THẦY CÔ

(Trích HỒI ỨC VỀ TRƯỜNG XƯA – Trần Hữu Hiệp 6/1-9/1- C2 khóa 1974-1981)

loi-thay-day-1

Thầy tôi

Thầy tôi nho nhã dáng thanh thanh 
Giản dị nghiêm trang, rất đỗi lành 
Chẳng thiết ganh đua cùng thế sự 
Sớm chiều khuây khoả lũ đầu xanh. 

Ngọt ngào như một khúc ca dao 
Man mác tình thơ, ngọn sóng trào 
Thầy thổi hồn quê vào trang sách 
Mong giờ thầy giảng chớ qua mau 

Một ngày tháng năm không tiễn đưa 
Âm thầm từ giã mái trường xưa 
Thầy đi, đi mãi không về nữa 
Đau lòng, trời cũng nhỏ cơn mưa 

Rồi một chiều xuân bỗng gặp nhau 
Tay ấm trong tay luống nghẹn ngào 
Thầy tôi giờ đã già yếu lắm 
Thời gian gội tóc trắng phau phau 

Thầy kể tôi nghe chuyện đời mình 
Ba chìm, bảy nổi, chín linh đinh 
Mấy năm cần khổ miền sơn cước 
Trở về vất vả cuộc mưu sinh 

Rồi biết bao nhiêu cuộc bể dâu 
Con người phờ phỉnh dốí lừa nhau 
Chỉ cười, thầy chẳng hề oán trách 
Chẳng qua con tạo khéo cơ cầu 

Tôi kể thầy nghe chuyện đời tôi 
Trãi thân lưu lạc bốn phương trời 
Công vẫn chưa thành, danh chưa toại 
Bên ngoài chầm chậm bóng chiều trôi 

Thời gian còn có đợi ta không 
Tóc thầy giờ đã trắng như bông 
Tóc tôi giờ cũng pha sương tuyết 
Còn kịp trao nhau một chút lòng 

Sài Gòn ngày 28/1/2006 

Nhất tướng công thành vạn cốt khô. Phía sau sự thành đạt của một người luôn có sự đóng góp thầm lặng của rất nhiều người. Dù không được xướng danh, những người thầm lặng ấy xứng đáng được nhớ tới với lòng biết ơn sâu sắc.

Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.
Câu này làm tôi nghĩ đến câu chuyện Christophe Colombo và quả trứng.
Sau khi phát hiện ra Châu Mỹ, Cocombo được chào đón như một người hùng. Yến tiệc mở ra, chiêu đãi, chúc mừng. Trong tiệc, có một anh chàng tỏ vẻ không phục. Anh ta nói việc tìm ra Châu Mỹ không có gì là khó. Cứ dong thuyền từ Tây Ban Nha đi về hướng Tây. Cứ thế sẽ tìm được. Không có Colombo thì cũng có ai đó sẽ tìm được.
Colombo đưa cho anh ta quả trứng bảo anh ta dựng quả trứng cho nó ở tư thế đứng.
Anh ta loay hoay mãi không làm được. Cuối cùng, anh ta chịu thua.

Đến lượt Colombo. Ông dằn quả trứng xuống bàn. Vỏ quả trứng bị bể nên đứng được. Anh ta lại càm ràm:
Tưởng gì chứ để quả trứng đứng theo kiểu đó thì ai mà chẳng làm được.
Colombo mỉm cười:
Đúng rồi, việc gì cũng sẽ dễ dàng nếu được người khác dạy cho ít nhất một lần.

Học trò ra trường thường bị dòng đời lôi cuốn, ít có thời gian thăm viếng, hỏi han thầy cô cũ. Tuy nhiên chúng tôi vẫn nhớ, vẫn tìm. Sau mấy chục năm thất lạc, thầy trò lại gặp nhau. Nhìn thầy tóc trắng như bông vẫn lo lắng việc đời, trò xúc động đến rơi nước mắt. Thầy không thốt nên lời vì cảm kích mấy học trò nhỏ khi xưa,nay tóc cũng đã hoa râm.

Tình cảm thiêng liêng ấy đâu phải tự nhiên mà có. Dù có phiêu bạt tận phương trời nào, dù có “Tây Âu khoa học yếu minh tâm”, lũ học trò vẫn nhớ về “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt”.

Thầy cô luôn thắp lên trong lòng học sinh ngọn lửa đam mê kiến thức. Đôi khi thầy trò tranh luận với nhau tóe lửa. Ngoài bài giảng, thầy cô cô còn chia sẻ những kinh nghiệm cuộc sống. Thầy cô nhất là thầy cô chủ nhiệm lúc nào cũng quan tâm giúp đỡ cho những đứa có gia cảnh đặc biệt, ảnh hưởng đến việc học. Mấy đứa ngỗ nghịch thì bị chiếu tướng thường xuyên. Không ít mâu thuẩn, không ít chuyện buồn đã xảy ra. Mọi việc đã qua rất lâu. Giờ nghĩ lại, tôi không hề oán trách mà ngược lại còn cảm ơn.

Không có những bài học ngày xưa đó, có lẽ giờ đây, chúng tôi vẫn chưa thành người. Thời cuộc đẩy đưa, thầy cô xưa giờ mỗi người một ngã. Chắc là tôi không còn dịp gặp lại đầy đủ các thầy cô của mình. Tôi cầu mong thầy cô luôn gặp nhiều may mắn, hạnh phúc trong tuổi chiều bóng xế.

1/ THẦY NGUYỄN ĐỨC KHANH
Thầy Nguyễn Đức Khanh sinh năm 1936. Thầy khởi nghiệp sư phạm ở Vĩnh Long rồi bị tổng động viên do tình hình chiến sự căng thẳng. Năm 1968, thầy về trường Petrus Ký dạy từ năm 1968 đến năm 1975. Niên khoá 1974/1975, thầy phụ trách Việt Văn lớp 6/1 của chúng tôi.

Đầu năm, thầy giới thiệu cho chúng tôi cuốn sách Việt Văn do thầy Nguyễn Tăng Chương biên soạn. Trong sách ấy có giới thiệu một số nhà văn cùng với hình ảnh. Và bất ngờ, thầy dạy công dân giáo dục năm 6/1 là thầy Nguyễn Xuân Hoàng cũng có tên trong đó.

Đầu tiên, chúng tôi học bài mỹ từ pháp, sau này gọi là biện pháp tu từ. nào là so sánh, ẩn dụ, ngoa ngữ, thậm cưng, tượng hình, tượng thanh, so sánh, nhân cách hoá, tượng thanh, tượng hình…Từng phương pháp được thầy chỉ bảo cặn kẽ, có minh hoạ bằng những đoạn văn thơ, ca dao tục ngữ.

Có lẽ thầy rất nhớ quê hương miền Bắc của mình. Thầy hay kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện làng quê. Có người nói nghe nhạc Phạm Duy thì đứng giữa miền Nam mà nhớ quê hương miền Bắc. Điều đó cũng đúng với giờ Việt Văn của thầy Nguyễn Đức Khanh. Nhờ vậy mà thầy giảng về những nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn đặc biệt cuốn hút. Đến giờ tôi vẫn còn rất hâm mộ mấy ông Thạch Lam, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo…và giữ mấy tác phẩm của mấy ổng cho con tôi tham khảo. Nào là Anh Phải Sống, Hồn Bướm Mơ Tiên, Gánh Hàng Hoa, Hà Nội Băm Sáu Phố Phường…Cuộc đời, sự nghiệp, những số phận bí ẩn của mấy nhà văn trên đã đánh trong đầu tôi một dấu hỏi lớn về tình hình bí ẩn rối ren thời 1930 đến 1954. Ngoài ra, những nhà văn khác ở thời đó như Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Linh Bảo…cũng đã in dấu ấn sâu đậm trong tôi qua những tác phẩm Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Tấm Lòng Vàng, Những Cánh Diều…

Thầy có giọng Bắc chuẩn nên tôi thiệt là khoẻ trong giờ chính tả. Hồi xưa tôi hay bị mắc lỗi dấu hỏi dấu ngã. Không hề gì, cứ nghe kỹ giọng đọc của thầy là mọi chuyện sẽ được giải quyết. Nhưng ấn tượng nhất khi nghĩ về thầy là những giờ trần thuyết. Nhờ những giờ trần thuyết của thầy Khanh mà sau này tôi có thể quác mắt coi khinh nghìn lực sĩ thao thao bất tuyệt, coi thế giới này như hạt bụi còn mình là…con vi khuẩn. Lúc ấy lớp chia làm ba tổ. Mỗi tổ nhận một đề tài. Từ xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, tiểu sử tác giả ghi trong sách không đủ để trả lời mấy câu cật vấn của mấy tổ khác, chúng tôi phải lặn lội ra nhà sách Khai Trí để đọc ké, ghi lại thông tin bổ sung. Lúc ấy tôi chung tổ với mấy bạn quận 3 như Đặng Thoại Thành, Trần Tuấn Thông, Lê Hoàng Minh, Nguyễn Tấn Nghĩa…Khi thì họp ở nhà Thành, khi thì ở nhà Thông…Trên đường đi, lá bàng và hoa dầu rơi rơi tuyệt đẹp. Đường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ lúc ấy mang tên Hồng Thập Tự. Đường CMT8 bây giờ lúc ấy mang tên Lê Văn Duyệt… Đến giờ mỗi khi có dịp đi lại con đường cũ, kỷ niệm xưa lại về trong tôi rõ ràng mồn một.

Cuối cùng thì ngày trọng đại đã đến. Chúng tôi kê một cái bàn ngay chính giữa lớp, đối diện với thính giả. Sau khi trình bày xong, các thính giả giơ tay để ra câu hỏi. Mẹ kiếp mấy ông thính giả khả kính. Mấy ổng hỏi toàn mấy câu gì đâu không mà mình phải trả lời muốn trẹo bản họng. Nào là cha tác giả tên gì, mẹ tên gì, nào là đoạn trích nằm ở trang mấy dòng mấy tới trang mấy dòng mấy…tất cả là để bắt chẹt diễn giả. Một lúc sau, diễn giả và thính giả cãi nhau u sùm, lớp sôi nổi hẳn vì được làm ồn hợp pháp. Có khi mấy thầy giám thị phải chạy xuống coi chuyện gì đang xảy ra.

Thầy là ban giám khảo giải quyết khiếu nại, thắc mắc và cho điểm. Ai không hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn giả thì bị trừ, ai làm thính giả tốt hỏi hay thì được cộng. Mấy thằng tổ khác nó chơi mình kỳ này. Được rồi! Tụi bây nhớ nghe. Mai mốt tụi tao chơi lại hỏi mấy câu hóc búa để tụi bây ngọng nghịu mắc xương cho bỏ ghét.

Nguyên là dân biệt phái nên sau 1975, thầy phải đi học tập cải tạo 3 năm ở Bình Phước. Khi trở về từ trại cải tạo, thầy được nhà nước khuyến khích hồi hương. Thầy đã dọn về huyện Long Thành, thuộc tỉnh Đồng Nai. Nơi này thầy phải ra sức khai khẩn một mẫu rừng với sức lực của một thư sinh ốm yếu . May mắn thay, cũng tại nơi này thầy gặp lại hai cựu học sinh Petrus Ký phụ trách lái xe ủi đất . Hai người học trò này đã giúp người thầy cũ ban đất mà không đòi hỏi thù lao, chỉ nhận một nãi chuối lót bụng mà thôi. Đến giờ, thầy vẫn mong gặp lại hai anh ấy. Thời gian sau đó, thầy được mời về học lại sư phạm và chính trị để dạy học tiếp tại một trường tại Bình Thạnh. Thầy bỏ hết đất đai để trở lại nghiệp cũ, nhưng không được giảng dạy môn Việt Văn. Nhân lúc thiếu giáo viên, đồng thời có người bảo lãnh, thầy mới được phép trở lại giảng dạy môn sở trường của mình .

Một chiều xuân theo chân chương trình Tri Ân Thầy Cô, rôi đã gặp lại thầy. Tôi đã rơi nước mắt vì bao lâu nay cứ ngỡ thầy đã đi rồi. Hai thầy trò ngồi ôn lại chuyện cũ. Thầy khá kinh ngạc trước trí nhớ của tôi. Và thầy cũng đã rất cảm động vì không ngờ có một cậu học trò 25 năm trước vẫn nhớ về mình. Và cứ thế mỗi lần tôi đến, thầy như quân hết nỗi mệt nhọc tuổi già. Hai thầy trò thao thao bất tuyệt đến khi thời gian không thể kéo dài thêm được nữa mới chịu chia tay.

2/ CÔ TRẦN THỊ HUYÊN

Trong những năm tháng gần đây, nỗi nhớ trường xưa, thầy cũ, bạn bè cứ vương vấn trong lòng tôi. Thật là thiếu sót nếu không dành cho cô Trần Thị Huyên một bài viết. Cô là giáo viên chủ nhiệm lớp 8/1 và 9/1, thần tượng của tôi hồi đó.

Học kỳ một năm lớp bảy, cô Nguyễn Thị Sâm phụ trách môn sinh vật. Không biết vì lý do gì, cô không tiếp tục dạy ở học kỳ 2. Cô Trần Thị Huyên dạy thay cô Sâm. Cô bước vào lớp, phong thái đĩnh đạc, ung dung. Tóc cô để dài, thắt bím. Cái bím tóc rất đẹp, rất khéo thả xuống lưng áo dài tím. Không biết bao lần tôi đã tự hỏi cái bím ấy cô tự thắt hay có ai đó thắt cho cô. Cô thường đi từ nhà đến trường trên chiếc xe đạp motobecane 550 màu xanh đậm. Lúc đầu, ai cũng nghĩ cô là giáo viên ngoài bắc mới vào, nhiều bạn nhìn cô không mấy thiện cảm.

Học kỳ hai năm lớp bảy trôi qua nhanh. Lớp bảy một không ngờ có một cơ duyên kỳ lạ với cô. Cô tiếp tục dạy sinh vật và là chủ nhiệm hai năm liên tiếp của lớp tám một và chín một. Năm ấy, ba cô mất. Trên chiếc áo dài tím của cô có đính thêm một miếng vải đen. Lúc ấy bọn tôi quá nhỏ để nói với cô một lời chia buồn.

Trong mắt nhìn của cô, chúng tôi là những báu vật cần được chăm chút, trau dồi. Vì là lớp phó học tập, tôi thường gặp cô nhiều hơn các bạn khác. Và tôi cũng bị mang tiếng oan là gia nô, là chỉ điểm dù suốt cuộc thời gian trung học, tôi chưa từng đeo chiếc khăn quàng đỏ lên cổ. Thôi thì việc gì đáng làm thì cứ làm, anh em không hiểu thì sẽ từ từ hiểu. Có lẽ thông cảm với tôi nên cô Huyên dành cho tôi một tình cảm khá đặc biệt. Ngô Bá Định thường nghĩ chắc là do tôi họ Trần, cô cũng họ Trần nên cô thương tôi. Nếu vì vậy thì còn hơn một chút nữa, mẹ tôi họ Tạ, mẹ cô cũng họ Tạ.

Gia đình tôi đông anh em nên khá ồn. Có một góc học tập nho nhỏ, một khoảng không gian riêng là ước mơ cả đời của tôi. Tôi giải quyết việc này bằng cách đi học sớm. Tôi đến trường lúc các anh chị học buổi sáng ra về, lẻn vào trường vô phòng để học bài. Cô Ngân phụ trách hành chính của trường lúc ấy bắt gặp tôi tha thẩn trước trường, hồn mơ mộng theo bước chân ngày xưa Hoàng Thị…của các anh chị, sợ tôi tương tư chị nào ở lớp trên. Cô Ngân nói chuyện với cô Huyên. Cô Huyên bảo tôi có đến sớm thì đừng vô trường, tạt qua nhà cô số 595/13 đường Nguyễn Đình Chiểu ngồi học bài. Đến giờ, cô và tôi sẽ cùng đến trường. Tôi không bao giờ quên những buổi cơm trưa cô nấu cho tôi ăn. Dù không thành công như Hàn Tín, tôi vẫn suốt đời nhớ ơn bát cơm Xíu mẫu ngày ấy.

Ngoài kiến thức môn học, cô thường nói chuyện với lớp về quan niệm và kinh nghiệm sống. Lúc ấy chúng tôi chỉ ghi nhận chứ chưa hiểu nhiều. Giờ sinh hoạt chủ nhiệm có nhiều kỷ niệm rất vui. Anh em có lẽ bị ảnh hưởng của khoai lang khoai mì hợp tác xã nên vô lớp xì hơi độc. Tôi ngồi cạnh Nguyện Vũ Tuệ, biệt hiệu Thỏ Tuệ. Thỏ Tuệ la lên:
– Hê Hiệp, mày phải hôn? Tao mới vừa thấy mày nhấc cái đít lên rất thô bỉ, ngay lập tức có mùi liền!
– Mày kỳ quá, ngồi lâu mỏi đít nhấc lên chứ có gì mà nghi ngờ. Chắc thằng Định chứ ai vô đây.
Cái lớp học cứ thỉnh thoảng lại xôn xao đổ thừa qua lại xung quanh cái vụ xì hơi độc.
Thầy Đòan Đình Bách dạy pháp văn năm lớp tám đang hào hứng giảng bài cũng phải dừng lại hỏi:
– Anh nào đánh rắm thối quá nhỉ

Lúc ấy Lê Đức Thông là lớp phó kỷ luật. Lê Đức Thông trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm, mặt đỏ bừng, ấp úng:
– Tui không muốn nói chuyện này, kỳ quá mà không nói không được. Lớp mình lúc này có cái vụ …làm ảnh hưởng, lớp rất ồn ào.
Cả lớp cười rũ tượi một phần vì câu nói, một phần vì cái ấp úng tôi nghiệp của Thông.
Cô giải thích cho đám học trò bản chất của hiện tượng, chỉ cách làm thế nào để nín nhịn…Cô còn dạy lớp cách cải thiện bữa ăn cho có đủ dưỡng chất trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn…

Hồi cô còn ở Việt Nam, mùng hai tết năm nào tôi cũng đến thăm cô. Một đôi lần tôi gặp mấy chị học trò lớn hơn, chơi với cô rất thân. Cô bảo nếu tôi là nữ, cô sẽ nhận tôi làm đệ tử ruột. Cô có cái phong cách rất thần bí. Hình như cô biết rất nhiều lĩnh vực, rất nhiều hơn những gì cô nói ra. Lâu lâu cô hay nhịn ăn hoặc tịnh khẩu. Hình như cô có đời sống tâm linh không giống người bình thường. Sau khi hết phổ thông, tôi vẫn giữ lệ thăm cô ngày tết cho đến khi cô đi nước ngoài.

Một hôm đi chơi với một nhóm bạn. Tôi chở cô bạn gái về nhà. Cô ấy mời tôi ăn cơm. Từ chối thì sợ người ta cho là mình không thật tình. Ăn thì không biết người ta có nấu sẵn dư cơm không. Cuối cùng tôi ăn một chén cho vui. Tôi kể cho cô nghe. Cô bảo không nên ăn như vậy. Người ta mời mình ăn là có thể người ta có cảm tình với mình. Mình ăn là coi như mình xác định có cảm tình với người ta, có thể vô tình làm người ta hy vọng. Nếu mình thực sự không có cảm tình thì tội nghiệp người ta lắm. Cô là vậy, gia giáo, chừng mực, khuôn phép trong ứng xử. Bên trong cái chừng mực khuôn phép ấy lại là một tấm lòng luôn lo lắng cho người khác. Cô đâu có biết lúc ấy tôi đã bắt đầu có cái cảm giác thèm cơm nhà người ấy rồi.

Trước khi đi, cô có vài lời dặn dò tôi. Cô bảo con người tôi dục tính mạnh, phải chịu khó tu dưỡng tâm tính để không sa đà hư hỏng. Cô dạy tôi vài phương pháp để làm cho lửa dục dịu lại, trấn tỉnh tinh thần. Bây giờ tôi đã đủ chín để không dùng tới mấy phương pháp đó nhưng tôi vẫn nhớ và rất cảm ơn về những chỉ bảo của cô. Biết tôi thích đọc sách, cô bảo tôi vô tủ lựa, thích cuốn nào cô cho cuốn ấy. Tôi lựa được mấy cuốn Đông Châu Liệt Quốc, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Đông Kinh Nghĩa Thục, Việt Nam Sử Lược…đem về gối đầu giường cho đã ghiền.

Dù cho bây giờ cô ở đâu, làm nghề gì, tôi luôn thương nhớ và kính trọng cô y như ngày nào. Thỉnh thoảng, tôi vẫn đi ngang qua ngôi nhà mang số 595/13 đường Nguyễn Đình Chiểu. Nhìn ngôi nhà mới, trong mắt tôi vẫn thấy ngôi nhà xưa với cái nền rất thấp, lát gạch đỏ trắng, gác suốt. Trong ấy có một cậu học trò đang học bài và một cô giáo đang lui hui nấu cơm. Con hẽm xưa như vẫn còn phảng phất bóng dáng hai cô trò cách đây gần ba mươi năm.

3/ THẦY BÙI PHONG QUANG

Thầy Bùi Phong Quang dạy vật lý năm chúng tôi học lớp 8/1. Lần đầu tiên vào lớp, thầy nói:

Tôi sẽ giảng bài, các em nhớ ghi chú và về nhà tự soạn bài lấy. Nếu có gì thắc mắc, các em cứ hỏi. Tôi không phải là Isac Newton hay Albbert Einstein để có thể trả lời hết mọi sự việc. câu nào khó quá tôi sẽ nghiên cứu thêm và hẹn các em đến tiết sau sẽ trả lời.

Lúc ấy tôi tự hỏi vì sao thầy lại nói vậy.  Phải chăng thầy thiếu tự tin. Sau này tôi mới hiểu đàng sau sự khiêm tốn ấy là một kiến thức rất bao la của thầy. Trong những giờ học của thầy, chúng tôi đã hỏi nhiều câu mà chưa bao giờ thấy thầy bí cả.

Thầy có dáng thư sinh, mang cặp mắt kính. Nhìn thầy lần đầu tôi nhớ đến ông Lê Văn Khoa phụ trách một chương trình thiếu nhi trên TV hồi trước giải phóng. Năm ấy thầy dạy chúng tôi môn nhiệt học. Nhiệt năng biến thành động năng, hoá năng, cơ năng và ngược lại…Tôi nhớ có lần Đỗ Đình Tuấn xung phong lên làm thí nghiệm nhiệt năng thành cơ năng. Tuấn đem một cái vỏ đựng viết làm bằng thuỷ tinh để thế cho cái ống nghiệm. Tuấn đổ nước vào trong, lấy cái nắp nhựa đậy lại rồi cho ống nghiệm lên ngọn lửa đèn cồn. lát sau nước sôi, hơi nước đẩy cái nắp nhựa văng ra ngoài. Tôi tự hỏi lỡ cái nắp đậy chặt quá không văng nắp mà bể ống thuỷ tinh thì sao? Tôi muốn tìm mấy cái ống nghiệm để thí nghiệm cho đàng hoàng. Tuấn chỉ cho tôi kiếm thằng Nguyễn Anh Kiệt lớp 8/2 nhà ở đường Đặng Thị Nhu (ngay chợ sách cũ) để tìm ống nghiệm. Không riêng gì ống nghiệm, mấy thứ hàng độc như acid, bazơ …nó cũng có. Nguyễn Anh Kiệt chính là KL, sau này học chung lớp C2 với tôi.

Có một lần không biết đứa nào chơi ác trét mắt mèo lên bàn của thầy ngồi. Hình như đã quá kinh nghiệm với mấy trò này, thầy tỏ thái độ giận dữ. Thầy đốt giấy hơ hơi nóng trên bàn ghế để vô hiệu hoá mắt mèo. Cuối cùng khi chuyển tiết, thầy còn cẩn thận nhắc cô giáo là lớp này mới có trò khỉ để cô cẩn thận đề phòng.

Ngày ấy chúng tôi rất say mê với môn vật lý. Theo sự giới thiệu của thầy, chúng tôi tìm mua cuốn Chinh Phục Những Khoảng Cách, Vật Lý Vui…để tham khảo thêm. Một thế giới vừa quen vừa lạ mở ra trước mấy cái đầu tò mò của chúng tôi. Sau này chúng tôi học đến công, công suất, hiệu suất, định luật bảo toàn năng lượng…Thầy hay cho kiểm tra đột xuất. Mỗi lần làm xong đến giờ về, tôi và Ngô Bá Định, Đỗ Đình Tuấn … hay tranh cãi với nhau về cách giải và đáp số trên suốt chặng đường về.

Năm học 10C2 chúng tôi lại được học thầy môn vật lý cơ học. Một lần trong giờ giải bài tập, Tạ Quang Thanh tự Râu Đen cãi nhau với thầy về cách giải. Thầy cần cây compa để quay trên bảng mà không có. Thầy rút luôn sợi dây giày của mình để thế compa. Cả lớp nhìn lên bảng ngơ ngác, lè lưỡi vì cái tài xoay trở của thầy.

Khi học đến tốc độ để một vật có thể biến thành vệ tinh của trái đất. Tôi sực nhớ đến mấy lần thao thức ngắm sao trời, có một số vật thể di chuyển thấy được. Không biết đó có phải là vệ tinh không. Tôi giơ tay hỏi thầy. Thấy tôi tập vở lôm côm, nhếch nhác, bày đặt hỏi lôi thôi, thầy trả lời gọn lỏn:

Ngồi xuống, tôi không có ngắm bầu trời sao vào ban đêm nên không biết.

Thầy giảng bài rất hay, giải bài tập rất rõ ràng. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in mấy công thức cơ học hồi xưa được thầy dạy (để dạy lại cho con tôi). Được biết thầy là cha của bạn Bùi Phong Độ học lớp C1 kế bên. Hết năm 11, tôi nghe tin hai cha con đã đi vượt biên. Tôi không biết kết quả chuyến đi ấy như thế nào. Chỉ mong sao hai cha con thầy Quang đến bờ cặp bến an toàn. Có anh em nào liên lạc được với Bùi Phong Độ và thầy Bùi Phong Quang thì hê lên cho anh em biết để mà mừng. Nếu rủ được thằng Độ vô sân PKHLP thì càng tốt.

4/ THẦY HUỲNH QUỐC TUẤN

Thầy Tuấn dạy Pháp văn năm lớp 9. Thầy có biệt danh là Apollo. Thằng Nguyễn Trung Cang và thằng Vũ Hữu Đức có tài vẽ tranh biếm họa. Hai đứa chỉ nghuệch ngoạc vài nét là gương mặt thầy đã hiện ra trên bảng. Lớp đã không biết bao lần cười bể bụng vì cái trò này. Đến giờ thầy, mấy đứa lau bảng còn cố tình để lại hình ảnh mờ mờ không chịu xoá cho sạch. Tiệc tất niên đón xuân mậu ngọ và tiệc chia tay cuối năm lớp 9, hình ảnh của thầy cũng được hai thằng thể hiện lên bảng.

Năm 1978, trường được Tiệp Khắc viện trợ tu sửa phòng thí nghiệm. Thầy Tuấn rất vui, mô tả cho lớp cái phòng thí nghiệm tân tiến sắp sửa khai trương. Thầy nói chỉ cần bấm nút một cái, màn hình sẽ hiện lên. Và thật bất ngờ, ngay hướng tay thầy chỉ là cái hình mà hai thằng ôn vẽ sẵn trên tường…Những trò quá quắt ngày xưa từng gây cười bây giờ nghĩ lại thấy hối hận. Khi giận, mặt thầy đỏ lên, la rầy chút rồi lại tiếp tục công việc giảng dạy. Tôi học ở thầy cái cách điều chỉnh cảm xúc. Gặp mấy thằng học trò quỷ quậy phá ai mà không giận. Nhưng thầy luôn tuân thủ cái quy luật  thời “gian mất x số học sinh” nên la rầy vừa đủ là quay trở lại bài như chưa có chuyện gì xảy ra.

Thầy đã ra đi vào cõi hư vô nhưng công sức thầy rèn dạy khi xưa đã không uổng. Vẫn biết đường học vấn suốt đời đi không hết, tôi xin tạc dạ ghi lòng, một lần vinh danh công ơn người thầy xưa đã cho tôi cái nền móng để tôi phát triển cho đến bây giờ. Mong thầy tha thứ cho những trò đùa của mấy thằng học trò khả ố của ngày xưa.

5/ THẦY NGUYỄN MƯỜI NHO

GS Nguyen Muoi NhoNói đến võ, dân PKLHP không ai không biết đến thầy Nguyễn Mười Nho dạy thể dục. Thầy là cha của bạn Nguyễn Anh Vũ 6/1-9/1. Lần đầu tôi gặp thầy là giờ thể dục lúc sáng sớm của năm học 6/1.
– Tại sao đi tập thể dục mà không mang giày bata
– Thưa thầy mẹ con chưa mua. Con hứa lần sau sẽ mang giày bata đi tập thể dục.
– Vậy thì ra ngoài mà đứng.
Đó là kỹ niệm đầu tiên. Tôi chẳng buồn, chẳng giận thầy. Quốc có quốc pháp, trường có trường quy mà. Ngược lại tôi rất ngưỡng mộ thầy.

Tôi mê học võ từ nhỏ. Gần nhà có một chú được học võ ở quân trường, hay kéo mấy thằng nhóc ra bãi trống để dạy. Tôi hay đến xem rồi nhớ lấy, về nhà tự tập. Các anh chị hay cười, bảo tôi học chạy là tốt nhất. Trong xóm lao động nghèo ở quận 4 ngày xưa, thường có mấy tên du đãng kéo bè, tụ nhóm. Thấy con gái đi qua, chúng chọc ghẹo rất thô bỉ. Thanh niên nào lạ đi vào xóm là tụi nó kiếm chuyện liền. Tụi nó đánh nhau vì những lý do rất đơn giản như cái mặt thấy ghét, thấy nó kênh với mình, nó dám cua con nhỏ trong xóm mình…

Học võ là để đánh lộn cho ngon lành. Nếu là rèn luyện sức khỏe thì thiếu gì môn chơi, đâu cần phải tới võ đường. Nhớ lại ngày xưa còn bé, mấy đứa gây nhau, nồ nhau theo kiểu nghiêng mình cụng vai, hỏi nhau mầy muốn gì, rồi sao, rồi sao…Một lúc lâu sau mới chịu ôm nhau vật. Thằng nào đô là thằng đó có ưu thế. Đứa nào làm không lại về mét anh chị rồi dần dần lớn chuyện gây lộn ì xèo. Nhờ một vài chiêu học lóm, tôi đánh lộn cũng khá. Ra đường ngứa ngái tay chân quơ quơ đánh gió để phát tiết.

Tôi thường ngấu nghiến mấy cuốn truyện chưởng, mơ sau này mình trở thành một võ sư như Trương Vô Kỵ, Kiều Phong, võ lâm ngũ bá…Đọc chuyện Duyên Anh, tôi mơ thấy mình là Dũng Đakao, Quyên Tân Định tuy nhỏ nhưng cũng ngang tàn, khí phách. Sau này nghĩ lại, đánh người cũng bị người thụi lại, nó bể đầu mình cũng sứt môi, có chi mà hay. Ham đánh lộn riết sau này không khéo lại trở thành du đãng. Mà tại sao lại dùng vũ lực để giải quyết vấn đề. Thiếu gì cách khác hay hơn sao không xài…

Cho đến một hôm…
Đi trên đường Bến Vân Đồn quận 4, tôi gặp một phụ nữ bị giật dây chuyền. Chị ta xanh mặt ú ớ không nói nên lời. Nổi máu xung thiên, tôi rượt theo thằng nhóc tóm đầu nó lại. Nó năn nỉ xin tha. Tôi cũng không làm khó dễ nó, lấy lại sợi dây trả cho khổ chủ. Việc ta ta cứ tiếp tục. Không ngờ có một đám thanh niên chắc là sư huynh đệ với thằng nhóc xông ra đón đường, tay lăm lăm vũ khí. Pháp môn tôi có thể xài lúc đó là Ù té quyền, tuyệt chiêu của anh chị truyền lại. Nhưng cũng phải khó khăn lắm, u đầu sứt trán mới thoát khỏi cái mê hồn trận đó.

Đúng là có nhiều cách giải quyết vấn đề. Nhưng đối với một số trường hợp, mình phải cho người ta thấy chứ không phải một mình mình thấy. Phải cho họ biết nếu anh giải quyết vấn đề bằng vũ lực thì anh sẽ thất bại vì không may gặp một cao thủ. Muốn vậy mình phải là một cao thủ. Không xài tới thì cố nhịn, nhịn không nổi phải xài thì đừng quân tử. Quân tử trong đánh lộn là tự sát. Làm trai thời loạn phải có chút ít võ nghệ phòng thân, giúp người, dọc đường thấy chuyện bất bình chẳng tha.

Sau chuyện đó, tôi nhất định phải học võ. Trong giờ tập thể dục buổi sáng lớp 10 ở sân Lam Sơn, tôi gặp Sĩ, hình như ở lớp C5. Nó múa cho tôi xem bài Thái Cực Quyền, nói là thầy Nho dạy nó. Nhìn cái mỏ nó chu chu, bậm môi, nghiến lợi ra đòn, tôi thấy rất tức cười. Sau khi nổ một lát, nó thấy tôi chú ý nên rủ tôi đăng ký học chỗ thầy Nho. Ngưỡng mộ thầy đã lâu, tôi bạo dạn tìm đến thầy đăng ký. Học cùng đợt với tôi là Sĩ, Phú, Hân, Khải. Chúng tôi học thầy ở sân Lam Sơn. Bài đầu tiên là học tấn và chuyển tấn.

Sau đó, năm anh em đến nhà thầy học một tuần hai buổi. Chúng tôi học quyền, học tam thế đối luyện, song đấu tự do, đánh đá bao cát…ban đầu là thầy trực tiếp hướng dẫn, sau đó là anh Kiệt con thầy. Lúc đó thầy mang đai đen ngũ đẳng. Cũng nhờ thời gian học võ, tôi thường xuyên gặp lại người bạn lớp 6/1 Nguyễn Anh Vũ. Lần đầu tiên khoát lên ngườI bộ võ phục có huy hiệu Chundowan, tôi rất hãnh diện. Tôi tập luyện chuyên tâm để người mềm, chân dẻo, tăng uy lực và tốc độ trong từng quả thôi, ngọn cước. Thầy có một lớp võ khác ở sân Tinh Võ. Cái háo hức của tuổi mới lớn làm tôi ao ước được song đấu với các bạn khác ở đó. Thầy và anh Kiệt không nghĩ vậy, bắt chúng tôi luyện căn bản cho thật tốt. Một hôm, thầy bảo:
– Những gì thầy đã dạy các em nếu chuyên cần rèn luyện cũng có thể đủ xài. Các em phải cố gắng luyện, nâng cao chất lượng những đòn thế đã học. Học võ không cốt học nhiều mà phải luyện thật tinh những gì đã học.
Tôi có linh cảm như đó là một lời chia tay.

Thầy và anh Kiệt kêu chúng tôi đến một trường tiểu học ở đường Nguyễn Chí Thanh để vừa tập, vừa huấn luyện cho các em ở đó. Lúc này nhóm tập có thêm Thủ và Minh, hai sư huynh hơn nhóm chúng tôi một cấp. Thủ có đòn số 4, Minh có đòn đá cầu vồng. Không ít lần, Sĩ và Phú bị dính mấy đòn này. Tôi nhờ thấp bé, mấy ảnh đá hơi cao nên may mắn thoát được. Mọi chuyện tập luyện, song đấu hầu hết diễn ra giữa bảy anh em. Sau đó vì sinh kế, tôi tập thưa dần rồi nghỉ. Vài năm sau tôi có trở lại thăm thầy nhưng được tin thầy cùng gia đình đã ra đi từ lâu.

Sau này, tôi nghiệm ra những điều khác trong võ thuật.

Võ thuật giúp người ta vượt qua những giới hạn của chính bản thân mình về cả thể lực và tâm lý.

Cái quan trọng không ở chỗ đòn mạnh bao nhiêu mà ở chỗ đánh vào đâu, lực tập trung ra sao.

Khi bản thân không còn đam mê, không còn thách thức bởi những giới hạn, mình sẽ không còn tiến bộ. Học võ như thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi.

Khi ai đó tấn công mình, điều quan trọng chưa phải là đánh trả thế nào mà phải nhận ra: Họ là ai, từ đâu đến, họ muốn gì, mình cần giải quyết theo cách nào.

Khi lâm trận mình phải ước lượng được trình độ đối thủ để xác định mức độ nặng nhẹ của đòn thế, xác định chiến thuật thi đấu thích hợp.

Những nguyên lý võ học là những cốt lõi để soi sáng con đường tập luyện của mình.

Từ đó đến giờ, tôi không xuất thủ với ai nhưng căn bản võ công cho tôi một sức chịu đựng dẻo dai, một thái độ trầm tĩnh trước cuộc sống khắc nghiệt.

Nói thiệt tình, thù hận đánh nhau thì một bên vô tù, một bên vô nhà xác. Những tinh hoa võ học thời xưa, những chiêu sát thủ bây giờ đã không còn chỗ để dùng. Chỉ có cái võ đạo, cái tâm của người học võ là còn được bảo tồn. Cảm ơn thầy trong thời gian ngắn ngủi đã mở cho tôi một đầu đề để suy nghĩ gần hết cuộc đời. Không biết bây giờ gia đình thầy lưu lạc phương nào. Nơi đây, tôi vẫn hay đi ngang qua, ngắm lại căn nhà cũ, nhớ về một thời xưa được thầy dìu dắt, cùng tập luyện với anh em đồng môn võ đường Chundowan.

6/ THẦY TRẦN THÀNH MINH

tran-thanh-minhLớp 11C2 niên khoá 79-80 có may mắn được học môn toán do thầy Trần Thành Minh phụ trách. Môn toán năm đó chúng tôi học là toán giải tích và hình học không gian. Thực ra tôi đã gặp thầy trong mấy quyển sách toán của thầy biên soạn chung với thầy Phan Lưu Biên hồi trước 75 do anh chị để lại. Bây giờ chúng tôi được thụ giáo trực tiếp từ thầy, ai cũng nửa mừng nửa rét vì biết thầy từng là giám học  của trường.

Thầy bước vào lớp, dáng thư sinh nhỏ thó nhưng có giọng nói khoẻ, hơi khàn khàn. Bài mở đầu là bài giới hạn. Thầy bảo:

Hôm nay tôi hướng dẫn cho các em bài giới hạn. Bài này hơi khó vì hơi trừu tượng. Các em nhớ lắng nghe và hiểu cho thật kỹ.

Rồi thầy từng bước hướng dẫn cho chúng tôi đi vào thế giới của những con số, những đường kẻ một cách đầy cuốn hút. Cách dạy của thầy rất khoa học. Sau khi học sinh học xong phần lý thuyết, thầy đưa ra một số đề toán tiêu biểu. Sau khi sửa bài, thầy cho một loạt các bài toán khác tương tự, mở rộng, có áp dụng những hệ quả của các bài toán trước.

Người ta thường bảo toán học là khô khan. Có thể đúng nhưng giờ toán của thầy Trần Thành Minh thì không như vậy. Chúng tôi học toán với thầy mà mọi việc tự nhiên thông suốt như khi nghe thầy Nguyễn Bá Kim kể chuyện sử, Thầy Nguyễn Xuân Hoàng nói chuyện văn học vậy. Giờ của thầy, tôi hay xung phong lên sửa bài tập để kiếm điểm. Một phần vì ham mê toán, một phần vì tạp vở tôi nhếch nhác lắm, để thầy kêu lên là tôi chết chắc. Nhưng bù lại, tôi có thói quen về giải hết mấy bài tập trên …giấy nháp, không chừa một bài nào.

Trong lớp thỉnh thoảng thầy trò cũng hay tranh luận với nhau. Đi đầu trong việc tranh cãi với thầy là thằng Trương Vân Bội Trân. Cái tên của nó nghe cũng đẹp điếng vậy mà các bạn trong lớp cho nó cái biệt hiệu là Cóc Ghẻ. Dáng nó thấp bé, mỗi lần đứng lên phát biểu với thầy, mắt nó cũng trợn trợn, giọng nó khàn khàn, cả lớp ráng mà nín cười. Một lần tôi chọc nó:

Đề nghị mày khi phát biểu phải đứng dậy đàng hoàng, không được ngồi nghe mậy.

Tao đứng nói chứ đâu có ngồi hồi nào đâu?

Xin lỗi nghe, tại mày đứng mà tao không biết!

Nhắc về thầy, tôi có hai kỷ niệm còn nhớ mãi.

Kỷ niệm đầu tiên là lần đưa tiễn thằng Vũ Anh Tuấn đi Pháp. Cả lớp cúp cua tập thể hai giờ địa lý rồi lại trở vô tập thể để học toán vì tiếc giờ toán của thầy. Nhìn sổ đầu bài, thầy lắc đầu nguầy nguậy nhưng hình như thầy cũng thông cảm với chúng tôi. Thầy bảo:

Các em làm như vầy không sợ giáo viên dạy địa buồn sao?

Rồi thầy tiếp tục công việc của mình nhưng tôi biết thầy cũng vui ngầm, hãnh diện vì có những thằng học trò tuy hơi ngỗ ngáo nhưng rất yêu môn toán của thầy.

Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mấy thằng C2 hồi xưa ngang tàng thiệt. Cúp thì không cúp lẻ tẻ, đã cúp lại còn trở vô, thiệt là coi nhẹ trường quy. Chắc lần đó bác Hội phụ trách giờ giấc bị kiểm điểm thê thảm lắm.

Kỷ niệm thứ hai là kỷ niệm của riêng tôi. Trường ngày xưa chỉ có nam sinh. Bây giờ có thêm mấy bạn nữ như Phi Nga, Thanh Hà, Ngọc Loan, Quỳnh Như, Thanh Nhãn…Trong giờ thầy Minh đang dạy, tự nhiên tôi cảm thấy hơi mệt nên hít thở thật sâu điều hoà khí huyết, trấn tĩnh tinh thần. Không hiểu nội công tôi lúc ấy thâm hậu cỡ nào mà cái dây kéo quần của tôi nó bung ra không cứu vãn được. Tôi nói với mấy đứa ngồi kế bên:

Đố tụi bây tao dám bỏ áo ngoài quần lên nói chuyện với thầy không?

Mày ngon, mày mà dám  tao bao mầy ly đá đậu.

Tôi lấy giấy viết ra làm tờ đơn xin phép ra về. Áo bỏ ngoài quần, tôi tiến về phía thầy. Thầy trợn mắt nhìn tôi hơi ngạc nhiên không ngờ hôm nay có thằng ăn gan cóc tía dám giỡn mặt với mình.

Thưa thầy con bị …bất ngờ, xin thầy cho phép con ra về.

Thầy vừa cười vừa lắc đầu ký giấy cho tôi. Hôm sau, tôi thưởng thức được ly đá đậu chung độ ngon và thơm làm sao!

Mới đó mà đã gần ba mươi năm. Bây giờ thầy đã già, tóc bạc phơ nhưng trí nhớ vẫn rất tuyệt vời. Thầy là cuốn biên niên sử của trường. Thầy về hưu nhưng vẫn hoạt động với một mong muốn nối kết các thế hệ giáo sư và học sinh Petrus Ký – Lê Hồng Phong với nhau. Có thể việc đó sẽ rất khó khăn. Tôi cũng thường tự nhủ mình, lâu lâu gặp thầy một lần, xem giúp thầy được gì thì giúp. Các cựu giáo sư giờ đã lên hàng U80 rồi còn gì.

7/ THẦY ĐOÀN NGỌC TĂNG

Thầy Đoàn Ngọc Tăng dạy vật lý và là giáo viên chủ nhiện lớp 11C2 niên khoá 79-80. Lớp C2 hồi xưa có đủ Tăng, Ni, Sư, Lữ, bây giờ lại có được thêm thầy Tăng. Nhắc đến thầy lòng tôi chợt lắng xuống như một note lặng buồn trong bài Ướt Mi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Thầy vóc người trung bình, hơi đen, nói giọng  Nam Bộ. Có lẽ thầy rất mệt mỏi khi chủ nhiệm cái lớp C2 hắc ám của chúng tôi. Thầy có vẻ không ưa vài thằng cá biệt lớp C2, có thể do lời bàn giao của cô Ánh chủ nhiệm hồi lớp 10? Sau này có lẽ thầy cũng chuyển giao cái danh sách đó cho thầy Vạn chủ nhiệm 12C2?

Sau một năm làm quen, lớp 11 là lớp vui nhất của tình bạn. Tình vừa chớm thì lại có chuyện đứa ở đứa đi. Mở hàng là Cao Trọng Ni, rồi đến Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Nhã Hiền, Đỗ Bá Văn, Đoàn Thế Quang, Lâm Quốc Dũng, Phạm Đức Long…Chúng tôi chơi với nhau hết mình như bất cứ ngày nào cũng có thể trở thành ngày chia tay với một ai đó.

Giờ học đang im lặng bỗng vang lên chương trình nhạc không lời từ cái radio của thằng Đỗ Cao Lữ. Giờ chơi thì các bạn bị giấu cặp, giấu dép. Anh em bàn dưới thì bắn bì lên bàn trên. Mấy thằng bàn chót thì mang theo bộ bài để quýnh xập xám. Giờ chơi thì anh em hay chơi trò “chấy” và bịt mắt đánh đầu. Chấy là dùng ngón tay trỏ, lắc cổ tay cho thêm lực để đánh vào chỗ hiểm.  Lại thêm cái trò phun nước bọt nữa. Quán quân của trò này là thằng Lâm Sinh Thọ. Hắn có thể phun xa tới 3 met, bá phát bá trúng. Anh em trong lớp hay kêu nhau bằng tên ba mẹ. Giờ trống thì lớp hay chơi đá banh, tạc lon, chơi u…làm náo loạn sân sinh hoạt, khu nhà xe. Một lần cả nhóm đang đá banh nhựa dưới sân sinh hoạt thì bị thầy Nhiều quát từ lớp trên lầu xuống:

Lớp này là lớp nào? Quậy phá thầy kêu công an xuống còng đầu hết bây giờ!

Lớp có mấy bạn nữ thì bị các bạn nam tẩy chay vì bất đồng chính kiến. Chúng tôi đang tuổi mới lớn nên có những tìm hiểu về tính dục, phát biểu không có ý tứ nên các bạn nữ thường bất bình…Có lẽ thầy cũng bị các thầy cô khác mắng vốn. Dù sao thì thầy cũng la rầy chứ không có nặng tay với một đứa nào.

Một lần thầy giảng về chuyển động có định hướng của các electron, sinh ra dòng điện. Thầy đưa ra ví dụ minh hoạ. Thầy nói:

Electron không di chuyển thẳng (direct) từ A sang B mà có một quỹ đạo phức tạp. Thí dụ như anh chàng Âu Nhựt Luân nhà ở Tân Định mà lại đi tới trường không theo một quỹ đạo thẳng. Anh Luân sẽ đi lòng vòng từ nhà ra chợ Sài Gòn, đến đường Trần Hưng Đạo rồi đến Nguyễn Văn Cừ, đến trường sau khi đi ngang Phan Văn Trị, Nguyễn Trãi …

Cả lớp giựt mình. Trời ơi! Sao mấy cái chuyện riêng tư này mà thầy cũng biết.

Một lần sinh hoạt chủ nhiệm, thầy phán một câu làm tôi nhớ tới bây giờ:

Trong lớp, có một số em cầm đầu phá. Thứ nhất là Trần Hữu Hiệp…

Trời ơi đúng là nỗi oan thị Mầu. Tôi chỉ có chút công khởi xướng chứ làm gì có đủ cái năng lực cầm đầu cái lớp C2 này. Khởi xướng và cầm đầu là hai khái niệm khác nhau chút chút chứ đâu có hoàn toàn giống nhau đâu!

Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình quả có chút…cá biệt. Tôi không tham gia một giờ lao động nào trong suốt niên khoá. Đến cuối năm học, thầy bảo tôi:

– Ngày mai là ngày lao động cuối cùng của năm học. Nếu em chịu đi thầy sẽ đánh giá em lao động trung bình. Nếu em tiếp tục nghỉ thầy sẽ đánh giá em lao động yếu.

Và hôm đó tôi đã đến để làm cỏ, trồng trọt. Cuối năm tôi nhận xếp hạng lao động loại trung bình với lời phê: Lười lao động, cuối năm đã có cải thiện.

Cuối năm lớp 11, một bạn trong lớp nói:

Tụi bây ơi, hôm qua tao gặp thầy Tăng ngồi vá xe ở lề đường….

Chúng tôi bàng hoàng ngơ ngác nhìn nhau, hối hận vô cùng. Và tôi cũng đã không có đủ can đảm để đi kiểm chứng lời nói đó. Tôi sợ lúc thấy sẽ không cầm được nước mắt.

Từ đó về sau, chúng tôi tu tỉnh, cố ngoan ngoãn ít nhất là trong giờ thầy để thầy vui. Mấy thằng du đãng hoàn lương C2 hy vọng có đủ thời gian để thầy hiểu được thiện chí muộn màng của mình.

Mấy mươi năm sau, trong những lần thăm thầy cô cũ, tôi cố hỏi tin tức về thầy Đoàn Ngọc Tăng. Thầy Trần Văn Liễu cho hay thầy đã chuyển về dạy ở trường Nguyễn Thị Minh Khai và về hưu ở bên ấy. Không sao, kỳ này tôi sẽ qua bên ấy hỏi thăm tin tức thầy. Tôi muốn cho thầy gặp lại cái thằng cầm đầu phá ngày xưa xem bây giờ nó hiền như thế nào. Tôi muốn nói lời cảm ơn thầy vì thầy đã đóng góp một phần quan trọng để cảm hoá nó.

8/ TƯỞNG NHỚ BÁC PHẨM

vu-van-phamĐã là học sinh PKLHP, không ai không biết Bác Phẩm. Lần đầu tiên tôi gặp bác Phẩm là lúc đi thị đệ thất. Lạ nước lạ cái, đứng lén phén ở ngay phòng bảo vệ, tôi bị bác Phẩm quát cho một hồi: ” Mày làm gì mà lang thang ở đây”. Giọt nước mắt của Nam nhi đại trượng phu 11 tuổi bỗng ứa ra. Một phần sợ trước một ông thiên lôi từ trên trời rơi xuống, một phần lo cái xúi quẩy do lão king kong mang tới.

Rồi mọi việc cũng trôi qua tốt đẹp. Tuổi thơ ngày xưa nghịch ngợm như quỷ sứ. Khi bớt sợ rồi, Lớp 6/1-9/1 và 10C2/12C2 đã từng hành hạ bác nhiều trận tơi bời. Đáng nhớ nhất là những lần đá banh nhựa, bị bác đuổi bắt. Ban đầu là tụi mình bỏ chạy, sau đó là cho bác làm nhân vật trung tâm để chơi banh khờ. Phải công nhận bác Phẩm có đôi tay tuyệt đỉnh công phu, từng thi triển ngũ âm bạch cốt trảo làm tan nát cuộc đời bao trái banh nhựa vô tội. Từ những lần đó, bác được anh em ưu ái đặt cho một cái tên mới: Cát Phẩm.

Trong những năm cấp 3, tôi có trực trường ban đêm một vài lần. Giữa màn đêm tĩnh lặng trong khu vực hồi xưa là mã Ngụy, thằng nào cũng sợ ma gần chết. Chỉ một bất thường xảy ra, một tiếng động , một ánh đèn chợt tắt,bác đã xuất hiện ngay, thân thủ bất phàm, khinh công tuyệt đỉnh…

Chiều ngày 22/1, trong buỗi lễ họp mặt cựu giáo sư và cựu học sinh, Bác Phẩm có về dự. Thầy Trần Thành Minh vừa đọc tên, bác Phẩm đứng lên. Bác nhận được một tràng vỗ tay lớn hơn bất kỳ ai. Bác bây giờ đã già yếu. Bác gái cũng là người đồng nghiệp gắn bó suốt đời của bác Phẩm đã mất. Nhìn thấy bác, bao nhiêu hối hận bỗng làm tôi nghẹn ngào.

Bây giờ nghĩ lại, tôi cảm thấy bác thật đáng khâm phục. Bác chỉ triệt tiêu những đồ chơi vô tri, vô hại và…vô tội. Còn với anh em mình, bác chưa hề làm khó dễ một đứa nào. Bị bọn học trò phá phách, chọc ghẹo đến đỏ mặt tía tai, thở hồng hộc mà bác vẩn nhẫn nại chịu đựng. Bác Phẩm luôn cố gắng hết mình hoàn thành nhiệm vụ, không hề hở môi than vãn. Khác với cảm giác ban đầu, cho bác là thiên lôi, king kong, bây giờ tôi rất tôn trọng và ngưỡng mộ bác.

Ngày xưa, tôi rất khâm phục những anh hùng, những con người phi thường, làm những điều phi thường trong những thời khắc phi thường của lịch sử. Bây giờ qua bác Phẩm, tôi mới nhận ra những con người đáng khâm phục khác. Đó là những người bình thường, làm những điều bình thường trong suốt cuộc đời với cái tâm thật giản dị, khiêm tốn.

Mong bác Phẩm dung thứ và nhận một lời xin lỗi của đám học trò nghịch ngợm, quá quắt ngày xưa.

9/ DANH SÁCH THẦY CÔ 6/1-9/1 và C2

Thay Co 01