Trung Hoa du ký

Trần Hữu Hiệp

Hồi xem film Thiếu Lâm Thời Nay, tôi có nghe một đoạn đối thoại rất vui. Sư đệ hỏi sư huynh:
– Vì sao khi sấm chớp, mình thấy chớp trước rồi mới nghe tiếng sấm sau?
– …Tại vì con mắt mình nằm trước cái lỗ tai.
– Vậy sao cái mủi trước cái tai mà lúc mình đánh rắm, mình nghe một cái tít trước rồi mới nghe mùi thúi sau.
– …Tại vì rắm đến từ phía sau…

Người Hoa hay lý giải sự vật theo trí tưởng tượng của mình. Từ thuở rất xa xưa, họ đã có một loại hình giải trí là tiểu thuyết. Tiểu thuyết là kể chuyện cho mọi người nghe. Nó giống như việc đàn ca xướng hát để kiếm ăn. Tam sao thất bổn, những chuyện kể bỏ ngõ cho người kể thêm bớt tâm tư tình cảm và trí tưởng tượng của mình vào. Chuyện được nhớ, lưu truyền, biến đổi theo thời gian, là tiền thân của tiểu thuyết (novel) sau này. Lịch sử cũng theo đó mà được tiểu thuyết hóa. Vì vậy, đến Trung Hoa thì nên nhìn để nhận xét, nghe thì nghe nhưng phải gạn lọc nhiều may ra thấy được một hai phần sự thật.

Trung Hoa du ky 01Nước Việt Nam có một mối liên hệ truyền kiếp với Trung Hoa. Tôi đến đây lòng bùi ngùi tưởng nhớ đến những quan lại Việt Nam ngày xưa vượt sáu bảy ngàn cây số để đi sứ. Rừng rậm, núi cao, thú dữ, giặc cướp…Các cụ lại hành trình với sản vật, người đẹp, của quý…Chắc là khi ra đi, các cụ đã có sẵn dự kiến không có ngày về.

Trung Hoa có diện tích 9,6 trieu Km2, dân số 1,3 tỉ người. Khí hậu đa dạng từ ôn đới đến bắc ôn đới, từ hải dương đến lục địa, từ đồng bằng đến núi cao. Trung Hoa có 56 dân tộc, 23 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 thành phố. Mỗi một dân tộc có ngôn ngữ riêng. Mỗi một tĩnh có một một ngữ riêng. Văn hóa đa dạng, phong phú.

Ở Tây Tạng có một tập quán là mỗi năm người ta chỉ tắm một lần. các cô gái ở đây thấy thích ai là cho thoải mái. Những đưa con không cha có một cái tên chung là Tiên Nữ. Ở  Cam Túc có một tập quán là một đời người chỉ tắm có 3 lần. Một lần khi mới sinh, một lần khi lập gia đình và một lần khi chết. vậy mà dân ở đây thọ rất chì mới lạ chứ. Và chắc chắn còn nhiều chuyện lạ khác mà tôi chưa được … nghe.

Người Hoa thường kháo nhau:
Muốn ăn thì đến Quảng Châu
Muốn chơi thì đến Tô Châu (Nơi của Việt Vương Câu Tiễn ngày xưa)
Muốn kiếm vợ thì đến Hàng Châu (Nơi của mấy mỹ nhân như Tây Thi, Điêu Thuyền, nổi tiếng về lụa)
Muốn chết thì đến Liễu Châu (Dân Liễu Châu coi quan tài là một vật thiêng do đồng âm với quan và tài. Họ mong được thăng quan phát tài)
Muốn uống rượu thì đến Quí Châu
Tôi không thích mấy thứ đó nữa, muốn học võ chắc là phải đến Hồ Nam vô chùa Thiếu Lâm…

Họ còn kháo nhau rằng:
Đến Bắc Kinh để thấy chức mình còn nhỏ (Nơi chủ tịch của 1,3 tỉ dân sống và làm viêc)
Đến Thẩm Quyến (Quảng Châu) để thấy mình chưa giàu (Nơi mấy đại gia mua biệt thự để tặng bồ nhí)
Đến Thương Hải để thấy nhà mình còn thấp (Thượng Hải có tòa nhà cao 88 tầng)
Đến Hải Nam để thấy mình còn yếu (Hải Nam của TQ giống như Đồ Sơn của VN)
Chính phủ Trung Hoa khuyến khích dân học tiếng phổ thông, không cần thiết phải học ngoại ngữ như Anh, Pháp.

Bắc Kinh nằm ở phía Bắc nước Trung Hoa, diện tích 16.800 Km2, gồm 16 quận, 2 huyện. Dân số Bắc Kinh 14 triệu người, trong đó 10 triệu người là công chức. Thu nhập bình quân đầu người là 1650 nhân dân tệ một tháng, tương đương khoảng 200 USD. Nếu cộng thên dân nhập cư, dân số Bắc Kinh khoảng 19 triệu người. Dân tộc: Hán, Mãn, Mông. Nhiệt độ thấp nhất –12oC, cao nhất 42oC. Xe auto 2.7 triệu chiếc, bình quân 5 người có một chiếc. Xe đap bình quân mỗi người một chiếc.

Bắc Kinh là thành phố của bụi. Bão cát sa mạc, bụi từ phía bắc thường tràn về thành phố làm ảnh hưởng đến sinh hoạt. Ngày xưa, Chu Nguyên Chương đóng đô ở Nam Kinh, có 26 trai, 17 gái. Năm 1403, chu Nguyên Chương mất truyền ngôi cho cháu nội là vua Kiến Văn. Chu Đệ là con của Chu Nguyên Chương mới 12 tuổi đã được cắt cử trông coi một trường võ bị ở Bắc Kinh. Chu Đệ bất mãn tập hợp 100.000 quân từ Bắc Kinh đánh Nam Kinh cướp ngôi của cháu mình. 1406, Chu Đệ dời đô về Bắc Kinh. Từ đó, Bắc Kinh lại tiếp tục là thủ đô của Trung Hoa cho đến bây giờ, trãi 14 đời vua triều Minh, 10 đời vua triều Thanh và suốt thời kỳ lịch sử cận đại. Chu Đệ rất tin phong thủy. Việc chọn Bắc Kinh làm thủ đô có liên quan đến phong thủy. Phía bắc thuộc thủy, phía nam thuộc hỏa. Phía bắc cao để thủy chảy về dập hỏa phương nam, Ngoài ra lưng dựa núi cao với Vạn Lý Trường Thành, mắt nhìn Hoàng Hà, Chu Đệ cũng có thể yên tâm ngó xuống chinh phục, bình định phương nam. Cũng vì cái múc đích này mà Bắc Kinh không giống những thành phố khác phát triển  theo lưu vực của các con sông lớn. Người Trung Hoa phải làm một công trình thủy lợi dẫn nước từ xa 1.000 Km để phúc vụ cho Bắc Kinh. Vua chúa trong thành thì xài nước ở Vương Phủ Tỉnh, nơi các thân vương ở. Người ta nói nước giếng ở đây mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát, lại nằm trong vương phủ nên an toàn. Dù sao thì an toàn cũng chỉ tương đối vì mấy ông thân vương không phải ai cũng thích vua (dù là anh em họ hàng). Những người Trung Hoa thời nay nói Trung Quốc có lãnh thổ hình con gà trống. Bắc Kinh nằm ở đầu, Nam Kinh (Lưu vực sông Dương Tử) nằm ở chân. Chọm đầu gà tốt hơn. Tôi thấy điều này không được xác thực. Có lẽ người Trung Hoa ngán nhất là người Mông Cổ, sai là người Kim ở mặt Bắc nên họ tập trung binh lực chính quy ở đó. Lỡ có thua thì họ cũng chạy được về Nam Kinh chờ cơ phục quốc. Hình như càng đi lên phía bắc, người ta đánh đấm càng giỏi. Cũng may nhờ vậy chứ nếu Trung Hoa mà yên tâm mặt Bắc chắc là lịch sử Việt Nam sẽ còn đau khổ nhiều hơn.

Trung Hoa du ky 03Giao thông ở bắc Kinh được chấp hành nghiêm ngặt. Mỗi bằng lái xe có 12 điểm cho sẵn. Mỗi tài xế trong năm bị phạt tối đa 6 điểm. Một lần vượt đèn đỏ bị trừ 3 điểm. Trong năm mà bị trừ đến 6 điểm là phải đi học lấy bằng lại. Nếu xài hết 12 điểm là bị tước bằng vĩnh viễn. Tài xế bị phạt phải đứng đường canh giao thông cho đến khi có xe khác vi phạm luật, có người đứng thế hoặc nếu không có ai vi phạm thì đứng đến 5g chiều. Đường rộng từ 14 m cho đến 128 m, số làn xe xê dịch từ 4 làn đến 12 làn. Toàn Bắc Kinh có 1336 chiếc cầu vượt và nhiều hầm vượt. Giá taxi ở Bắc Kinh là 10 tệ cho 2 Km đầu, từ Km thứ ba trở đi, mỗi Km có giá 2 tệ. Một tệ quy đổi ra khoảng 2,200 tiền VN.

Người dân Bắc Kinh hầu hết ở chung cư. Chung cư có 3 loại, cao thấp và trung. Chung cư 6 tầng là chung cư dành cho người có thu nhập thấp. Người Bắc Kinh chào nhau với câu ăn gì chưa. Có lẽ cái ăn có một thời gian dài là mối lo chung của họ. 9g30 tối, cả thành phố đi ngủ. Sinh hoạt ở đây khép kín trong nhà và trong sở chứ không lộ ra đường.

Công sở thường có tượng mấy linh vật. Có 3 loại tượng thường được dùng là sư tử, lân và kỳ hươu. Tượng con sư tử tượng trưng cho công sở nhà nước, tượng con lân tượng trưng cho tòa án, tượng con kỳ hươu tượng trưng cho tư nhân.

Từ 1958 đến 1978 là thời kỳ cách mạng văn hóa. Dân trí thức đi về quê làm ruộng. Dân quê lên thành phố làm công tác quản lý. Mao Trạch Đông muốn xây dựng một thế hệ trí thức mới, không muốn dùng trí thức cũ. Hoạt động tín ngưỡng như thắp hương cũng bị cấm. Từ năm 1978, thời kỳ cải cách mới bắt đầu.

Cây cối mùa đông trút hết lá. Mùa xuân ra hoa. Hoa ra sớm nhất là hoa nghinh xuân, rồi đến mộc lan. Người dân có thói quen ướp hoa quả để giữ lâu, xài dần. Vì vậy, nếu không dùng nước muối để rửa thuốc bảo quản, người ăn dễ bị đau bụng.

Tôi đến bắc Kinh một buổi tối cuối đông, đầu xuân. Nhiệt độ ban ngày khaỏng từ 10 đến 15 đô. Ban đêm nhiệt độ xuống còn từ 5 đến 8 đô. Gió mạnh thổi từng cơn buốt thịt da. Sáng sớm và chiều tối, người ta nói chuyện ra khói giống như đang hút thuốc lá. Bắc Kinh đang chuẩn bị các công trình xây dựng để đăng cai Olympic 2008. Một khất cái già co ro bên lề đường. Bên cạnh cát bụi phồn hoa, bao giờ cũng có những thân phạn vất vưởng. Một thoáng se lòng cho thân phận người lớn tuổi trong cơn lốc thay đổi thời hiện đại…

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương (Bà Huyện Thanh Quan)

Quảng Trường Thiên An Môn được nhà Minh xây dựng vào năm 1406. Lúc ấy nó có tên Thiên Thừa Môn. Nó nằm ở mặt nam, hướng ngọ của kinh thành. Diện tích Thiên An môn khoảng 44 Ha, có thể chứa 1 triệu người. Từ mặt nam nhìn vào, lăng ông Mao nằm bên tay phải, kế đến là đài liệt sĩ. Phía bên trái là Quốc Hội Đại Lễ Đường. Cuối quảng trường là Thiên An lầu, lối vào sân Ngọ Môn của kinh thành. Một bức hình Mao Trạch Đông rất to được treo ở Thiên An lầu. Nhìn quảng trường Thiên An môn, tôi có cảm giác nó giống như quảng trường Ba Đình của Việt Nam.

Trung Hoa du ky 02Kinh thành Bắc Kinh rộng 72 Ha, lưng dựa bắc, mặt ngó nam, xung quanh là một hào rộng 52m. Qua khỏi Thiên An lầu là mấy chiếc cầu làm bằng bạch ngọc dẫn đến Ngọ Môn. Cầu chính giữa để cho vua đi. Cầu hai bên dành cho các qua từ tứ phẩm trở lên, văn đi bên trái, võ đi bên phải. Các quan địa phương hoặc từ ngũ phẩm trở xuống phải đi đường hông.

Thành được xây tường màu đỏ (hỏa tượng trưng cho quyền lực), ngói vàng (thổ tượng trưng cho đất đai cương thổ), gồm 9.999  gian rưỡi. Có nửa gian xây tường tro ngói xanh biển. Đây là nơi còn lưu giữ nhiều di tích của hai triều Minh (1421-1644) và Thanh (1644-1911). Gỗ xây dựng thành có tuổi ít nhất là 500 năm, nhiều nhất là 1.200 năm tuyển từ Tứ Xuyên, Sơn Đông, Hồ Nam về. Đá trong thành được tạc từ hán bạch ngọc. Những người xây dựng ngoại thất thì còn được toàn mạng, giữ lại làm thái giám. Những người xây dựng nội thất thì phải chết để bảo toàn bí mật thiết kế. Một hoàng tử mỗi đêm ngủ một phòng thì phải đến năm 27 tuổi mới giáp hết một vòng các phòng trong đó. Sân trong thành được lót 9 tầng gạch, các cây phía trước và xung quanh khu vực vua ở đều bị triệt trắng để đề phòng thich khách. Cung có đường hầm để vua ẩn nấp khi cần thiết.

Trước cửa Ngọ Môn là một khoảng sân rộng. Nơi đây, 200 ông quan triều Minh và 80 ông quan triều Thanh đã bị phạt đánh hèo cho đến chết. Ai bị đánh hoài mà không nghe vua bảo ngừng thì coi như là không bao giờ ngừng cho đến khi chết. Qua cửa Ngọ Môn là khoảng sân rộng rồi tới điện Thái Hòa, nơi vua thiết triều. Qua điện Thái Hòa là Trung Hữu Môn dẫn ra phía sau điện Thái Hòa. Cửa sau điện Thái Hòa là một tấm thảm ngọc dày 1.7m, dài 16.75m, rộng 3.07m, nặng 200 tấn chuyển về từ hơn Sơ Đông, xa 1.400 cây số.

Trung Hoa du ky 04.pngSân sau điện Thái Hòa, bên tay trái là điện Trung Hòa là nơi vua mặc long bào trước khi thiết triều, nghỉ giải giữa buổi và là nơi các quan “được” tặng quà hối lộ vua mà không sợ bị bắt tội. Sau điện Trung Hòa là điện Bảo Hòa. Điện Bảo Hòa là nơi tiếp đón các vị trạng nguyên, thám hoa, bang nhãn tân khoa 3 năm một lần, nơi công chúa kén chồng và là nơi mỗI năm một lần, vua đãi tiệc cho các hoàng thân quốc thích trong cả nước.

Mặt sau của Điện Bảo Hòa là một khoảng sân rồi đến Càn Thanh Cung, nơi vua ở.  Ở Trung Hoa có mấy điều kiêng kỵ là phá mồ người khác, gõ cửa bà góa và chửi người câm. Vua càn Long cho phá lăng Vạn Lịch lấy gỗ và ngọc về xây nhà cho mình nên tự nguyện còng tay bằng vòng ngọc, tự mình đi du lịch ba năm ở Hàn Châu. Trên sông Tiền Đường vua gặp một cô gái 14 tuổi người Hán, con ông chèo đò. Sau hai ngày một đêm, ông cua được cô gái, được cô nuôi ăn nuôi học. Ba năm sau, ông trở về Bắc Kinh để lại một bào thai trong bụng của cô gái mà không hay biết. Đứa con được một tuổi thì cô gái mất. Năm cô bé 12 tuổi, ông ngoại dẫn cô rời Hàn Châu về kinh thành để tìm cha. Qua sáu năm, họ mới đến được kinh thành. Nhờ chiếc vòng kỷ vật, ông mới nhận ra. Khi gặp lại con và hài cốt người vợ cũ, ông cho chôn hủ cốt ở trước cung càn Thanh. Cô Từ đó các vua sau không ở cung Càn Thanh mà thay đổi chỗ ở. Mùa đông thì ở Trung Nam Hải gần điện Thái Hoà, mùa hè thì ở Di Hoà viên. Cô bé gái (Hoàn Châu cách cách) năm  hai mốt tuổi được gả cho con của Hòa đại nhân.

Giao Thanh Cung là nơi hoàng hậu xử lý việc hậu cung. Hồi nhà Minh, Thái giám tham gia chính sự, lộng quyền tác quái. Rút kinh nghiệm, nhà Thanh không cho Thái Giám tham gia chính sự nữa. Đôi kỳ lân bịt mắt bịt tai có ý nhắc nhở các thái giám an phận thủ thường, bịt mặt bít tai lo hậu cung mà thôi. Kỳ lân mạng hỏa, khắc kim. Đôi kỳ lân nhắc nhở và ếm các thái giám, không cho mấy ổng lộng quyền, hối lộ, tư lợi.

Chuyện kể rằng hồi xưa mấy thái giám hối lộ dữ lắm. Ai muốn “được ơn mưa móc” của vua thì phải hối lộ cho mấy ổng để mấy ổng tạo cơ hội. Chuyện bại lộ, ông Sùng Chính – vị vua cuối của triều Minh giận lắm. Ổng không nhờ thái giám nữa mà nhờ dê dẫn đường. Các nàng thái bông sua đũa về treo để ông dê khoái mà dừng lại. Súc vật mà cũng biết ăn hối lộ. Vua thấy không ổn, cuối cùng mới chọn theo kiểu xin xăm. Mỗi một lá xăm có tên họ và lý lịch trích ngang của một cô. Việc hành lạc của vua được ghi chép cẩn thận. Ai mà vừa ý thì không được tẩm bổ, ai phục vụ không tốt thì chỉ cần ổng ra dấu gãi đầu một cái, cô ấy sẽ “được” uống thuốc để triệt sản. Cô nào mang thai sẽ được truy cứu cẩn thận, tránh việc rồng nuôi con của cọp hoặc con của chó. Súng Chính rất tàn ác, có lần bị mấy cung nữ mưu sát. Từ đó, mỗi lần hành lạc, luôn có một thái giám đứng ngoài chầu chực. Sau một khoảng thời gian nhất định, thái giám hô: “Hoàng Thượng” . Vua dù đang sướng mấy cũng phải trả lời: “Trẫm đây”. Nếu không nghe vua trả lời, thái giám sẽ xông vào để cứu giá. Sau này khi mất kinh thành về tay Lý Đạo Thành, ông Sùng Chính dẫn toàn bộ cung tần phi nữ chạy ra núi Cảnh Sơn, bắt tất cả cùng chết với mình ở đó.

Trung Hoa du ky 05Khôn Linh Cung là nơi ở của hoàng hậu. Hậu Cung là nơi ở của cung nữ, phi tần. Nơi đây từng diễn ra nhiều tấn bi kịch, con người chà đạp lẫn nhau vì quyền lực và địa vị. Họ không thù oán gì với nhau phải giết hại lẫn nhau như kẻ tử thù bất cộng đái thiên. Ngược lại, cũng có mấy cô suốt đời chưa một lần gặp vua, vui vẻ trong cung cho đến già đến chết.

Sau Hậu Cung là vườn thượng uyển. Nơi đây có hai cây mọc cách nhau khoảng một met. Cành cây này chàng sang nắm lấy cành cây kia. Chuyện kể rằng đời nhà Kim đánh Tống, vua Tống yêu thế phải chạy về Nam Kinh. Có một ông quan có vợ rất đẹp. Vua Kim thấy vợ ông muốn đoạt lấy nhưng bà vợ nhất quyết cự tuyệt. Ông vua bèn kêu ông quan ấy ra sau vườn Thượng Uyển đào một cái hố sâu. Vừa đào xong là quân lính xô ông xuống chôn sống luôn. Bà vợ hay tin xin vào, đào hố lên rồi tự tử, nhảy xuống hố chết chung với chồng. Vua Kim giận lắm lại đào hố lên, không cho hai người được đồng quan đồng quách. Chỗ chôn hai người sau này mọc lên hai cây liền cành. Có lẽ đó là chuyện hư cấu. Nhưng cái chắc chắn có là sự bạo ngược của mấy ông phong kiến độc tài, nghĩ mình là thiên tử.

Cuối vườn Thượng Uyển là Vọng Hương Sơn, một quả núi đá nhỏ xíu, nơi các cung nữ vào ngày mùng 9 tháng 10 hàng năm lên đó ngó về hướng quê nhà, gửi niềm thương nhớ. Một lần tiến cung là không mong ngày gặp lại gia đình, cha mẹ. Nghe nói dướI Vọng Hương Sơn là một kho báu chôn ngầm. Kho báu cũng bị liên quân Anh Pháp vơ vét đem đi.
Sau Vọng Hương Sơn là tường sau của thành, kế đó là hào. Xa xa là núi Cảnh Sơn,  nơi vua Sùng Chính chết. Trên đỉnh Cảnh Sơn là một chùa có tượng phật rất to.

Trong phạm vi vua ở, vì thiếu cây, tường cao nên mùa hè rất nóng. Người ta đặt 308 vạt nước bằng đồng dát vàng (3Kg vàng mỗi vạt) để chứa nước. Nước làm dịu đi nhiệt độ mùa hè. Mùa Đông người ta đốt lửa nấu nước tạo hôi ấm. Nước còn có thể dung để dập hỏa hoạn.

Tôi chỉ khám phá cái xương sống của kinh thành. Để tìm hiểu mấy cái xương sườn, e rằng phải mất rất nhiếu thời gian. Có lẽ có nguồn gốc từ 800 nước chư hầu hợp nhất, các vua coi dân như cỏ rác, như nô lệ. Tôi không ấn tượng với lộng lẫy, đồ sộ của kinh thành mà có một chút bùi ngùi cho những thân phận đằng sau cái lộng lẫy, đồ sộ đó. Trong hoàn cảnh đất nước như vậy mà không độc tài, tàn ác thì cũng khó tồn tại. Chỉ có điều không phải ông độc tài nào cũng có đủ tài. Và cái mấy ổng chăm lo nhứt là quyền lợi, hưởng thụ bản thân. Dân khổ là phải rồi. Vì vậy mà khi có binh biến, sức đề kháng của mấy ổng yếu ớt lắm. Khi thực dân dòm ngó Á Đông, người dân Á Đông trong chế độ quân chủ  phong kiến lúc đó đã rất đủ chín mùi để làm nô lệ rồi.