Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm

Vưu Văn Tâm

Co vat truong xua 01Tôi đã biết thầy từ những ngày đầu đi học ở trường Petrus Ký, vì trên đường về nhà hai thầy trò thường đi chung một đoạn Nguyễn Thiện Thuật rồi đến góc rẻ Phan Đình Phùng. Mãi đến năm lớp 8 tôi mới được học với thầy bộ môn Pháp văn.

Thầy Khiêm gầy, cao ráo, vầng trán rộng, nước da sạm nắng. Cái tên Khiêm thật đẹp và thông minh như gương mặt của thầy. Giọng nói thầy nhẹ nhàng, ấm áp và tánh tình vô cùng hiền lành. Trong giờ học thầy giảng bài chậm rải, dễ hiểu. Thầy cũng hết lòng nâng đỡ những bạn còn kém khuyết.

Đó là năm học thứ nhì sau ngày mất nước. Gia đình một số bạn trong lớp gặp nhiều hoàn cảnh éo le giữa đời thường và các bạn mang luôn vào lớp học những tâm trạng chán nản, bất cần đời. Thầy buồn bã và nói :
– Thầy hiểu và thông cảm hoàn cảnh của các em, nhưng khi đã vào lớp, các em cũng phải ráng giữ gìn trật tự để cho các bạn khác học.

Ngoài giờ học, thầy trò tôi thường gặp nhau ở cửa hàng bán gạo, bán xăng dầu hay hợp tác xã mua bán thực phẩm. Giữa trưa nắng đổ chang chang, thầy đứng sắp hàng mua dầu hỏa. Thấy tôi đến sau, thầy kêu lại, và nói :
– Con đứng đây với thầy nè !
Và một lần khác, tại một cửa hàng gạo, thiên hạ sắp hàng như “rồng rắn lên mây”. Từ xa, tôi đã thấy bóng thầy. Tôi cất tiếng gọi :
– Thầy ơi, con đứng ở đây nè !
Tôi nhích xuống một bước để nhường cho thầy một chỗ đứng khiêm tốn. Mọi người chung quanh nghe thầy trò tôi gọi nhau như vậy, cũng không một ai cất tiếng phàn nàn. Có lẽ cái chữ “thầy” cũng còn ít nhiều được kính trọng trong xã hội nên ai nấy cũng làm thinh (?)
Và cứ nhiều lần như vậy, tôi gặp thầy ngoài giờ học còn nhiều hơn trong lớp. Lần nào hai thầy trò cũng chia nhau .. chỗ đứng. Tận dùng thời gian, tôi hay hỏi thầy cách chia động từ bất quy tắc. Thầy dạy thêm cho tôi một ít văn phạm giữa cái không khí oi ả, ngộp người.
Ngoài chuyện giảng bài “giữa đàng”, thầy hay khuyên bảo tôi :
– Dù hoàn cảnh nào con cũng phải ráng học, vì chỉ có chữ nghĩa mới giúp mình lập thân !

Mấy mươi năm xa nhà, cuộc sống tôi nơi xứ lạ với bộn bề lo toan. Trường lớp, thầy cô, bè bạn .. những tưởng đã đi vào quên lãng. Tôi liên lạc được với cô Loan dạy Pháp văn ngày trước. Cô Loan có rất nhiều ân tình với lớp cũ, trò xưa. Cô vui mừng xiết bao khi biết học trò của cô đã thành đạt rất nhiều, hay ít ra cũng là những người tử tế trong xã hội. Cô hỏi thăm tin tức đồng nghiệp với những ân cần, trìu mến :
– Anh Ái đã qua được bên này, coi như yên thân. Còn anh Khiêm, hỏng biết ảnh ra sao ? Ảnh có ra ngoài được không ? Ảnh đông con lắm, ở bển thì lấy gì mà ăn !
Rồi cô rưng rưng kể lại những kỷ niệm với đồng nghiệp ngày xưa cũng như những ngày tháng đói cơm, thiếu áo và mất tự do bên nhà.

Tôn Sư Trọng ĐạoHỏi thăm bè bạn cũ, tôi mới biết được thầy tôi đã qua đời. Con cái của thầy cũng không còn sống trong nước nữa. Một trang đời đã khép lại. Bước chân tôi như vẫn ngập ngừng trên lối cũ. Trường xưa vẫn sừng sững đó, thầy cô và bạn bè tôi xuôi ngược bốn phương trời. Người mất kẻ còn vẫn là định luật muôn đời trong cuộc sống. Tôi vẫn nhớ đến người thầy khả kính năm xưa. Thầy là người đưa đò cần mẫn. Thầy ơi, bến ngày xưa giờ vắng lạnh, và khách sang sông đã đi biệt từ dạo ấy.

Từ nơi phương trời xa, tôi viết lại những tâm tình cũ, kính dâng lên thầy một nén hương lòng. Dẫu có đi đến “cùng trời cuối đất”, tôi vẫn nhớ hoài cái vóc dáng gầy gò, một giọng nói ân cần .. Dù những “giờ học” năm xưa không phấn trắng bảng đen, nhưng thầy đã dạy cho tôi những kiến thức trong trường lớp và cả nhân cách quý báu ngoài xã hội.

13.01.2018