra tù đói rách, may cho cậu là cậu vẫn còn nàng Alice. Nàng trước kia trông như đầm, phây phây, da thịt nõn nà, nay nàng gầy đét, xanh mướt, những ngón tay xương xẩu, lòng bàn tay chai cứng. Nhưng đôi môi nàng vẫn thắm, trái tim nàng vẫn tươi mát tình yêu. Ðể trả lời câu hỏi của Công Tử từ hai chục năm về trước:

“Hoa lòng em có về tươi?
Môi em có thắm nửa đời vì anh?”


 Thắm tươi là cái chắc.

 Alice của Công Tử âm thầm, kiên nhẫn, cặm cụi, tỉ mỉ ngồi suốt từ sáng đến khuya làm những bông hoa giấy đem bán ở những nhà thờ, nàng nuôi con và nuôi chồng. Công Tử Hà Ðông sống như ông Tú Xương.

Không được viết, những ngón tay Công Tử ngứa ngáy, cậu mỗi ngày đạp xe từ Ngã Ba Ông Tạ sang Gia Ðịnh học vẽ. Thầy dậy cậu vẽ là họa sĩ Nguyễn Sơn; tất nhiên thầy truyền nghề không lấy tiền, nhưng bút vẽ, cọ, mực mầu cậu bị thiếu.

Trí nhớ của tôi về những tháng năm ấy rất cùn. Tôi chỉ nhớ vào đầu năm 1984 tôi và các con tôi đã có passport, đợi ngày lên phi cơ sang Mỹ, một buổi chiều Công Tử đến nhà tôi.

Trên đầu vẫn có cái mũ phớt. Gặp bữa cơm, cậu ngồi ăn rất thoải mái với bố con tôi. Hai con tôi cũng học vẽ, cậu hỏi xin hai con tôi mấy cây cọ, mấy hộp mực mầu. Sự nghiệp hội họa của cậu chưa ra đâu vào đầu thì bị cắt ngang.

Một tối, ông cụ thân chủ vượt biên của tôi, ngụ trong Cư Xá Tự Do, đến báo tin cho tôi:

“Này ông.. cái ông nhà văn, nhà báo bạn ông trong cư xá tôi bị bắt đêm qua rồi đấy.”

 Tôi cho con tôi đến cư xá hỏi tin người quen, nó về báo tôi:

“Bác Thủy đã bị bắt.”

Thế là bạn ta vô khám lần thứ hai. Tôi vừa thương bạn vừa sợ, nhưng bố con tôi đi thoát.

Lần bị vồ thứ hai này nó đưa Công Tử vô Nhà Tù Chí Hòa. Trong tù không có bút giấy Công Tử làm thơ nhẩm, đọc đi đọc lại cho thật nhớ. Sang Mỹ, cậu ghi xuống giấy những bài thơ vịnh Kiều cậu làm trong tù, viết thêm lời bình và xuất bản tập Tại Ngục Vịnh Kiều.

Bây giờ cậu mợ đã sang tới đây với anh em. Cậu nói tại cặp giò của cậu mợ yếu nên lê lết gần 20 năm mới sang được xứ Mỹ.

Nhưng không sao. Tuy có chậm nhưng người đến muộn vẫn nhận được những nguồn tình nghĩa trong vắt của bạn hữu. Thế là đủ.

Cậu mợ đều đã trên sáu chục. Ở tuổi này cậu mợ đâu còn sống cho mình nhiều nữa, cậu mợ sống cho người khác nhiều hơn. Cậu mợ đã đau nỗi đau của người như nỗi đau của mình, cậu mợ đã khổ cái khổ của người, cậu mợ đã thấy dung nhan các bạn tàn phai như dung nhan của cậu mợ.

Cậu mợ biết thương các bạn. Xưa kia gặp cậu mợ tôi đã ngả nón chào. Nay gặp lại cậu mợ tôi kính cẩn cúi đầu.

Hồng Dương.

Cõi Sương Mù. Ðầu tháng, đầu năm 1995.

CTHÐ: Những năm 1981, 1982, ở Sài Gòn, Hồng Dương tổ chức vượt biên. Anh là người ký giả VNCH duy nhất tổ chức vượt biên. Người làm báo thứ hai tổ chức vượt biên là Nguyễn Ðức Nhuận, nhưng Nhuận làm trị sự báo, Nhuận không là ký giả đúng nghĩa. Nhà tổ chức Hồng Dương rất mát tay, có nhiều may mắn, không chuyến tầu nào do Hồng Dương cho đi bị mất tích ngoài biển. Hình như cũng không có chuyến nào khách đi bị bắt. Tuy nhiều người biết Hồng Dương tổ chức vượt biên – kể cả tên Công An Huỳnh Bá Thành cũng biết – Hồng Dương không bị bắt, cho đến ngày anh và hai con anh được Linh Linh Ngọc làm bảo lãnh gia đình sang Mỹ.

Người bạn tôi thứ hai tôi viết lời Tạ Ân đêm nay là Trịnh Viết Thành.

Năm 1965, Trịnh Viết Thành làm thư ký tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Khi anh rời báo Tiền Tuyến để sang làm trong tòa soạn tờ báo mới của các bạn anh, anh yêu cầu báo Tiền Tuyến mời tôi về thế chỗ anh. Nhờ Hồng Dương tôi được nhật báo Chính Luận mời viết tiểu thuyết, nhờ Trịnh Viết Thành tôi được làm thư ký tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Ðời tôi, sau chu kỳ đen như mõm chó, nhờ tình thương của hai người bạn, trở lại bình thường. Tất nhiên cuộc sống của tôi không còn phong độ như trước năm 1964.

Năm 1967, Alice và tôi xa nhau một thời gian. Một tối Thành đưa tôi đi ăn ở Nhà Hàng Chương Nam. Anh nói:

“Muốn ăn bouillabaisse, chúng mày phải đến đây.”

Khi chia tay, Thành nói:

“Mày đừng có quá buồn. Những cặp vợ chồng lấy nhau vì tình thường tám năm, mười năm, có một cái crise. Nếu vượt qua được, vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.”

Chỗ làm cuối cùng của Thành là thư ký tòa soạn nhật báo Quật Cường. Tôi nghe nói báo Quật Cường của ông Nguyễn Khắc Bình, ông Tổng giám đốc Cảnh sát-Công an cuối cùng của Quốc gia VNCH. Sau 1975, Thành ở trong số ký giả bị bắt tù nhiều năm. Năm 1988 Thành từ Trại Tù Khổ Sai Gia Trung- Gia Lai về Sài Gòn. Anh bị bệnh, qua đời ở Sài Gòn năm 1991.

Ði tù lần thứ hai về năm 1990, tôi tìm gặp Thành ngay. Tôi không bao giờ quên lời Thành nói:

“Mày đừng quá buồn..”

Năm 1991 lần thứ hai tôi từ nhà tù trở về mái nhà xưa, tôi được nhiều bạn tôi ở nước ngoài gửi tiền về giúp. Năm 1995 khi tôi đến Kỳ Hoa, các bạn tôi lại gửi tiền cho tôi. Tôi chia phần tiền các bạn cho tôi với các bạn tôi sống ở Sài Gòn.

HOÀNG HẢI THỦY

bar_divider

Tấn Đạt hát ANH CHỈ SỐNG ĐỂ CHỜ EM ĐẾN

Nhạc: Nguyễn Tuấn; thơ: Hoàng Hải Thủy

Anh chỉ sống để chờ Em đến

“Như Trái Đất chỉ quay để chờ nắng lên
Anh chỉ sống để chờ Em đến.
Giòng Thời Gian muôn kiếp lênh đênh
Ta muôn kiếp vẫn yêu, vẫn mến.
Trên vai Anh, mái tóc hương huyền
Em đã ngả từ ngày có biển.
Như mưa nguồn trở lại Đào Nguyên
Em yêu ơi, như thuyền về bến
Anh chỉ sống để chờ Em đến.
Như từ núi nước suôi về biển
Như trên hoa về những giọt sương
Như Eva trở lại Thiên Đường
Anh chỉ sống để chờ Em đến.

Thưở tinh khôi đất trời vừa hiện
Chim mới ca, suối mới đưa hương
Trong thanh không vừa có thái duơng
Em đã đến. Và Em sẽ đến.

Khi trái đất chỉ quay để chờ nắng lên
Khi loài người  còn mãi tình duyên
Thuyền Thời Gian ta mãi lênh đênh
Anh chỉ sống để chờ Em đến.

Khi trái đất ngừng quay
Ngày chẳng còn lên
Đêm thôi xuống, gió không còn thổi
Khi loài người ngừng cuộc tình duyên
Thuyền Thời Gian ta hết lênh đênh
Trong mông mênh chỉ có bình yên
Anh vẫn sống để chờ Em đến.

bar_divider

MÙA HOA ANH ĐÀO

Posted on April 20, 2011 by hoanghaithuy

Phỏng Vấn 1995.

Nhà Báo Virginia Ðào Trường Phúc:  “Nói chuyện với Nhà Văn Hoàng Hải Thủy”

Ðào Trường Phúc: Hoàng Hải Thủy là một trong số (không nhiều) nhà văn đã tự tạo dựng được cho mình một thế giới ngôn ngữ đặc thù, một văn phong độc đáo, khiến người đọc có thể “nhận ra” ông dễ dàng dù chỉ qua vài câu văn ngắn ngủi hay dăm ba mẩu đối thoại trong tác phẩm. Vì thế, chỉ vài năm sau cuộc phân ly 1975, những độc giả yêu văn ông ở hải ngoại đã có dịp khoe với nhau về một dịp tái ngộ với ông qua một phóng sự ngắn trong cuốn sách mang tựa đề “Tắm mát ngọn sông đào”, một tuyển tập những sáng tác “gửi chui” từ trong nước của nhiều nhà văn miền Nam, do Nhà Xuất bản Lá Bối thu góp và ấn hành tại Paris. Dĩ nhiên bài viết không ký tên Hoàng Hải Thủy, nhưng cho dù ông không ký tên thật của ông hay ông ký bất cứ bút hiệu nào đi nữa, chuyện ấy cũng chẳng thay đổi gì hết. Chẳng thay đổi gì hết, hiểu theo ý nghĩa là độc giả vẫn nhận ra người viết là ông, và hiểu luôn cả theo ý nghĩa là ông đã bị nhà cầm quyền cộng sản bắt ngay sau đó với một tội danh đại loại là “liên lạc với nước ngoài để phổ biến tác phẩm chống phá chế độ”. Ðó là lần đi tù thứ nhất của ông, xảy ra vào tháng 10.1977 và kéo dài đúng 23 tháng. Lần tù thứ hai dài hơn và cũng “di động” nhiều hơn (trải qua mấy nhà tù khác nhau) suốt từ tháng 4.1984 đến tháng 2.1990.

Hơn bốn năm sau khi được thả lần thứ hai, Hoàng Hải Thủy đặït chân đến nước Mỹ và thực sự tái ngộ với thân nhân, với bạn bè, với độc giả.., những người đã cách biệt ông ngót hai chục năm trời. Ông đã 63 tuổi, không còn cái trẻ trung khỏe mạnh của “Công Tử Hà Ðông” thưở xưa nữa, nhưng vẫn giữ nguyên cái phong thái ăn nói chuyện trò duyên dáng, hóm hỉnh rất đáng yêu của thời sinh hoạt trong làng văn, làng báo Sài Gòn. Giữ nguyên, nhưng đồng thời cũng pha thêm đôi chút ngậm ngùi khi nhắc đến những người bạn đã vĩnh viễn ra đi, pha thêm đôi chút chua chát khi kể đến những chuyện bể dâu trong cuộc đời và trong tình người… Hai mươi năm với bao nhiêu dập vùi cay nghiệt, làm sao người ta đòi hỏi gặp lại một “chàng tuổi trẻ phơi phới hào hoa”, như hình ảnh người phóng viên mà ông từng miêu tả trong quyển  tiểu thuyết phóng tác “Vụ Án Họ Trình” ngày nào được nữa…

Nhưng bù lại, người ta sẽ được gặp một Hoàng Hải Thủy với những bài thơ “Tại Ngục Vịnh Kiều” chứa chan cảm xúc, một Hoàng Hải Thủy nhẩn nha “Hoài niệm cuộc đời ” với tất cả những khúc quanh oan trái, những ấm lạnh ngọt bùi…Cuộc tái ngộ lần này hẳn sẽ mang nhiều ý nghĩa đáng nhớ hơn, đáng suy nghĩ hơn.

Ðào Trường Phúc: Trước hết, đề nghị anh cho bà con trong làng văn cùng anh “ngược dòng dĩ vãng” một chút nhé! Sau mấy chục năm viết và sống trên mảnh đất miền Nam tự do, anh đã gửi đến độc giả cả trăm tác phẩm đủ mọi thể loại (truyện ngắn, phóng sự, tiểu thuyết, tiểu thuyết phóng tác…) Nhìn lại từ ngày đầu cầm bút cho đến biến cố 30.4.1975, anh cảm thấy ưng ý với tác phẩm nào nhất?

Hoàng Hải Thủy: Tôi thích viết truyện rất sớm. Mười tuổi đã mơ ước có ngày mình sẽ viết tiểu thuyết như các ông Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng. Tôi 14 tuổi năm 1946. Bài viết được đăng báo thứ nhất của tôi là một bức thư gửi các anh Việt Minh và Quốc Dân Ðảng, mong các anh đoàn kết lại. Thư này được đăng trên trang nhất nhật báo Cứu Quốc ở Hà Nội. Tôi ký tên Dương Trọng Hải dưới cái thư ngắn này. Tôi làm vài bài thơ trong bốn năm đi kháng chiến. Trở về Hà Nội năm 1950, vào Sài Gòn năm 1951. Ðầu năm 1952 tôi viết truyện ngắn “Người con gái áo xanh” gửi dự Cuộc Thi Truyện Ngắn 1952 do Nhật báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc tổ chức. Cuộc thi kéo dài suốt năm. Người có bài dự thi được đăng báo, được nhà báo chi 200 đồng tiền nhuận bút. Thời 1952, 200 đồng có thể mua được một chỉ vàng. Cuối năm tuyên bố giải, truyện “Người con gái áo xanh” của tôi được Giải Nhất. Tiền giải 3.000 đồng. Tôi đi may bộ com-lê đầu tiên trong đời hết 700 đồng. Cùng năm 1952, tôi được nhận vào làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng. Cuộc đời ký giả của tôi bắt đầu. Năm 1956 tôi mới được bạn đọc đọc biết tên Hoàng Hải Thủy qua phóng sự Vũ Nữ Sàigòn đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của chủ nhiệm Hồ Anh. Rồi tôi viết truyện phóng tác cho nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong cùng nhiều báo khác…

Tôi chẳng ưng ý tác phẩm nào cả. Tôi kể tác phẩm nào của tôi được nhiều bạn đọc ưa thích vậy. Ðó là tiểu thuyết Kiều Giang, phóng tác Jane Eyre của Charlotte Bronte.

ÐTP: Bây giờ đến những chuyện “tang thương biến cải” trong ngót hai mươi năm anh kẹt lại ở quê nhà. Qua tin tức nhận được từ bên nhà, bà con đều biết anh đã hai lần nếm mùi nhà tù cộng sản cùng với hầu hết các anh em cầm bút của miền Nam. Hôm nay gặp lại nhau, anh vừa cho biết rõ thêm chi tiết: “Lần thứ nhất tù từ tháng 10.1977 đến tháng 9.1979, lần thứ nhì từ ngày 2 tháng 5.1984 đến ngày 2 tháng 2. 1990. Cả trong hai khoảng thời gian tù tội lẫn những ngày được “tự do tạm” trên quê hương, hôm nay hồi tưởng lại, anh thấy kỷ niệm nào đối với riêng anh là kỷ niệm đáng nhớ nhất? Và Sài Gòn – thành phố đầy ắp kỷ niệm của chúng ta – dưới mắt anh, Sài Gòn bây giờ ra sao?

HHT: Hai mươi năm dập dồn dâu bể, những sự kiện trời long, đất ngả nghiêng, hai lần tù đày, những năm dài u ám, tuyệt vọng. Biết bao kỷ niệm, làm sao tôi chọn được kỷ niệm nào đáng nhớ nhất? Tôi nhớ niềm sung sướng của tôi khi sau năm năm trời nằm nuôi rệp xuất khẩu trong những phòng tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, Lầu Bát Giác Chí Hòa, tôi “được” lên Trại Cải Tạo Z 30 A ở Xuân Lộc, Ðồng Nai. Trại lao động của cộng sản có lệ người tù được ra cái gọi là Nhà Khách ở với vợ con vài ngày. Lần đầu vợ tôi lên đó với tôi. Chiều gần tối, Nhà Khách trại tù vắng tanh, những vòm lá bạch đàn rì rào trong gió, vợ chồng tôi líu ríu bên nhau. Tôi bảo nàng: “Anh đi xách nước em tắm nhé..” Trong khổ đau, sợ hãi, thiếu thốn, một chút sung sướng thôi cũng đủ cho người tù thấy đó là hạnh phúc lớn. Còn nhiều kỷ niệm nữa, nhưng xin cho khất. Ðể tôi sẽ viết.

Sài Gòn không bao giờ thay đổi. Sai Gòn vẫn mãi mãi là của chúng ta. Chỉ có người bỏ Sài Gòn, Sài Gòn không bao giờ bỏ người. Bọn cộng sản chiếm được Sài Gòn nhưng chúng không làm thay đổi được Sài Gòn. Về dân số, Sài Gòn bây giờ quá đông, Sài Gòn bị ngộp thở. Từ sáu giờ sáng đến mười hai giờ đêm, thành phố Sài Gòn lúc nào cũng là ngày hội xuống đường của nhân dân.

ÐTP: Hỏi riêng anh thêm một chút xíu về những anh em cầm bút “phe ta” mà anh có cơ hội gặp lại (trong tù cũng như ở ngoài đời). Anh em ta sống ra sao? Có điều kiện để liên lạc thường xuyên với nhau không? Những ai ở tù sắp được ra?

HHT: Anh em ta vẫn gặp nhau luôn, song không thể nói thế là nhiều hay thế là ít. Chỉ biết là trong hoạn nạn chúng tôi yêu thương nhau hơn, an ủi nhau, chia sẻ ngọt bùi với nhau khi có. Số anh em ta còn sống ở Sài Gòn hiện giờ quá ít so với số anh em đã đi xa. Chú Tư Cầu Lê Xuyên có tiểu thuyết được đăng lại ở Hoa Kỳ từ mười năm nay ngày ngày ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè chỗ ngã tư Ngô Quyền-Bà Hạt. Lê Xuyên ngồi rất bền, từ 5 giờ sáng đến 11 giờ đêm, 11 giờ trưa mới tà tà ăn sáng. Nguyễn Thụy Long nặng nợ vợ con, đời sống kinh tế khó khăn, vất vả. Nguyễn Ðình Toàn cùng vợ con khai thác quán bán sách báo ở Ngã Tư Thị Nghè-Hàng Sanh. Thụy Vũ rửa tay, gác bút, ở ẩn trên vùng rừng núi Lộc Ninh. Vũ Bình Thư-Lã Phi Khanh, có tiểu thuyết Lệnh Xé xác vẫn được một số báo Việt ngữ ở Hoa Kỳ đăng lại, mai danh ẩn tích ở quê nhà Mỹ Tho. Lã Phi Khanh không kiếm được mấy tiền khi phong trào in lại tiểu thuyết cũ nổ ra ở Sài Gòn từ năm 1987 đến năm 1991, sau khi Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ.” Lã Phi Khanh trốn kỹ ở quê nhà. Khi anh lên Sài Gòn thì việc in lại tiểu thuyết võ hiệp đã bị cấm. Tôi không lần nào gặp Nguyễn Thị Hoàng, Thanh Thương Hoàng sống tương đối ung dung nhờ các con kiếm được tiền. Thái Thủy sẽ ra khỏi nhà tù Chí Hòa trong tháng 11 hay 12 năm nay. Vương Ðức Lệ phải hết năm 1995 mới hết án. Anh chị Doãn Quốc Sĩ sẽ sang Hoa Kỳ vào những tháng đầu năm 1995, Mặc Thu sống bình an ở nhà, thỉnh thoảng vẽ vài bức tranh cho vui. Dương Nghiễm Mâu ít giao du với anh em. Tú Kếu sống thoải mái trong giang sơn Trà Tiến Ðạt. Tranh của Chóe bán được nhiều tiền. Văn Quang rổ rá cạp lại với Dạ Lan, hiện sống với nghề làm sách báo bằng computer. Hồ Nam viết vặt cho vài tạp chí. Uyên Thao làm sách dậy học. Nói chung là đời sống kinh tế của anh em ta ở nhà đều vất vả, ở dưới mức trung bình. Lão liệt cả rồi. Người trẻ nhất cũng gần sáu mươi, làm sao khá được!

Cho tôi nhắc đến một số anh em ta đã chết. Các anh Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường Dê Húc Càn, Nguyễn Hoạt Hiếu Chân chết trong tù. Rồi Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Ðăng Khánh, Trọng Nguyên, Tam Lang, Trần Việt Sơn, Vũ Bằng, Cát Hữu, Trịnh Viết Thành, Huy Cường, Minh Vồ, Hoàng Ly… còn nhiều nữa nhưng ngay lúc nay tôi không nhớ được.

ÐTP: Anh vừa mới đặt chân đến đất tự do chưa được vài tuần lễ, có lẽ còn quá sớm để anh có một nhận định rõ nét sinh hoạt văn học hải ngoại và hoạch định một chương trình làm việc cho riêng mình. Tuy nhiên, cũng cứ xin anh cho biết cảm tưởng tổng quát khi anh anh gặp lại thân nhân, bằng hữu, và các anh em sinh hoạt trong giới văn nghệ, báo chí ở đây… Anh định bắt đầu lại chuyện viết lách bằng những tác phẩm nào? Chắc chắn là trong đó phải có những tác phẩm đã thai nghén trong những ngày còn ở Việt Nam, trong những điều kiện ngặt nghèo nhất? Anh có thể nói sơ qua một chút về những đứa con tinh thần sắp cho chào đời ấy được không?

HHT: Hai mươi năm mòn mỏi ở Sài Gòn, vợ chồng tôi quen nghĩ chúng tôi còn sống được là may, là mừng. Chẳng bao giờ chúng tôi mơ có ngày đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Khi đến chụp ảnh trước Nhà Trắng, chúng tôi như sống trong mơ. Ở Sài Gòn, chúng tôi đã thương các con chúng tôi, sang đây, thấy cuộc sống ở đây, chúng tôi thấy thương các con chúng tôi hơn. Các bạn Việt Nam ở Mỹ, nói rõ hơn là ở đây, những thị trấn quanh Washington D.C., có cuộc sống kinh tế cao hơn chúng tôi ở quê nhà vẫn tưởng. Các báo Việt cũng đàng hoàng, được quá. Nhiều tờ hình thức đẹp, nội dung rất chỉnh. Ở Sài Gòn chúng tôi rất ít khi được nhìn thấy những tờ báo Việt đàng hoàng như  bây giờ tôi thấy ở đây.

Tôi định viết lại và cho xuất bản trước nhất là tập Tại Ngục Vịnh Kiều, gồm những bài thơ tôi làm trong Nhà Tù Chí Hòa năm 1988. Sau đó tôi định viết tập hồi ký Hoài Niệm Cuộc Ðời, tự truyện tiểu thuyết hóa đời tôi. Tôi sẽ chia tự truyện ra làm ba phần. Sáng: thời gian từ năm tôi 10 tuổi đến 20 tuổi. Trưa: từ 20 đến 40 tuổi, Chiều: từ năm tôi 40 đến năm nay tôi ngoài 60 tuổi. Ðã hai mươi năm nay tôi không được thoải mái viết. Thói quen viết chưa mất hẳn trong tôi, song giờ đây nhiều lúc ngồi trước bàn viết tôi ngẩn ngơ không biết tôi nên viết gì. Xin cho tôi kể một chuyện:

Anh Trần Việt Sơn mất vào khoảng cuối năm 1983. Chị Sơn làm lễ 49 ngày anh mất trong một ngôi chùa sau rạp xi-nê Thanh Vân trước chợ Hoà Hưng. Chỉ có anh Tiến Lợi, ký giả báo Tiếng Dội, và tôi, là anh em “ta” đến dự lễ. Tôi ngồi trong sân chùa nhìn các cháu con anh Sơn mở lồng chim sẻ để phóng sinh. Cùng ngày hôm ấy nhà chùa có đến ba, bốn đám làm lễ rồi mở tiệc chay, đám anh Sơn nghèo nhất. Lồng chim phóng sinh của những nhà khác tới cả trăm con chim, số chim phóng sinh của gia đình anh Sơn chỉ khoảng hai mươi con, chim không nhốt trong lồng tre mà trong một bao giấy. Khi cửa lồng chim được mở, đám chim trong lồng không biết chúng sắp được tự do. Chúng cứ cuống cuồng bay trong lồng. Thế rồi một con chim đến đậu trên bậu cửa lồng. Nó ngơ ngác nhìn ra như không tin cảnh mắt nó nhìn thấy. Nó cất cánh bay vù đi. Ðến con chim thứ hai cũng lại ngơ ngác không tin như thế. Chừng ba bốn con tung cánh bay vào trời tự do rồi bọn chim trong lồng càng cuống cuồng hơn.

Có lẽ những ý tưởng trong tôi cũng đang cuống cuồng như bầy chim sẻ trong lồng tôi thấy trong đám 49 ngày của anh Trần Việt Sơn. Nhưng tôi sẽ viết. Viết là việc làm tôi yêu thích nhất đời tôi. Các bạn có thể nói những gì tôi viết ra chẳng có giá trị mẹ gì cả. Tôi đồng ý với các bạn. Tất nhiên tôi cũng muốn, cũng gắng viết thật hay nhưng tôi không có tài mà tôi lại cứ thích viết thì biết làm sao được. Chắc các bạn cũng thấy tôi đã viết ngay từ những năm 81, 82 ở Sài Gòn. Tôi sẽ viết mãi. Viết là hạnh phúc và là lẽ sống của tôi.

Ngưng trích bài Ðào Trường Phúc Phỏng Vấn.

o O o

Rừng Phong Ngày 19 Tháng Tư, 2011.

Những ngày như lá, tháng như mây..
Dòng thời gian dài một ánh bay…

Thấm thoắt vậy mà đã 17 mùa lá rụng vèo qua đời tôi từ buổi trưa Tháng 12 năm 1994 vợ chồng tôi đặt những bước chân thứ nhất vào phi trường National Washington DC, đã 17 mùa hoa anh đào nở hồng ven dòng Potomac. Hôm nay đọc lại bài phỏng vấn xưa, tôi viết thêm về những văn nghệ sĩ được nhắc đến trong bài phỏng vấn được làm 17 năm xưa:

Trong 15 năm kề từ năm 1995, anh Mặc Thu đã từ Sài Gòn sang Hoa Kỳ, sống ở Hoa Kỳ năm, bẩy năm, anh trở về Sài Gòn và qua đời ở Sài Gòn. Các anh Doãn Quốc Sĩ, Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Ðình Toàn, Uyên Thao, Thái Thủy, Vương Ðức Lệ đã sang Hoa Kỳ. Vương Ðức Lệ đã từ trần ở Virginia, mới tuần lễ trước, Thái Thủy ra đi vĩnh viễn ở Cali.

Anh em tôi giã biệt cõi đời này nhiều quá. Chúng tôi kẻ đi trước người đi sau. Như mọi người thôi, nhưng nghĩ đến chuyện ra đi tôi vẫn thấy buồn.

Ðây là bài thơ tôi làm trên đường đưa tiễn môt ông bạn đến nghĩa địa tôi trở về:

Trước, Sau

Người thi đi trước, kẻ đi sau.
Không anh nào nói: “Tao đi trước!”
Không anh nào nói: “Tao đi sau!”
Ði sau, đi trước, cùng đi cả.
Người thi đi trước, kẻ đi sau.
Kẻ đi sau lậy người đi trước.
Người đi trước kệ thằng đi sau.
Ði sau, đi trước rồi đi cả,
Théc méc làm chi chuyện trước, sau.

Hoàng Hải Thủy & Đào Trường Phúc – Lockwood House, Arlington Virginia  2019

bar_divider

Trích “Nhà Tù” của Duyên Anh

Hoàng Hải Thủy là nhà văn ăn diện nhất trong số các nhà văn Việt Nam. Có nhiều nhà văn, nhà thơ mà nếu bạn gặp họ, bạn sẽ thất vọng. Hoàng Hải Thủy thì không thế. Ðẹp trai, bảnh bao, lịch sự. Một vài kẻ không thích công nhận Hoàng Hải Thủy như một “Nhà Văn.” Chẳng hạn kẻ Trần Phong Giao, kẻ Nguyễn Quốc Trụ. Ðiều này không quan trọng. Quan trọng là Trần Phong Giao, Nguyễn Quốc Trụ cũng chưa được công nhận là những nhà văn. Vậy mà đã làm Nguyễn Mạnh Côn mất công viết tựa tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Ðời của Thủy để bênh vực Thủy.

“Nhà văn” là cái gì nhỉ? Hễ ai viết chữ, người đó là nhà văn. Há những người viết đơn thuê trước cửa Toà Án, viết thư mướn trước cửa Bưu Ðiện chẳng được gọi là nhà văn công cộng đó sao? Những tên viết văn chuyên nghiệp, những tên đổi chữ nghĩa lấy cơm áo sống trọn đời mình như chúng tôi, không lấy làm thích thú cái tước vị “Nhà Văn.” Hoàng Anh Tuấn đã chế một chữ nôm đặt tên nghề nghiệp bọn viết văn, viết báo nhà nghề vô cùng hữu lý. Viết văn mưu sinh là Thợ Viết. Vẽ mưu sinh là Thợ Vẽ. Hát mưu sinh là Thợ Hát. Ðánh đàn mưu sinh là Thợ Ðàn. Lái phi cơ là Tài xế Tầu Bay. Vân vân… Chúng ta nên dành các tước vị “nhà văn, nhà thơ” cho qúy vị viết văn tài tử, những vị sống bằng nghề khác, không sống bằng ngòi bút. Nhưng còn một hạng quý vị viết văn, viết sách chuyên  xin tiền những  quỹ trợ cấp ngoại quốc, dùng tiền của người nước ngoài cho xuất bản sách của mình để bán vung vít, chúng ta gọi qúy vị ấy là “Nhà” gì? Nhà Thầu, Nhà Buôn, Nhà Mồ, Nhà Ðòn hay… Nhà Thổ?

Tôi thấy có những thi sĩ hì hục làm thơ suốt đời, ấn loát cả chục pho Thơ mà gom lại vẫn không hay bằng một bài thơ hạng bét của Thợ Thơ Hoàng Anh Tuấn. Cá nhân tôi, nói thật, tôi  học dốt và yếu sức, tôi không thể làm ông Thông, ông Ký, ông Phu xích lô, nên tôi viết văn nuôi tôi và vợ con tôi. Tôi là Thợ Viết. Tôi không ham đi vào văn học sử hôm nay, vì hôm nav không anh nào đáng viết Văn Học Sử. Tôi không đợi đi vào Văn Học mai sau, vì mai sau tôi chết rồi. Vậy thì xin cho phép chúng tôi làm Thợ Viết như Thợ Ðóng giầy, Thợ Hồ, Thợ Mộc, Thợ Dệt, Thợ May… Hãy là người Thợ chăm chỉ làm việc, nỗ lực sáng tạo, có lương tâm nghề nghiệp, có chính kiến rõ rệt hơn là Nhà Văn lười biếng, gặm sứ mạng như chuột nhắt gặm sắt, rúc đầu xuống cát như đà điểu hèn mọn. Người ta không muốn bạn tôi là Nhà Văn thì bạn tôi là Thợ Viết.

Thợ Viết Hoàng Hải Thủy là tấm gương cho những người tự học. Tiếng Pháp tự học. Tiếng Anh tự học. Chữ Tầu tự học. Rồi dịch và phóng tác truyện Pháp, truyện Anh, truyện Tầu. Thủy đọc nhiều, nhớ kỹ. Thông minh và sâu sắc. Chỉ mắc một tội, lụy vợ. Vợ giận bỏ đi, Thủy buông xuôi mọi việc. Vợ trở về, Thủy viết lách hăng say.

( .. .. .. )

Thủy đã đi lính Quốc Gia trước 1954, đeo lon trung sĩ, từng coi Tù ở Phú Quốc. Anh đã viết một truyện ngắn về tháng ngày coi Tù, kể một kỷ niệm viết thư giùm anh tù binh cộng sản gửi vào đất liền cho vợ anh ta. Anh tù binh, hơn hai mươi năm sau, ở Cục R về “giải phóng” Sài Gòn, anh làm chủ nhiệm nhật báo Sài Gòn Giải Phóng.

Anh tù binh xưa nay là chủ nhiệm tờ nhật báo duy nhất của Sài Gòn sau năm 1975 nhớ ơn Trung sĩ Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy, Thủy thoát bị bắt trong Chiến dịch 2-4-1976. Anh tù binh-chủ báo bảo Hoàng Hải Thủy chôn chết cái tên Hoàng Hải Thủv đi rồi viết cho “cách mạng.”

– Bút hiệu cửa tôi gắn liền với đời sống của tôi. Hoặc tôi viết với tên  Hoàng Hải Thủv hoặc tôi không bao giờ viết nữa.

Ðó là câu trả lời quyết liệt của Thủy trong bữa rượu tái ngộ cố nhân. Sau 30-4-1975, Hoàng Hải Thủy đến nhà tôi một lần, chờ tôi cả tiếng đồng hồ để báo tin con trai Vũ Trọng Phụng, bậc thầy phóng sự Việt Nam, đã gặp Thủy và muốn gặp tôi. Năm 1977, Thủy bị bắt về tội gửi bài ra nước ngoài. Anh nằm Ðề Lao Gia Ðịnh, được đưa về Tổng Nha Cảnh Sát của Quốc Gia ta rồi được tha, ngót hai năm tù ngục. Tôi ra tù, Thủy đến thăm ngay. Chúng tôi có nhiều ngày đi chơi với nhau. Buổi chiều, trước đêm vượt biên, tôi mời Hoàng Hải Thủy “phê” một bữa với ông Ký Già tại toà soạn Văn.

– Mày nói rằng, đứa nào vượt biên dấu mày, đều bị bắt. Vậỵ tao cho mày hay, đêm nay tao phú lỉnh.

– Làm sao tao có tin mày?

– Tao đánh điện cho cô Tuấn.

Chúng tôi chia tay nhau ở bùng binh cửa rạp xi-nê Khải Hoàn. Tôi đi thoát. Thoát chưa phải là “đến.” Ở trại tiếp cư Achères, tôi gửi cho Thủv tấm bưu thư. Thủy viết thư nhờ một ni cô chuvển cho tôi. Thủy nói, tôi đi rồi thỉ Thủy bị khủng hoảng, muốn “noi gương” tôi. Anh có cảm giác bị đe dọa thường xuyên. Cảm giác ấy đă thành hiện thực. Hoàng Hải Thủy bị bắt lại vào Tháng 4 năm 1984.

Ngưng trích Hồi Ký NHÀ TÙ của DUYÊN ANH.

Tôi – CTHÐ Hoàng Hải Thủy – viết vài lời về Lời Kể Chuyện trên đây của Duyên Anh.

Một chiều năm 1983 tôi trên xe đạp đến nhà Lê Trọng Nguyễn rủ Nguyễn đi uống rượu vỉa hè. Tôi gặp Lan Ðài xế cửa nhà Nguyễn. Khi gặp Nguyễn, tôi nói:

“Tao vừa gặp Lan Ðài với con gái nó ngoài kia. Hình như nó muốn nói gì với tao nhưng lại không nói, cứ dùng dằng mãi.”

Nguyễn nói:

“Mày hay đấy. Nó với con gái nó sắp đi chui. Bố con nó đến chào tao. Chắc nó muốn nói với mày chuyện nó đi nhưng ngại không nói.”

Vài ngày sau Nguyễn bảo tôi:

“Lan Ðài nó chết rồi. Từ taxi lên tầu lớn ở cửa sông, ban đêm nó rớt xuống sông, chết đuối.”

Tôi hỏi:

“Con gái nó có đi được không?”

“Cũng không đi được.”

Tôi kể chuyện Lan Ðài với Duyên Anh, tôi không nói: “Thằng nào đi mà dấu tao là đi không thoát.” Khoảng năm 1981 tôi có gặp một thanh niên tự nhận là con Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, tôi không đến báo cho Duyên Anh biết người tự nhận ấy muốn gặp Duyên A
nh.

HOÀNG HẢI THỦY

bar_divider

EM HÁT TAN VÀNG, CA ĐÁ NÁT …

Khi được tin Thái Thanh bị bệnh Quên, Thái Thanh vào sống ở Nursing Home, tôi đăng bài viết này về Nàng. Phần đầu của bài này được tôi viết ở Sài Gòn khoảng năm 1970.

Hôm nay – ngày 15 Tháng Tư 2015, sống những ngày cuối đời ở Kỳ Hoa Đất Trích, tôi sửa lại bài này, tôi viết thêm một số đoạn vào bài này, để tưởng nhớ Thái Thanh, để thương tiếc Thái Thanh.

Tôi tưởng nhớ Thái Thanh, tôi thương tiếc Thái Thanh ngay khi Nàng sống trong cõi đời này như tôi.

Nay Thái Thanh đang sống những ngày cuối đời nàng.

Nay tôi đang sống những ngày cuối đời tôi.

Thái Thanh trên Trang Wikipedia:

Thái Thanh –Phạm Thị Băng Thanh – sinh ngày 5 tháng 8 năm 1934 tại Hà Nội – được mệnh danh “Tiếng hát vượt thời gian” – là một nữ ca sĩ nổi tiếng, được xem như một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam. Bà thành danh từ thập niên 1950. Bà thường được coi là “Đệ Nhất Danh Ca” của dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình miền Nam giai đoạn 1954-1975. Bà không theo học một lớp nhạc chuyên nghiệp nào, chỉ tự luyện giọng từ nhỏ theo các lối dân ca của đồng bằng Bắc Bộ và các sách nhạc tiếng Pháp. Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 bà ở lại Việt Nam cho đến năm 1985 thì chuyển sang định cư ở Hoa Kỳ. Tại đây bà tiếp tục trình diễn và thâu âm cho đến khi bà nói lời giải nghệ vào năm 2002.

Năm 1946, Băng Thanh tản cư cùng gia đình vào Chợ Đại, Thanh Hóa vùng kháng chiến, nơi bà bắt đầu hát lúc 14 tuổi với nghệ danh Thái Thanh. Cũng năm này bà chị của bà là bà Thái Hằng kết hôn với nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1950 gia đình Phạm Duy dinh tê về Hà Nội rồi chuyển vào Sài Gòn, Thái Thanh  theo vào Sài Gòn.

Năm 1956, Thái Thanh kết hôn với diễn viên điện ảnh Lê Quỳnh tại Sài Gòn. Năm 1965 bà ly dị Lê Quỳnh sau khi đã có chung với nhau 3 con gái và 2 con trai. Sau biến cố 1975, bà ở lại Việt Nam cho đến năm 1985 thì sang Hoa Kỳ.

Từ đó, tôi – CTHĐ – thấy Thái Thanh không một lần trở lại Sài Gòn.

Đứng: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Phạm Đình Viêm / Ngồi: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

Phạm Thị Băng Thanh bắt đầu sự nghiệp ca hát từ năm 13-14 tuổi..

Thời kỳ đầu, bà đi hát theo chị là ca sĩ Thái Hằng ở các chiến khu Việt Minh với các bài tân nhạc thời kỳ đầu, hay các bài dân ca mới của Phạm Duy. Đến năm 1951, bà chính thức lấy nghệ danh Thái Thanh cho giống người chị Thái Hằng.

Năm 1951, bà theo gia đình Phạm Duy vào Sài Gòn. Bà nổi tiếng trong thập niên 1950, được rất nhiều giới yêu thích từ giới trí thức cho tới bình dân. Bà được coi như một diva tầm cỡ nhất của Việt Nam thời đó. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh, truyền hình của Việt Nam Cộng Hòa. Trong giai đoạn đầu thập niên 1970, bà cùng với ban hợp ca Thăng Long thường xuyên biểu diễn tại vũ trường ăn khách Đêm Màu Hồng.

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Thái Thanh ở lại Việt Nam. Bà bị cấm hát suốt 10 năm, cho đến khi rời khỏi Việt Nam.

Năm 1985, Thái Thanh sang Hoa Kỳ định cư.  Năm 2000 bà bị tai biến mạch máu não phải vào bệnh viện. Sau đó tuy hồi phục nhưng năm 2002, bà chính thức tuyên bố giải nghệ.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn là tác giả của nhiều bài viết về Thái Thanh, phần lớn là những bài phát biểu cảm tưởng. Theo ông, trường hợp của Thái Thanh là một “trường hợp hãn hữu”, và “Máu lửa, chiến tranh, bom đạn, chia cắt, người sống, người chết, nước mắt, mồ hôi, thấm nhập vào âm nhạc của chúng ta như thế nào, đều được phản ánh qua tiếng hát Thái Thanh.” Giọng ca Thái Thanh  là đề tài ca ngợi của giới văn nghệ sĩ tại miền Nam trước 1975 và tại hải ngoại sau 1975. Nhạc sĩ Phạm Duy, người song hành với Thái Thanh trong phần lớn các ca khúc của mình, từng cho rằng không ai có thể thay thế được Thái Thanh trong sự diễn tả những sáng tác của ông.

Bên cạnh đó, nhiều nhà phê bình, văn nghệ sĩ cũng có những bài nhận định về Thái Thanh, những bài này thường mang tính ca ngợi, như Thái Thanh – tiếng hát trên trời của Thụy Khuê, Thái Thanh – tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi của Đỗ Việt Anh, Nụ tầm thanh của Hoàng Hải Thủy…Giọng hát Thái Thanh được nhà văn Mai Thảo tặng một biệt danh mà sau này thường được người ta nhắc đến, một cách trân trọng, bên nghệ danh của bà: Tiếng hát vượt thời gian.

o O o

Trích “Lời Tác Giả” Phóng Sự Tiểu Thuyết YÊU NHAU BẰNG MỒM:

CTHĐ: Năm 1970 tôi xuất bản quyển “Yêu Nhau Bằng Mồm.” Tôi tặng Thái Thanh quyển này.

Tôi viết “Yêu Nhau Bằng Mồm” để đăng báo tuần năm 1960. Ðến Tháng Bẩy năm 1970, mười năm sau ngày Kiều Ly – nhân vật chính trong Yêu Nhau Bằng Mồm – xuất hiện trên báo, tôi sửa lại bản thảo Yêu Nhau Bằng Mồm để đưa cho Nhà Chiêu Dương xuất bản.

Buổi sáng mùa thu,  một mình tôi trong căn phòng nhỏ, bên bàn viêt của tôi  là chiếc Akai xoay đều một băng nhạc do Phạm Mạnh Cương thực hiện. Tôi viết, tôi sửa bài, tôi lơ đãng nghe nhạc.

Ðến một phút nào đó tôi ngừng tay trên bản thảo vì tiếng hát của Thái Thanh. Nàng hát bài “AnimatedNotesMùa Thu Trong Mắt Em” của Phạm Mạnh Cương. Tôi xúc động vì tiếng hát và tôi chợt nhớ từ lâu rồi, từ nhiều năm nay, tiếng hát Thái Thanh đã làm tôi nhiều lần xúc động; tôi yêu đời, yêu người nhiều hơn, đời tôi sung sướng hơn, đẹp hơn, một phần là nhờ sự  ca tụng Tình Yêu của Tiếng Hát Thái Thanh.

TÌNH YÊU viết Hoa Bẩy Chữ, Hoa luôn Dấu Huyền, Dấu Mũ.

Tôi nhớ một buổi sáng cách buổi sáng hôm nay, khi tôi viết những dòng chữ này, đã gần hai mươi năm. Ðó là một buổi sáng năm 1952. Buổi sáng đó tôi là một thanh niên vừa hai mươi tuổi, những bước chân tôi đang bỡ ngỡ bước vào đường đời; tôi vừa từ Hà Nội vào Sài Gòn, tôi đang đi tìm việc làm trong những toà báo ở Sài Gòn. Viết rõ hơn: năm 1952 tôi đã bỏ học, tôi chưa có việc làm để sống, tôi chưa biết tôi sẽ làm nghề gì, tôi chỉ biết tôi muốn làm báo, viết truyện. Với tôi năm ấy một chân phóng viên báo chí với số lương tháng hai ngàn đồng bạc là một cái gì thật là lý tưởng và quí báu nhất đời.

Buổi sáng ấy – một sáng Sài Gòn đầu mùa thu – tôi đứng trên con tầu điện từ Chợ Lớn chạy về Sài Gòn, tôi thấy Thái Thanh cùng đi trên con tầu điện ấy. Năm 1952, gần hai mươi năm trước đây, Thái Thanh và tôi cùng rất trẻ – Thái Thanh sinh năm 1934, kém tôi một năm – chúng tôi đang cùng bước vào con đường văn nghệ, nàng ca hát, tôi viết truyện, làm thơ. Năm ấy tôi chưa có chút danh tiếng nào, tôi còn chưa kiếm được tiền, dù chỉ là tiền đi xem xi nê, tiền mua mấy tở báo Cine Revue, Cinemonde được gửi đến Sài Gòn bằng tầu thủy – par bateau – Thái Thanh và Ban Thăng Long đã bắt đầu nổi tiếng. Và năm đó Sài Gòn còn có đường xe điện chạy từ Sài Gòn vào Chợ Lớn trên đường Galliéni, nay là đường Trần Hưng Ðạo.

Xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn năm xưa ấy chạy giữa đường. Khi xe ngừng ở trạm, khách xuống giữa đường nên đề đề phòng tai nạn, khoảng năm 1960 chính quyền Sài Gòn triệt bỏ đường xe điện này.

Và như thế là từ buổi sáng ấy cho đến sáng hôm nay, khi tôi ngồi sửa truyện và nghe Thái Thanh hát qua băng nhựa, thời gian đã hai mươi năm trôi qua đời tôi. Và đời Thái Thanh. Tôi thấy Nữ ca sĩ Thái Thanh, với tiếng hát không có dĩ vãng của nàng, đã làm cho đời tôi đẹp hơn, phong phú hơn là tôi với những truyện ngắn, truyện dài của tôi làm cho đời nàng thêm đẹp. Vậy để trả ơn nàng, tôi trang trọng đề tặng nàng tập truyện này. Bạn đọc thông minh chắc thừa hiểu nữ nhân vật Kiều Ly của phóng sự tiểu thuyết này không phải là hình ảnh của Thái Thanh; tôi chỉ cần nói thêm rằng những đoạn nào “tả chân” về Kiều Ly là tả Kiều Ly, còn những đoạn nào tả thơm, tả sạch về Kiều Ly thì Kiều Ly đó có phảng phất hình ảnh Thái Thanh.

o O o

Bài viết ở Sài Gòn ngày Một Tháng Chín 1970..

Thời gian vỗ cánh bay như quạ.. Thơ Ông Tchya Ðái Ðức Tuấn. Ðây là nguyên thơ bốn câu của ông tôi tìm được trong Hồi Ký “Nhớ Nơi Kỳ Ngộ” của ông Lãng Nhân:

Thì giờ vỗ cánh bay như quạ
Bay hết đường xuân kiếm chỗ ngồi
Rượu đến, gà kêu, cô cuốn chiếu
Quay về, còn lại mảnh tình tôi…

Tôi chỉ đổi tiếng “thì giờ” thành “thời gian..” Ðúng là thời gian vỗ cánh bay như quạ. Năm 1970 tôi trong căn gác nhỏ ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, nghe tiếng hát Thái Thanh, viết những giòng trên đây làm lời nói đầu tập phóng sự tiểu thuyết “Yêu Nhau Bằng Mồm” của tôi. Tôi đăng Yêu Nhau Bằng Mồm từng kỳ trên tuần báo Kịch Ảnh của Quốc Phong. Truyện viết xong được Nhà Xuất Bản Chiêu Dương ấn hành thành sách. Năm 1970 tôi nhớ hình ảnh của Thái Thanh trên chuyến xe điện Chợ Lớn-Sài Gòn hai mươi năm trước – năm 1952, năm ấy hai chúng tôi rất trẻ…

Năm ấy – năm 1952 – Thái Thanh hai mươi tuổi, tôi hai mươi tuổi.

Tôi tặng Thái Thanh tác phẩm Yêu Nhau Bằng Mồm.

o O o

Thế rồi… thời gian vỗ cánh bay như quạ.. năm nay, năm 2000, buổi sáng Tháng Mười, mùa thu về trên đồng đất Virginia của người Mỹ, tôi ở Rừng Phong, viết lại bài tôi đã viết năm 1970 – ba mươi năm trước – bài tôi viết về Thái Thanh, người nữ ca sĩ của vợ chồng tôi, tôi lại tưởng như tôi nhìn thấy tôi ba mươi năm trước ngồi viết về Tiếng Hát Thái Thanh trong căn gác nhỏ của vợ chồng tôi ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn; năm 1970 ấy tôi mới bốn mươi tuổi.

Tính ra thời gian đã qua năm mươi năm kể từ buổi sáng tôi nhìn thấy Thái Thanh – Nàng hai mươi tuổi bận toàn y phục trắng, trên chuyến xe điện Chợ Lớn-Sài Gòn.

Nếu còn sống ở Sài Gòn tôi sẽ chẳng bao giờ được thấy lại, được đọc lại Yêu Nhau Bằng Mồm. Sau cuộc biến thiên 30 Tháng Tư 75 ở Sài Gòn tất cả những sách tiểu thuyết của chúng tôi đều bị tịch thu, cấm tàng trữ, tiêu hủy, chúng tôi mất hết tác phẩm. Ở Hoa Kỳ người Việt ta in lại nhiều sách truyện của những văn sĩ Sài Gòn, trong số sách được in lại ở Hoa Kỳ có quyển Yêu Nhau Bằng Mồm của tôi.

Bánh xe tị nạn khấp khểnh sang Hoa Kỳ tôi lại có quyển Yêu Nhau Bằng Mồm; nhờ vậy hôm nay tôi mới có điều kiện và cảm hứng để viết bài này. Alice và tôi có hai ca sĩ Thái Thanh và Anh Ngọc, với vợ chồng tôi Thái Thanh và Anh Ngọc là nhất. Có lần, cũng những năm 1970, tôi đã viết:

“Tôi quen mở máy nhạc khi ngồi viết, vừa viết vừa nghe nhạc. Nhưng khi tiếng hát Thái Thanh cất lên, tôi phải ngừng viết để nghe.”

Tôi vẫn nghĩ khi Thái Thanh hát mà tôi làm bất cứ việc gì là tôi có lỗi. 30 Tháng Tư 75 đến, số văn nghệ sĩ may mắn bỏ của chạy lấy người được lơ thơ như lá mùa thu, số văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở lại đông vô số kể, những ngày tháng đen tối, u sầu, lo âu kéo dài như vô tận.

Một đêm cuối năm 1976 tôi gặp lại Thái Thanh. Ðêm ấy có Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn. Vi-la số 203 đường Hiền Vương, gia chủ mời chúng tôi ăn bữa tối. Khoảng 11 giờ đêm Thái Thanh ngồi vào piano, nàng vừa đàn, vừa hát. Thấy tôi đến bên đàn, nàng mỉm cười nhìn tôi. Tôi hiểu nàng hỏi tôi:

“Muốn nghe bài gì?”

Tôi nói:

“Thôi thì thôi nhé…”

Nàng nhắc lại:

“Thôi thì thôi nhé..”

Và nàng hát cho tôi bài Ðưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Thơ Phạm Thiên Thư, Nhạc Phạm Duy. Đứng bên nàng, tôi lặng người nghe nàng hát cho riêng tôi nghe.

Sau đó tôi làm bài thơ:

TIẾNG HÁT THANH

Tiếng mẹ ru từ thưở nằm nôi,
Mẹ thôi Mẹ không hát nữa,
Khi Anh chân bước vào đời.
Tiếng hát Mẹ nằm trong ký ức
Tung cánh bay khi Em hát cho người!

Ngày xưa xa lắm ở bên trời
Có người xưa hát lúc đi rồi
Mười hôm tiếng hát còn vương vấn
Trên mái nhà xưa âm chửa rơi.
Tiếng hát Em tim Anh nức nở
Hai chục năm rồi Thanh chửa thôi!

Em hát khi Anh vừa bỏ học,
Em hát khi Anh sắp bỏ đời.
Em hát khi Anh hồng tuổi ngọc,
 Em hát khi Anh giấc ngủ vùi,
Em hát khi Anh chưa biết khóc,
Em hát khi Anh biết mỉm cười.
Em hát tan vàng, ca nát đá.
Em hát cho Anh biết ngậm ngùi.

Nắng chia nửa bãi, chiều rồi.
Ðêm tàn Em hát, buồn ơi lá sầu.
Ðộng Hoa Vàng có tên nhau,
Thương thì thương nhé, qua cầu gió bay.
Tiếng Em buồn cuối sông này,
Mây đầu sông thẫm bóng ngày khóc nhau.

 o O o

Khoảng Tháng Hai, Tháng Ba năm 1984 người Sài Gòn báo cho nhau biết có người nghe được tiếng nói của đài phát thanh kháng chiến. Nghe nói những người ở Nha Trang đầu tiên vô tình mở radio bắt được đài này. Tháng Tư năm ấy tôi nghe được tiếng nói của Ðài Phát Thanh Hoàng Cơ Minh, đài phát thanh năm lần một ngày, mỗi lần lâu một giờ. Nhạc hiệu của đài là bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông, tiếp đó là Thái Thanh hát bài AnimatedNotesQuê Em:

“Quê Em miền trung du.
Ðồng quê lúa xanh rờn.
Giặc tràn lên cướp phá.
Anh về quê cũ.
Ði diệt thù giữ quê.
Giặc tan đón Em về..”

Ðêm khuya, khoảng 11 giờ, tiếng Thái Thanh hát Quê Em từ đâu xa lắm vọng về làm Alice và tôi ngây ngất. Nghe tiếng Thái Thanh từ radio phát ra tôi nghĩ:

“Thật lạ kỳ. Giả chân, chân giả. Ðây là tiếng hát Thái Thanh – không ai có thể nói đây không phải là tiếng Thái Thanh – nhưng cũng có thể nói không phải tiếng Thái Thanh vì lúc ấy Thái Thanh đâu có hát. Thái Thanh đang ở Sài Gòn. Nghe tiếng hát của mình từ góc trời nào vọng lại, không biết Thái Thanh có cảm nghĩ gì.”

Thế rồi sau khi  đã phải sống đến năm năm trong ba bức tường, một hàng song sắt của nhà tù lớn Chí Hòa, tôi cô đơn, tôi sầu buồn nên tôi làm thơ. Thơ vẩn, thơ vơ thôi.

Năm 2000, thế hệ lão liệt chúng tôi đã và đang dắt nhau đi vào quên lãng. Thời gian tới biết có ai còn xúc động vì tiếng hát Thái Thanh, vì nhạc Phạm Duy, Hoài Bắc, Ðoàn Chuẩn?

Tôi viết bài này để hoài niệm nhau lúc chúng tôi sống; tôi viết nhớ người mà cũng là nhớ những ngày hoa niên, những ngày trung niên của đời tôi:

NỤ TẦM THANH

Tóc mai sợi vắn, sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài tình nhân.
Tiếng Em trời đất vang ngân
Âm vàng, thanh ngọc bội phần xót sa.
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm thanh.
Nụ tầm thanh nở ra cánh biếc,
Em vượt biên rồi, Anh tiếc lắm thay.
Nhớ nhau gọi một chút này
Mất nhau ta tiếc những ngày có nhau.
Nửa hồn thương, nửa hồn đau,
Nửa hồn ta tím ngắt mầu thời gian.
Nghìn trùng xa cách quan san
Biết Em chớp biển, mưa ngàn ở đâu.
Hạc vàng bay mất từ lâu
Mà sao hoàng hạc trên lầu còn Thanh.
Lan huệ sầu ai.. Lan huệ sầu thành…
Quê Em tiếng hát em xanh đất trời.
Từ ly người đã xa người
Còn đây tiếng hát một đời xôn xao.

Ta đốt lên một cành hương dạ thảo
Em biết cho… Tình Ta vẫn nhớ Người.
Thăng Long từ độ Thanh hồng hảo.
Tình khúc, thương ca động đất trời.
Tà áo xanh ngời hương mộng ảo,
Hồ điệp, Trang Châu hát giữa đời.
Người đi mùa ấy thu giông bão,
Tà áo Văn Quân mấy khóc cười.
Mái nhà xưa nhớ trăng huyền thảo,
Viễn xứ thuyền đi, biển nhớ người
Người đi vắng một trời châu bảo,
Vượn hú, chim kêu, nước ngậm ngùi.
Lâu đài tình ái sương dăng ảo
Ðồi tím hoa sim gió ạ…ời…
À… ơi.. ơi.. à …ơi…
Ngày ấy có Thanh, Thanh nhẹ vào đời
Và Thanh ca đến với lời thơ nuối.
Ngày ấy có Tôi mê mải tìm lời..
Và Thanh… Thanh..suốt một đời… Tình ơi..!

Nhớ người mười tám, đôi mươi,
Cỏ hồng, chiều tím, xanh trời, Người đi.
Chúng mình ngày đó xuân thì,
Tiếc không khăn gấm, quạt quỳ trao tay.
Gìn vàng, giữ ngọc cho hay,
Lửa hương ta hẹn kiếp này, kiếp sau.
Áo bay thương lúc qua cầu
Trăng vàng, mây bạc mái đầu thướt tha.

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm thanh.
Nụ tầm thanh nở ra cánh biếc,
Em vượt biên rồi, Anh tiếc lắm thay.
Của tin gọi một chút này:
Tóc mai sợi trắng, sợi phai
Lấy nhau đặng cũng thương hoài ngàn năm!

Thơ làm tai Phòng Giam 20 FG Nhà Tù Chí Hòa Tháng 10, 1988, khi nghe tin Thái Thanh đã sang Mỹ.

o O o

Rừng Phong. Ngày 16 Tháng Tư, 2015.

Tôi viết bài này để ghi dấu : Thái Thanh bị Bệnh Già – Quên – đã bốn năm. Đã hơn 1000 ngày đêm Nàng sống trong một Nursing Home ở Cali. Nghe nói nay Nàng không nhớ, không biết – Nàng đã quên – những người thân quen của Nàng.

Tôi mong trong vài sát-na, Thái Thanh đọc và hiểu những giòng chữ này tôi  viết về Nàng.

Trên Wikipedia, trong bài viết về Thái Thanh, người viết kể câu thơ của tôi là:

“Em hát cho tan vàng, nát đá
Em hát cho Anh biết ngậm ngùi..”

Câu Thơ Thái Thanh của tôi là:

“Em hát tan vàng, ca nát đá
Em hát cho Anh biết ngậm ngùi…”

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

bar_divider

“KỲ HOA ĐẤT TRÍCH” LÀ GÌ ?

(Hoàng Hải Thủy trả lời 1 bạn đọc trong blog của ông)

* Thư của Bạn Xa. December 17, 2008.

Kính gửi Nhà Văn. Cháu mong được nhà văn giải nghĩa câu “Kỳ Hoa Đất Trích“. Sáng nay, trên Radio vùng Orange County, ông Bùi Bảo Trúc giải rằng “Nhà Văn HHT dùng chữ  “Đất Trích” để nói lên tình trạng Nhà Văn bị lưu đày tới đất Kỳ Hoa.”Cháu vẫn chưa hiểu rõ, và cháu chưa thấy ai dùng từ ngữ  “đất trích” trước đây. “Đất trích” là đất gì? Mong ông cho biết. Xin ông gửi trả lời cho riêng cháu theo email của cháu. Vì sự dốt này mà “bị” cả diễn đàn đọc thấy thì quê lắm. Cám ơn Nhà Văn rất nhiều.

Công Tử Hà Đông: Tôi đã cẩn thận đổi tên bạn ra là Bạn Xa. Bạn yên trí không ai cười bạn là dzốt vì không biết “Đất Trích” là “Đất “gì. Nếu bạn đọc Trang này chắc bạn thấy tôi nhiều lần bị chê là “dzốt“, viết sai tùm lum. Tôi không phiền hà gì vì tôi “dzốt” thật.Về câu “Kỳ Hoa Đất Trích” thì có nhiều người không biết, tôi đã hơn một lần được bạn đọc hỏi về “Đất Trích“, tôi cũng hơn một lần viết về “Kỳ Hoa Đất Trích.” Nay bạn hỏi, xin viết lại:“Đất trích” xuất từ tiếng “Trích điạ” trong Thơ Tỳ Bà Hành của Thi Sĩ Tầu Đường Bạch Cư Dị:

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
Tương phùng hà tất tằng tương thức.
Ngã tòng khứ niên từ đế kinh,
Trích cư ngoạ bệnh Tầm Duơng thành.

Thi Sĩ Việt Phan Huy Vịnh dịch:

Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.

Ngày xưa, những ông quan có lỗi thường bị Vua phạt bằng cách đổi đi làm quan ở những nơi xa đô thị, ở những vùng hoang vắng khỉ ho, cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối, người ăn sắn. Quan lại Tầu gọi việc viên quan bị đày đi xa là bị “biếm trích“, gọi nơi vị quan bi đày đến là “trích địa.”Ngày xưa quan chức bị đày đi làm ở những nơi xa — bị biếm trích, nặng hơn là bị lưu đày — là một tai hoạ, một chuyện không may, chẳng ai muốn đi. Trong đời tôi, tôi thấy với nhiều người Việt việc bỏ nước đi đày là một may mắn, nhiều người hối hả chạy chọt để được đi đày. Ngày xưa, quan lại Ta, quan lại Tầu có bị đi đày — biếm trích – xa lắm cũng chỉ ở trong nước các ông, trong Thế Kỷ 20 những người Việt Nam bị đày sang tít mút một nước lạ ở bên kia biển lớn, xa sôi như vậy nhưng người ta hăng hái, sung sướng đi đày.Cảm khái, tôi phóng tác Thơ:

Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp lại nhau càng xót thương nhau.
Từ xa Tổ Quốc bấy lâu,
Kỳ Hoa Đất Trích gối sầu hôm mai.

Tôi ở Virginia. Người Mỹ gọi Virginia là “Virginia is for Lovers.” Tôi ghi trên những bài viết của tôi ở Hoa Kỳ là “Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích.”

bar_divider