Sài Gòn

Trần Hữu Hiệp

Tôi yêu thành phố của tôi,
Yêu từ khi mới ra đời…

Trên thế giới có hai nền văn hóa có thể làm dung môi hòa tan mọi dị biệt từ các nền văn hóa khác. Đó là Mỹ và Trung Hoa. Ở Việt Nam có một nơi na ná như vậy. Đó là Sài Gòn. Ông nội tôi đến Sài Gòn đầu những năm 40. Theo lời kể của ông, Sài Gòn lúc ấy tuy không bằng bây giờ nhưng cũng nhộn nhịp lắm.

Cho ben thanhNhờ có sông và cảng Sài Gòn, tàu bè ra vào buôn bán tấp nập, nội ngoại thương đều phát triển phồn thịnh. Kinh tế Sài Gòn lúc ấy mang đậm dấu ấn của mấy anh khách trú người Hoa và mấy anh bảy chà người Ấn. Mấy anh bảy chà thì làm ở công sở, làm gardien, bán vải, cho vay… Mấy anh khách trú thì làm kỹ nghệ, thương gia, chạp phô, buôn bán nhỏ, lạc xoong, thức ăn…

Sài Gòn còn có rừng ngập mặn Cần Giờ làm lá chắn, xác suất hai trăm năm mới có một cơn bão đi qua. Lúc đầu người Việt Nam ở Sài Gòn khá thưa. Sau đó, người lục tỉnh Nam Kỳ, người Trung, người Bắc đổ về Sài Gòn ngày càng đông:

Nhà Bè nước chảy chia hai 
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

Họ đến đây vì cuộc mưu sinh. Sau đó, chiến tranh, ly loạn làm dòng người đổ về đông hơn, đợt sau hòa vào đợt trước:

Rồng chầu ngoài Huế, 
Ngựa tế Đồng Nai, 
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài, 
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.

Mức tăng dân số của Sài Gòn chủ yếu là tăng cơ học.

1698: Năm ngàn người 
1859: Ba mươi ngàn người 
1892: Một trăm bảy mươi lăm ngàn 
1900: Hai trăm mười bảy ngàn 
1931: Ba trăm mười bốn ngàn 
1943: Bốn trăm chin mươi tám ngàn 
1951: Một triệu sáu trăm ngàn 
1955: Một triệu chin trăm ngàn 

Sài gòn trở thành hòn ngọc viễn đông. Từ năm 1954, Sài Gòn là thủ phủ của VNCH. Nhân tài các nơi tụ về Sài Gòn như một điểm hẹn.

Đó là ký ức của đời trước. Riêng tôi, tôi rất nhớ Sài Gòn của những năm 60, đầu 70.

Tôi nhớ Sài Gòn với những cảng, chợ và những bến đò ven sông. Nhất cận thị, nhị cận giang, dân Nam bộ sống nhờ sông nước. Dân Sài Gòn cũng không ngoại lệ. Tàu bè chở khách, chở hàng ngang dọc khắp mặt sông. Tàu bè cặp cảng bốc dở hàng. Cảng, chợ đã nuôi sống đội quân bốc xếp, buôn bán, giúp hàng hóa luân chuyển. Những chuyến đò ngang, đò dọc đưa rước dòng người xuôi ngược. Nhà thường chỉ tập trung ở khu chợ. Dọc bờ sông, nhà rất thưa. Hai bên bờ lúc xưa có những cây tràm, đước, sú vẹt, mắm…Phong cảnh hoang sơ, hữu tình. Bãi cỏ, sân chơi cạnh bờ sông là điểm hẹn của tụi nhóc láng giềng. Mọi trò chơi tuổi thơ đều diễn ra ở đây.

nho-sai-gon-13Tôi nhớ Sài gòn với những chuyến xe thổ mộ. Ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch là ngày giỗ ông ngoại. Mẹ thường ngoắc chiếc xe ngựa của ông Bảy xà ích cho anh em chúng tôi ngồi lên. Con ngựa thồ bé nhỏ, không giống như bạn bè to lớn của nó trong mấy film Mỹ. Ông Bảy che hai mắt nó, không cho nó nhìn hai bên. Ông cầm roi quất nhẹ vào nó, nói với nó bằng một ngôn ngữ kỳ lạ. Nó như hiểu hết những gì ông nói, cố hết sức để làm vừa lòng chủ. Ông Bảy thường ủ phân ngựa để bón cây. Anh em tôi rất ngạc nhiên, không hiểu tại sao cứt ngựa lại mọc thành cây. Cây vườn nhà ông, chúng tôi gọi là cây cứt ngựa, không dám chạm tay vào. Bánh xe ngựa của ông bảy làm bằng một loại gỗ đặc biệt, rất cứng, rất nặng. Ông bảo đó là cây căm xe. Cuối những năm 60, xe lam chín chỗ tung hoành ngang dọc. Ông Bảy chống chỏi được một thời gian rồi cũng đổi nghề khác. Mấy câu thơ của nhà thơ Đoàn Văn Cừ cũng dần đi vào hoài niệm:

Tôi yêu nước Việt, miền Nam 
Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao 
Yêu xe thổ mộ xôn xao 
Trên con đường đất dẫn vào làng quê

Tôi nhớ Sài Gòn với những tiếng rao hàng. Sài Gòn ngày xưa dậy sớm.
– Chè đậu xanh, đậu đỏ bánh lọt đây
– Bánh mì nóng giòn đây
– Ai ăn xôi gấc, xôi vò, xôi vị hôn…
Những tiếng. rao hòa lẫn tiếng quang gánh kẻo kẹt, tiếng bánh xe lăn như chiếc đồng hồ kêu tôi thức dậy học bài mỗi buổi sáng. Trễ hơn một chút là tiếng rao báo:
– Báo mới đây, tin chiến sự, tin giựt gân đây…
Tiếng còi của ông thiến heo, tiếng lạch xạch của anh đấm bóp…Sài Gòn bao dung biết bao cuộc đời cần lao, lam lũ. Buổi sáng trong xóm nhỏ thiệt là vui. Cuộc sống càng hiện đại, những âm thanh quen thuộc của Sài Gòn dậy sớm ngày xưa cũng thưa dần.

ca phe la me bay 02Tôi nhớ Sài Gòn với những quán café. Không biết từ bao giờ, người Sài Gòn đã rất thích uống café. Các ông bạn láng giềng trong xóm thường tụ tập với nhau uống café ở quán bà Hai trước khi đi làm. Họ nói với nhau đủ thứ chuyện, sôi nổi nhất là chuyện chiến sự. Các ông người thích ông Thiệu, người khoái ông Kỳ, người ủng hộ Việt Cộng, người cổ vũ quốc gia. Tôi không hiểu gì cả. Tôi chỉ ý thức được là chiến tranh làm họ đau khổ mỏi mòn. Ai cũng mong ngóng hòa bình mà hòa bình có vẻ còn xa xôi lắm. Một số người khác trong quán thì dửng dưng, lẳng lặng đọc báo. Người sài Gòn bên ly café hồn nhiên, không đố kỵ, phân biệt. Họ cãi nhau ì xèo, đỏ mặt tía tai rồi hôm sau lại gặp nhau tươi cười như chưa hề có cãi cọ xảy ra.

Tôi nhớ Sài Gòn về đêm trong xóm nhỏ. Đòan người tản cư tránh chiến tranh đổ về sài Gòn ngày một đông. Họ về đây mang theo cái tình quê hương trong câu hò, điệu lý. Nhạc cải lương được mọi người chào đón nồng nhiệt trong xóm nhỏ. Ai có tiền thì mua vé ra rạp xem, ai không tiền thì ngồi nhà xem TV. Mấy đoàn cải lương lớn như Kim Chung, Dạ Lý Hương… đắt sô như tôm tươi ngoài chợ. Nói ngồi nhà xem TV cho oai, thực ra trong xóm chỉ có một vài nhà có TV. Người lớn, trẻ em xếp hàng trong mấy nhà này coi ké. Mấy bà mấy cô thì khoái cải lương, cải lương Hồ Quảng, kịch Sống, kịch Thẩm Thúy Hằng…Mấy ông thì khoái coi chương trình nhạc Bảo Thu, Tạp Lục, Hoàng Thi Thơ…Mấy nhóc thì khoái coi đài Mỹ băng tần 11 với Miền Tây hoang dã, Lỗ tai lừa, Tàu lặn, Cao bồi, Người dơi…Chỉ có mấy đứa nhà có TV là hưởng được chương trình đô vật vì chương trình phát khuya.

Từ đó đến nay, Sài Gòn đã một lần thay tên. Đường cũng thay tên, trường cũng thay tên. Người tứ phương tiếp tục đổ về sài Gòn ngày một đông.

1970: Một triệu chin trăm chin mươi ngàn 
1979: Ba triệu bốn trăm hai mươi ngàn 
1991: Bốn triệu hai trăm sáu mươi ngàn 
1996: Bốn triệu tám trăm ngàn 
Năm 2006, nghe đâu dân số Sài Gòn xấp xỉ bảy triệu người…

Toi xa saigon 02Nếu tính luôn dân tạm cư, Sài Gòn hiện đang có hơn 10% dân số của Việt Nam trong khi diện tích chiếm 1%. Như vậy, Sài Gòn có mật độ dân số 10 lần lớn hơn mức trung bình của VN. VN lại có mật độ dân số gấp 10 lần Mỹ. Mỹ có mật độ dân số gấp 10 lần Canada. Một phép so sánh để thấy Sài Gòn chật hẹp đến thế nào. Sài Gòn là trung tâm kinh tế lớn nhất nước. Nhưng nhìn lại, hòn ngọc viễn đông đã đánh mất ngôi vị số một của mình trong khu vực. Sài Gòn như mới mở mắt sau một giấc ngủ dài. Sài Gòn đang tìm đường trở lại vị trí vinh quang ngày xưa. Trong mơ, tôi mơ thấy Sài Gòn trở thành một đặc khu kinh tế, không bị ràng buộc, trì kéo, thỏa sức phát triển. Trong cái đầu của dân Nam thích xé rào, tôi nghĩ không có gì là không làm được, miễn là được làm.

Sài gòn bây giờ bê tông hơn, bụi hơn, không nên thơ bằng Sài Gòn ngày xưa. Đường xá bị cày xới liên tục. Mỗi lần cày xới, lấp lại, đường lại cao hơn. Nước mưa được dịp tràn vào nhà dân. Dân chống chỏi ra sao thì phải tùy tình hình thực tế của mỗi nhà. Ngoài đường xe cộ như mắc cửi. Cái nhịp sống tất bật, lo toan bộn bề làm người Sài Gòn ít có những phút giây thư giãn. Đi xe lỡ bị xì bánh thì nội dắt bộ kiếm chỗ vá cũng bở hơi tai…

Có thể sau này tôi sẽ không còn ở Sài Gòn nữa. Dù vậy, tôi vẫn yêu Sài Gòn, yêu từ dĩ vãng cho đến hiện tại vì đã có quá nhiều kỷ niệm với nó. Đó là nơi chôn nhau cắt rốn, tuổi thơ của tôi, mái trường, bạn bè, mối tình đầu và …nơi mẹ tôi nằm xuống. Nếu chọn một nơi để nằm xuống, tôi sẽ chọn Sài Gòn.

Trần Hữu Hiệp