Thầy Vũ Đình Lưu, Cựu giáo sư Toán Petrus Ký

Nguyễn Bei

(Nguồn: đặc san Tạ Ơn Thầy – Nhớ Ơn Cô, thực hiện bởi một nhóm CHS Petrus Ký 65-72)

(viết cho ngày sinh nhật thứ 70 của thầy – Tháng 3, 2009)

[“Guitar Player”, tranh của Frances Landel]

Bạn bè của tôi sau khi đọc bài viết này chắc không ngạc nhiên khi biết gần 50 năm trước, thầy Vũ Đình Lưu đã chọn Đại Học Sư Phạm, nghề giáo, viên phấn, bảng đen thay vì trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Sài Gòn, cuộc đời nghệ sĩ, cây đàn. Như đa số, tôi chỉ đoán thầy đã lấy quyết định này vì gia đình, vì xã hội, vì sinh kế. Mặc dù tôi thích dạy học và cảm ơn thầy đã chọn nghề giáo để thầy trò hôm nay còn nhớ về nhau, nhưng tôi vẫn phân vân…

Mathematics and Music, the most sharply contrasted fields of intellectual activity which one can discover, and yet bound together, supporting one another as if they would demonstrate the hidden bond which draws together all activities of our mind, and which also in the revelations of artistic genius leads us to surmise unconscious expressions of a mysteriously active intelligence (Helmholtz đã viết về những người có thiên tài toán học và lại giỏi về âm nhạc).

Thầy Lưu dạy Toán và cũng là giáo sư hướng dẫn lớp 12B6 của chúng tôi tại Petrus Ký năm 71 -72. Những ngày cuối năm 1971, anh em chúng tôi muốn làm một cái gì để giữ lại kỷ niệm bảy năm học tại Petrus Ký. Cả lớp đã chung tiền và dành cả hai ngày cuối tuần để sơn sửa lại phòng học mà không xin phép một ai. Ai. Sau khi bọn tôi làm, vài lớp khác cũng làm theo. Dù làm đẹp cho phòng học, nhưng những điều chúng tôi làm đã vi phạm quy cũ của trường. Vì thế, các thầy Hiệu Trưởng, Giám Học và Tổng Giám Thị đã xuống lớp cảnh cáo chúng tôi. Các thầy chỉ mắng nhẹ bọn tôi “phá hoại” trường ốc vì thấy phòng học được sơn phết sạch sẽ, khang trang hẳn lên. Lại thêm, sau khi sơn xong, bọn tôi lau chùi cửa sổ, bàn ghế, nền gạch sạch bóng. Chắc các thầy cũng không nỡ cho cả lớp cấm túc, nhất là 3, 4 đứa tôi lại thuộc ban đại diện học sinh năm đó. Tuy nhiên, tôi không biết thầy Lưu, là giáo sư hướng dẫn lớp, có bị phiền toái về chuyện bọn tôi làm?

Sau khi sơn sửa lớp xong, chúng tôi lại bỏ thì giờ chuẩn bị cho chương trình văn nghệ Tết Nhâm Tý. Không biết bạn nào có ý kiến, nhưng cả bọn đồng ý có bạn gái đều được mời tham dự tiệc Tất Niên. Thứ nhất để các anh trình làng các chị. Oai lắm, những bạn có bồ. Nhưng quan trọng hơn nữa dù không ai nói ra, bọn tôi đều biết, vài tháng tới bọn tôi sẽ xa nhau nên vui chơi được tí nào hay tí nấy. Có đứa sẽ đi du học hoặc thi đậu vào học các phân khoa đại học tại Sài Gòn, và cũng có đứa vì hoàn cảnh gia đình, xã hội, chiến tranh sẽ phải bỏ cuộc chơi.

Lê Tấn Tài (1), trưởng ban văn nghệ của 12B6, đã cố gắng luyện tập ráo riết chúng tôi đồng ca những bài ca hợp xướng. Bây giờ có máy karaoke, có nhiều người thích trổ tài ca hát, chứ vào năm 71 -72, ít ai dám đơn ca trước đám đông, nhất là trước mặt các cô. Nếu người nào đã nghe chúng tôi tập ca hợp xướng lúc ban đầu, sẽ cảm thấy vô vọng vì vài anh em hát lạc điệu nên nghe hơi chướng, và kẻ hát giọng đồng, người ca giọng kẽm. Thế mà với sự nhẫn nại và sự hòa âm khéo léo của “nhạc trưởng” Lê Tấn Tài, cuối cùng ban hợp xướng đã “ăn rơ” với nhau.

[Hình ảnh: Tất Niên 12B6, niên khóa 71 – 72. Những người trong ảnh, Hoàng Long Hải đang dạo đàn (Hải là lực sĩ điền kinh của trường, rất tiếc Hải đã qua đời tại Montréal vài năm trước), Võ Minh Phụng, bạn gái Phụng (không nhớ tên) và Trương thị Quý, ngồi bên mặt [Nguồn: http://www.petrusky.net]]

Thầy Vũ Đình Lưu là giáo sư hướng dẫn của lớp và dạy nhiều giờ nhất trong tuần, thế nào thầy cũng nghe chúng tôi bàn tính chuyện hò hát hay hát hò, không biết thầy có gải đầu?

Nếu lúc ấy chúng tôi biết tài âm nhạc của thầy Lưu thì đỡ biết mấy. Nhưng lúc ấy, dưới cái nhìn của anh em chúng tôi, thầy Lưu chỉ là giáo sư Toán nghiêm nghị được bọn tôi quý mến vì tính hòa nhã của thầy. Có đứa bạn ngày xưa đã cho tôi cảm nghĩ về thầy:

– Thầy hiền lành và có cái từ tốn như một cậu công tử nhà giàu.

Riêng tôi, lúc đó lại có cái một ý niệm khác về thầy nhưng chưa rõ ràng. Tôi vẫn nhớ hình ảnh thầy đứng khoanh tay, mân mê viên phấn, đứng hơi nghiêng người nhìn Mai Viết Kinh Luân (MVKL) trên bảng đen giải bài toán Hình Học Không Gian với nhiều cách khác nhau. Mái tóc của thầy bồng bềnh khiến tôi có sự so sánh giữa thầy và một người lãng tử.

Ngày xưa tôi rất thích đọc truyện cowboy Lucky Luke và chú ngựa Jolly Jumper. Trong ông thầy dạy Toán của 12B6, tôi thấy có chút gì nghệ sĩ tính, nhưng không cách nào kiểm chứng.

[Hình ảnh: Hình của thầy Vũ Đình Lưu, chụp chung với anh em 12B6 (71-72). Hàng đầu, từ trái Đoàn Danh Hồng, Trần Thành Minh, Võ Minh Phụng, thầy Lưu, Đỗ Khắc Phái, Trần Đình Khoa, bạn đeo kính không nhớ tên, xx, bạn chỉ tay không nhớ tên, yy ? Hàng sau có Trần Thành Minh, Nguyễn Quốc Hào, Tuân (che mũi), Nguyễn Tấn Lũy (đeo kính), v.v.]

Tôi rời Việt Nam vào cuối năm 1972. Sau 4/75, tôi gần như mất hết tin tức về gia đình, bạn bè, thầy cô. Đến khoảng đầu năm 2000, mới bắt lại được tin tức của Trần Tam tại Úc Đại Lợi (lúc ấy Tam còn đi dạy tại Đại học New South Wales) sau khi tìm tôi trên mạng về những sinh viên Việt Nam du học tại Úc qua chương trình học bổng Colombo. Sau đó Tam cho tôi tin tức về MVKL, Trần Đình Khoa, Phạm văn Tín (12B5), Trần Hữu Cường (7/7 – 4/7, 12B5), v.v.

Vào Hè 2005, Tam và MVKL cho tôi hay vừa gặp lại thầy Lưu trong một phiên họp của hội Ái Hữu Petrus Ký tại Úc Châu, nhưng không cho nhiều chi tiết. Tôi lại nghe phông phanh thầy thích đời ẩn dật nên không hỏi thêm tin về thầy. Và có thể lý do chính mà tôi không hỏi thêm bạn bè về thầy vì tôi không phải là một học trò mà thầy phải nhớ. Học trò ban B, môn Toán có hệ số cao nhất, đúng lý ra tôi phải chăm chú học ngày, học đêm nhưng tôi lại trốn lớp của thầy khá nhiều và vì thế đôi khi thầy kêu lên bảng giải Toán, tôi đứng đực mặt ra không có câu trả lời – quê lắm lận. Cũng may thầy Lưu thương tình không cho đi cấm túc và cũng như thầy Quảng, giáo sư Lý Hóa, chỉ khuyên – ráng học chứ không rớt Tú Tài, đi lính khổ lắm. Lúc ấy tôi ham chơi và lại lười, muốn theo cái thuyết Nhàn của cụ Nguyễn Công Trứ:

Tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?

Cụ Nguyễn công Trứ khi viết bài thơ này đã lớn tuổi, danh ông đã thành, công ông đã toại. Tôi thì chỉ lười. Khi nghe tôi nói đã bị các thầy la, Huỳnh Hữu Chí tâm sự:

– Ngày xưa, thầy Lưu giao nhiệm vụ cho Bá (trưởng lớp) quay ronéo bài học và bài tập cho bọn mình, không biết bạn còn nhớ? Những bài học in ra chỉ có lời giảng và có những chỗ chừa trống để bọn mình sau khi nghe thầy giảng bài sẽ tự vẽ hình lấy. Trong tập bài học toán của tôi, đa số những khoảng chừa trống ấy vẫn chỉ là giấy trắng thôi.

Tôi buồn cười với ý nghĩ riêng – Chắc lúc ấy Chí bị các cô Gia Long, Trưng Vương hớp hồn, thả hồn ra cửa sổ? Hoặc Chí an ủi tôi lúc ấy? Vì tôi biết Chí là một trong những anh em giỏi Toán của 12B6.

Bằng đi một thời gian, sau đó tôi có dịp liên lạc thầy Hiệu Trưởng Bùi Vĩnh Lập tại Sydney khi tôi giữ nhiệm vụ “thông tin giùm” cho hội Ái Hữu Petrus Ký Bắc California. Lúc ấy, thầy Lập là hội trưởng hội Ái Hữu Petrus Ký tại Úc. Tôi hỏi thăm thầy Lập về thầy Lưu và một số thầy cô đang định cư tại Úc và thầy Lập đã cho tôi số điện thoại tư gia thầy Lưu để liên lạc.

Tôi vẫn ngần ngừ khi thầy Lập cho số điện thoại của thầy Lưu nhưng rồi vài tuần sau, một ngày giữa tuần, tôi đã gọi thăm thầy vào lúc gần 10:30 tối tại California (khoảng 5:30 chiều tại Melbourne, nơi thầy cư ngụ) vì tôi muốn cảm ơn thầy. May mắn, thầy là người trả lời điện thoại hôm ấy. Thầy không nhớ tôi là ai, tôi phải giới thiệu với thầy một loạt các bạn bè cùng lớp 12B6 như MVKL, Trần Tam, Nguyễn văn Bá, v.v, để chứng thực tôi đã là học trò của thầy và sau đó, tôi hầu chuyện với thầy được chừng 15 – 20 phút thì tôi xin phép cắt dây. Lý do một phần là vì thầy đã cho tôi biết thầy vừa đi dạy về, nên tôi nghĩ thầy chưa có nghỉ ngơi, cơm nước. Lý do thứ nhì là vì cũng đã gần 11 giờ tối bên tôi và ngày mai tôi còn phải đi làm. Tuy nhiên trong những giây phút ngắn ngủi đó thầy Lưu cho tôi biết thầy đã qua định cư tại Melbourne vào năm 1978. Trước khi dứt chuyện, tôi đã xin E-mail của thầy để thông tin với bạn bè và hứa sẽ gởi một số tin Petrus Ký để thầy đọc cho vui cũng như sẽ gọi thăm thầy sau đó.

Vài hôm sau, tôi gởi điện tin (E-mail) thăm thầy và tuần sau đó, tôi nhận được điện tin của thầy trả lời. Thầy cho biết vừa trở về sau khi tham dự một cuộc họp về Toán học.

Qua các điện tin thăm hỏi sau đó, thầy Lưu cho tôi biết thầy sinh trưởng tại Sơn Tây, nhưng đã trưởng thành tại Hà Nội. Thầy là cựu học sinh Chu văn An tại Hà Nội, nhưng khi vừa xong lớp Đệ Ngũ thì đất nước bị chia đôi. Thầy theo gia đình di cư vào Sài Gòn. Trường Chu văn An với đa số ban Giáo sư, giám thị cũ của trường tại Hà Nội cũng di tản vào Sài Gòn và vẫn giữ tên cũ. Để không gián đoạn học trình của học sinh, ban Giám Hiệu của Chu văn An đã dùng tạm dãy lầu hai từng, vốn là ký túc xá cho học sinh nội trú của Petrus Ký, trong khi chờ đợi ngôi trường mới của Chu văn An, tọa lạc trên đường Hùng Vương, đối diện với nhà thờ ngã sáu Chợ Lớn, được xây cất (2).

[Hình chụp tại Trung Học Kiến Hòa vào năm 1964. Thầy Lưu (ngồi hàng đầu, thứ nhì từ bên phải) và anh Lâm Vĩnh Thế (ngồi hàng đầu, thứ ba từ bên trái) [Nguồn: http://www.bentrehome.net]]

Thầy Lưu tiếp tục học tại Chu văn An và tốt nghiệp Trung Học vào năm 1957 – 1958. Kế đó, thầy được tuyển chọn vào khóa đầu tiên (Khóa I) của Đại Học Sư Phạm và ra trường ban Toán vào năm 1961 -1962. Vừa tốt nghiệp xong, thầy được bổ về dạy tại trung học Kiến Hòa, Bến Tre. Những bạn đồng nghiệp của thầy Lưu tại trung học Kiến Hòa như anh Lâm Vĩnh Thế, cựu học sinh Petrus Ký lớp 1953 – 1960, và thầy Kiều Văn Chương, còn nhớ rõ về thầy (3).

Dạy tại Trung Học Kiến Hòa được ba năm, thầy Lưu được mời về dạy tại Petrus Ký. Thầy dạy liên tục tại trường từ năm 1965 cho đến 1978. Khi về đến Sài Gòn và trong lúc đi dạy tại Petrus Ký, thầy đã thành hôn với cô.

Tôi hỏi thầy đã có xuất bản sách khi còn đi dạy bên nhà, thầy mới cho biết vào các năm 1974 – 1975, thầy cùng với vài bạn học cũ tại Đại Học Sư Phạm như các thầy Ngô Tư Vọng, Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Bát Tuấn và Hà Xuân Châu, đã soạn một bộ sách Toán lớp 12 cho các bộ môn sau: . Đại Số – Điểm Động Học 12A, . Xác Suất – Thống Kê 12A, . Hình Học và Hình Học Giải Tích 12B, . Giải Tích – Điểm Động Học 12B, . Đại Số Học 12B, . Conic và Phép Biến Đổi Điểm 12B, . Toán 12C, . Trắc Nghiệm Toán 12A, . Trắc Nghiệm Toán 12B, Tập 1 và 2, . Đề Thi Mẫu Trắc Nghiệm 12B.

Bên trái, một trong những sách Toán thầy Lưu đã cùng đồng nghiệp xuất bản tại Việt Nam vào 1974 – 1975. Giữa, sách Toán do ban Giáo Sư Trường Thi xuất bản tại Việt Nam vào 1974 – 1975. Phải: Sách Toán của thầy Lưu ấn hành tại Úc Đại Lợi vào năm 1982 [Nguồn: thầy Vũ Đình Lưu]

Năm 1978, thầy đã cùng gia đình rời Việt Nam sang Úc Đại Lợi. Sau khi định cư, thầy Lưu được mời dạy Toán tại một trường trung học tại Melbourne. Nhận thấy nhiều học sinh, sinh viên Việt Nam vừa đến định cư tại Úc, rất giỏi về Toán, Khoa học nhưng còn yếu về sinh ngữ, thầy đã ấn hành cuốn Anh – Việt Toán Học Tự Điển để giúp họ dễ dàng hơn trong việc học. Hiện giờ, gần 70 tuổi, thầy chỉ còn dạy học bán thời gian (part time).

Khi tôi hỏi thầy về thú tiêu khiển hiện giờ của thầy, thầy cười cho biết:

  • Thầy cô có bốn đứa cháu ngoại ở cận kề. Thầy vui chơi trông lo các cháu, nhưng thầy chỉ lên được tới chức ông ngoại và không bao giờ được làm ông nội vì thầy cô chỉ có 4 cô con gái. Trưởng nữ của thầy ra trường ngành kỹ sư Hóa học, có chồng là bác sĩ. Cô con gái thứ nhì của thầy cô là bác sĩ, chồng của cô cũng là bác sĩ. Cô con gái thứ ba của thầy cô có bằng Economics (Kinh Tế) và hiện giờ làm quản lý (manager) một nhóm nhân viên của ngân hàng địa phương và cô, cũng bắt chước chị Hai, có chồng cùng nghề. Con gái Út của thầy cô làm physiotherapist và còn độc thân, vui tính.

Thầy Lưu ơi, ở hải ngoại này, thầy có bốn cô con gái là thầy may mắn lắm vì thầy cô đương nhiên có thêm bốn người con trai rồi. Và nếu cô út, Vũ Đình Bạch Phượng có làm dâu con Petrus Ký trong tương lai thì chắc thể nào em cũng được ly rượu mừng, có phải không thầy?

Từ trái sang phải: Các cô Vũ Đình Bội Quỳnh, Vũ Đình Thanh Thủy, thầy Lưu, cô “út” Vũ Đình Bạch Phượng (ngồi), cô Thịnh (vợ thầy Lưu), và cô ba Vũ Đình Thiên Hương nhân ngày ra trường của cô Bạch Phượng [Nguồn: thầy Lưu tặng]

Khi tôi nhắc về MVKL, về Nguyễn văn Bá (tôi có gởi tặng thầy tấm ảnh Bá dâng quà cho thầy vào dịp Tết Nhâm Tý ở trên), Trần Tam, và một số bạn khác trong lớp. Thầy nhớ rõ về MVKL và kể cho tôi nghe một câu chuyện thật thú vị:

– Tôi quên không nói với em về một chuyện liên hệ đến Mai Viết Kinh Luân. Trong thời gian 71 – 72, chúng tôi đã có hai cháu gái và nhà tôi đang có thai với những triệu chứng khác hẳn hai kỳ trước nên chúng tôi nghĩ rằng có thể Cô sẽ sinh bé trai. Chúng tôi bàn tính về tên của em bé. Trong thời gian này tôi đang dạy lớp 12B6 trong đó có Mai Viết Kinh Luân. Thấy Luân học giỏi nên tôi rất thương Luân nên tính lấy tên Luân đặt tên cho em bé: Vũ Đình Kinh Luân, nhưng rồi rút cục nhà tôi lại sinh một em bé gái nữa (và vợ chồng tôi đặt tên cho em là Vũ Đình Thiên Hương. Sau Thiên Hương, vợ chồng tôi có Vũ Đình Bạch Phượng, mà em viết còn độc thân, vui tính ở trên).

Khi tôi kể cho thầy nghe là Việt Thảo có qua Úc trình diễn, chuyến đi đó VT có gặp Trần Tam, Nguyễn Quốc Hào, thầy khen Việt Thảo rất hoạt bát:

– Thường tôi hay coi Paris by Night và Asia, ít khi coi các chương trình khác. Hôm vừa rồi tình cờ tôi được coi Vân Sơn 35, trong đó có MC tên là Việt Thảo, có phải đó là Việt Thảo mà em cho tôi biết trong E-mail trước không? Còn nữa, một MC khác tên là Vân Sơn, chắc đó là em phải không? Tôi đoán chắc là đúng.

Thầy Lưu đoán trúng phần đầu về MC Việt Thảo. Nhưng rất tiếc, tôi vô duyên, chưa mở miệng mà còn đã bị ăn cà chua thì làm sao mà thầy Lưu lại nhầm tôi với danh hề Vân Sơn, chả biết? Tôi tự nghĩ có thể thầy Lưu nhớ chuyện ngày xưa Việt Thảo và tôi phát thanh nhạc rock and roll trên hệ thống truyền thanh của trường giữa giờ học và lần ấy hai đứa bị phạt cấm túc. May nhờ hai chị Nhung và Huệ giúp cho thoát nạn. VT ơi, lần tới có đi làm văn nghệ tại Melbourne, nhớ ghé thăm thầy Lưu và tặng thầy bộ nhạc kịch Vân Sơn.

[Hình chụp khi Việt Thảo đi trình diễn tại Úc Châu. Từ trái sang phải: Trịnh Việt Thảo (12B6), ca sĩ Trường Vũ, danh hề Bảo Liêm, ca sĩ Chế Linh, Trần Tam (12B6), Nguyễn Quốc Hào (12B6) và danh hề Vân Sơn [Nguồn: Nguyễn Quốc Hào]]

Phụ chú:

1. Lê Tấn Tài lúc ấy điều khiển đoàn du ca Vượt Sống của nhóm Cánh Bèo. Tôi biết Tài hiện còn ở tại Việt Nam. Mỗi lần có bạn bè về thăm nhà, tôi lại nhắc việc đi tìm Tài nhưng đến nay vẫn chưa có tin.

2. Trong giai đoạn đầu tản cư từ Bắc vào Nam, các anh Chu văn An đã tạm trú tại các lớp học phía sau trường Petrus Ký. Cho đến bây giờ, các anh Chu văn An vẫn còn nhắc đến khu Chuồng Ngựa, là nơi mà họ đã tạm học tại Petrus Ký. Tương tự, các chị Trưng Vương đã tạm trú tại trường Gia Long. Học sinh hai trường dùng chung phòng học, nữ sinh Gia Long học buổi sáng và nữ sinh Trưng Vương học buổi chiều. Mãi cho đến năm 1957, trường Trưng Vương mới dời về số 3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguyên trước đó là bệnh viện của người Pháp.

3. Theo lời anh Lâm Vĩnh Thế khi thầy Lưu dạy học tại trung học Kiến Hòa (Bến Tre), thầy Lưu nổi tiếng là ông thầy đẹp trai, dạy giỏi, lại đàn hát hay nên mỗi khi trường tổ chức văn nghệ, thầy Lưu thường được mời lên sân khấu.

Sau khi tôi hỏi thầy về việc này nhiều lần, thầy Lưu mới thổ lộ:

– Tôi ưa âm nhạc từ hồi còn nhỏ. Ở Hà Nội, tôi đã học chơi đàn guitar khi học Đệ Lục hay Đệ Ngũ. Khi vào Sài Gòn, trong lúc đang học tại Chu văn An, tôi đã theo học lớp Ca Vũ Nhạc Phổ Thông Sài Gòn do nhạc sĩ Hùng Lân (Phêrô Hoàng Văn Hường) phụ trách và đã đậu thủ khoa của khóa học. Nhạc sĩ Hùng Lân là giáo sư Âm Nhạc của tôi tại Chu văn An. Ông cũng đã đảm trách chương trình Phát Thanh Học Đường ở đài phát thanh Sài Gòn ngày xưa.

[Hình ảnh: Thầy Vũ Đình Lưu và lớp Đệ Nhất B2/1964 [Nguồn: http://www.bentrehome.net]]

Nhạc sĩ Hùng Lân đã sáng tác nhiều bản nhạc sống mãi trong lòng người Việt. Một bài hát của nhạc sĩ Hùng Lân được rất nhiều người biết đến là bài Khỏe Vì Nước:

Khoẻ vì nước kiến thiết quốc gia
Đoàn thanh niên ta cố tài ba
Tạo nguồn dân sinh mới
Hùng mạnh trong năm giới
Hợp lực xây hưng thịnh chung nước Nam.

Cố Nhạc Sĩ Hùng Lân

Chắc thầy Lưu không biết lúc còn bé, chúng tôi đã sửa lời bài hát trên thành:

“Khoẻ vì nước bánh ướt tôm khô,
Chè đậu đen, năm cắc mười tô.”

Một trong những nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Hùng Lân là bản nhạc “Hè Về”, được nhiều cô cậu học sinh yêu thích:

JPG

Trời hồng hồng, sáng trong trong, ngàn phượng rung nắng ngoài song

JPG

Cành mềm mềm gió ru êm, lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên

JPG

Đàn nhịp nhàng, hát vang vang, nhạc hòa thơ đón Hè sang

JPG

Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ

JPG

Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ

JPG

Hè về gieo ánh tơ..

JPG

Nhạc sĩ đa năng Hùng Lân cũng thích viết nhạc nhi đồng. Một trong những bài hát nhi đồng nổi tiếng của ông là bài “Em Yêu Ai” mà tôi còn nhớ:

JPG+ 1

Nếu hỏi rằng; Em yêu ai ?

JPG

Thì em rằng em yêu Ba (nè).

JPG

Thì em rằng em yêu Má (nè).

JPG

Yêu Chị, yêu Anh. Yêu hết cả nhà

JPG

(nhưng) Nhất là yêu Má cơ…

JPG

Nếu hỏi rằng; Em yêu ai ?

JPG

Thì em rằng em yêu Ông (nè).

JPG

Thì em rằng em yêu Bà (nè).

JPG

Bác, Dì, Cậu, Cô. Yêu hết họ hàng

JPG

(nhưng) Nhất là yêu Bà cơ…

JPG

Nếu hỏi rằng; Em yêu ai ?

JPG

Thì em rằng yêu Quê hương (nè).

JPG

Thì em rằng yếu mái trường (nè).

JPG

Yêu Thầy, yêu Cô. Yêu hết cả trường

JPG

(nhưng) Nhất là Cô giáo cơ…

JPG

Thầy Lưu tiếp:

JPG

  • Năm 1956, trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn ra đời do nhạc trưởng Michel Nguyễn Phụng làm Giám Đốc. Khi đó, lớp học còn “tạm cư” ở đầu đường Phạm Đăng Hưng, phía gần đài Phát thanh Sài Gòn. Tôi đã ghi tên học lớp hòa âm với nhạc trưởng Michel Nguyễn Phụng, cha Ngô Duy Linh và nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. JPG+ 2

Cố Nhạc Sư Giuse Ngô Duy Linh

JPG

  • Trong lớp tôi học có nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu và nhạc sĩ Cao Sơn, người viết hòa âm cho các ban nhạc của đài phát thanh Sài Gòn. Anh Cầu là tác giả của bài hát Mùa Thu Không Trở Lại và Trường Làng Tôi. Rất tiếc, anh Cầu đã mất ngày 26.5.1998 tại Sài Gòn. JPG+ 2

Sau đó vì bận học ở trường Đại học Khoa Học nên tôi đã ngưng học thêm âm nhạc.

JPG

186

JPG

Thầy Vũ Đình Lưu cùng một số học sinh lớp 12B5, nk 1973-1974