Thầy tôi

Lê Thị Hàn

Khu vườn Áo Tím
(Nguồn: Nội san Thu Đông 2006 (số 49, trang 20&21), Hội AH Petrus TVK tại Pháp)

Tôi nay đã là Nội, Ngoại, Cố – không biết bao nhiêu lần xưng danh – vậy mà tôi vẫn nhớ rất rõ, từ tướng đi lời nói đến cách dạy của các vị Thầy tôi được thọ giáo, từ Nữ học Đường, Petrus Ký, Centre de Jeunesse Féminine đến Sư Phạm.

Đặc biệt hôm nay, nhân đọc bài “Bố Nho” của anh Nguyễn Quốc Hưng (số 47 Nội San Xuân 2006) tôi lại nhớ đến Thầy, năm 1938, lúc Thầy qua dạy lớp 4e Année P. Supérieur thế “Cô Năm” nằm bệnh viện, và lúc tôi học 3 năm liền (1938-39…1940-41) tại Petrus Ký. Nhắc đến Thầy, làm sao không khỏi cười vui, cười như còn thuở ngồi ghế nhà trường… Cái cười đây là cái cười bùi ngùi thương tiếc, đồng thời cũng là cái cười đùa cợt, có phá đôi chút nhưng hồn nhiên của thứ học trò, “nhứt quỷ nhì ma” đó mà!

Tôi thật phục anh Quốc Hưng! Anh tả “Bố” anh, trung thực làm sao ấy ! tưởng chừng như thấy Thầy trước mắt nguyên hình, mặc dù đã xa cách 65 năm rồi!: “…mái tóc hoa râm dọn sóng, dài khuất vành tai, đi đứng khoan thai dịu dàng, tay trải đánh đồng xa, túng túng trong bộ veste tussor, quần bà ba lòi ra, ngoài ống quần Tây, phía trên đôi giày bố, bạc màu…” Thấy rõ Thầy như thế ấy nên càng nhớ nhiều và xin thêm vài chi tiết khác cho đầy đủ và vui thêm đôi chút. Tuy là nữ nhưng cũng “garçon manqué” đâu kém phần chế diễu bất cứ nam sinh nào !

Năm 1938, Cô Năm vừa đi Bệnh viện là Bộ Giáo dục cử Thầy qua dạy chúng tôi. Chao ơi ! Phút đầu nhìn Thầy, tôi có cảm giác là lạ, vừa sợ sợ, vừa ngạc nhiên vì thấy Thầy chẳng giống ai trong hàng ngũ các “Bà Đầm” của chúng tôi. Mỗi lần nghe Thầy dùng đến các chữ phía sau có “in” như matin, intestin, Pékin thì Thầy nói “matanh”, “anhtettanh”, “Pécanh” là tôi cười, cười thôi là cười, đã vậy còn làm bộ “ho” làm như hiền lành lắm. Còn Th. Bạn tôi ngồi bên cạnh khèo tôi nói : “đau bụng muốn chết mầy ơi!”. Có lần trống đánh ra về, Thầy lật đật bước ra lớp, quên chiếc nón – cái nón chỉ Thầy cầm chưa bao giờ đội – tôi chạy theo : “Thầy ! Thầy…” muốn hụt hơi Thầy mới ngoảnh mặt lại. Chiều khác, tan buổi học, tôi đi bộ về nhà ở đường Lareynietre (sau là Đoàn thị Điểm) bỗng nhiên ai gọi “Mamzell, Mamzell” thì ra là Thầy ! Thầy trò nói chuyện hỏi han đủ thứ mới biết là Thầy nhà ở gần Cầu ông Lảnh. Lúc học ở Petrus-Ký, Thầy gọi tôi lên trả bài. Vừa mới cất tiếng lên : Sương rơi !

Sương rơi ! (chưa tiếp : nặng trĩu trên nhành dương liễu…)

Thì dưới lớp S…. bạn tôi nó “ơi!” thật lớn, các anh cười ầm lên, tôi “hoảng địa” lúng túng không dám cười theo. May quá, thật hú hồn! Thầy làm lơ không nói chi cả, cũng chẳng rầy la ai. Còn nữa, 2 bạn khác V.. và S…. ngồi bàn giữa, nhìn lên estrade thấy chiếc quần lãnh đen của Thầy thòng ra ngoài quần Tây, 2 đứa bụm miệng cười to, Thầy đập bàn quát lớn : “Dehors”! Hai bạn chạy ra, mắc cỡ biết bao, vậy mà cúi đầu cười mãi không dứt, thứ cười fou rire đó mà.

x
x x

Thời gian qua thật nhanh, mấy năm sau, hai chúng tôi (cùng là học sinh của Thầy) đi chợ Sài Gòn thình lình gặp Thầy ở góc Sabourain (đường Tạ Thu Thâu về sau).

Trông Thầy tiều tụy, mũi, tai thâm đen, thương Thầy quá. Thầy trò gặp nhau mừng rỡ. Thầy bắt tay hai chúng tôi và nói : “Trong lúc thiên hạ di cư, tôi hồi cư, anh chị ở lại bình yên…” Năm 1998, tôi qua Cali, gặp Nhiêm (em thầy Phạm Thiều) tôi mới biết cả hai Thầy, mỗi người một cách, người tự ải, người tự trầm. Thật quá thê thảm, thương tiếc vô cùng !

x
x x

Thưa Thầy, dưới suối vàng Thầy có nhớ đến học sinh của Thầy, xin thầy thương cảm, bỏ tất cả lỗi lầm của chúng, nhé Thầy !

Chút hương lòng kính dâng lên Thầy và chúc Thầy ngàn thu an giấc.

LÊ THỊ HÀN Septembre 2006