Rừng Ông Thần Rùa (*)
(Trích đoạn tiểu thuyết “Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc”.)
Ngô Nguyên Dũng
*
Lời tác giả:
Trích đoạn tiểu thuyết nầy của tôi được chính tôi phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ, không sử dụng bất cứ trợ sức nào của công cụ trí tuệ nhân tạo AI theo nguyên tắc sáng tác của tôi:
“Nói không với AI, không ẩn giấu tông tích, không dùng bút danh khác giới tính, không sử dụng ảnh chân dung giả.”
Trân trọng.
*
Chiếc tam bản lướt chậm vô cánh rừng đước, được người dân nơi đây gọi là “Rừng Ông Thần Rùa”, vừa lúc ánh trăng rằm trở sắc nhàn nhạt theo bóng ngày. Trời còn nhá nhem. Ở hướng đông, những tia sáng đầu ngày lấp lóe. Đạo Sĩ phất tay ra hiệu cho cậu Bảy lơi dầm, tìm một nhánh nước rộng đủ cho chiếc tam bản len lách. Lần đầu tiên cậu Bảy đặt chân tới xẻo đất nầy.
Với lòng nhẫn nại vô tận, phù sa dòng Cửu Long đã vun bồi vùng hoang dã nơi đây. Rẻo nầy tới rẻo khác. Lớp kia chồng lớp nọ. Tiếp nối nhau qua từng độ gió mùa. Những bướu đất trồi lên từ tấm áo phù sa, trộn lẫn nước đại dương, được mưa gió mùa màng hung hãn gột rửa. Theo thời gian, tính man dã của đất được thiên nhiên thuần phục, gột rửa và trở nên hiền hòa. Xẻo đất bùn lầy, sau nhiều ngàn năm, biến thành một cánh rừng màu mỡ. Nơi đó, đước, giống cây hữu ích, đâm rễ chằng chịt, là đất dung thân cho vô số thú lẫn côn trùng, và cũng là hang ổ trốn tránh của những thành phần thảo khấu bất tuân luật pháp. Những mạch nước ốm do thủy triều xâm thực, xẻ dọc ngang khu rừng, ngó như những thương tích hằn dấu trên lưng một con cá voi. Con nước lợ nhuộm lá mục, đổi màu đỏ thẫm, như rướm máu tươi. Rễ đước, mà người dân nơi đây gọi là dương vật đước, trưa chiều mỗi ngày, có được vài tiếng đồng hồ lúc nước ròng, chĩa cọc tua tủa nạp khí trời. Trên mặt bùn trần trụi, cua đinh và cá thòi lòi xoi đầy hang ổ, tua tủa hàng hàng lớp lớp rễ nhọn, như một thành trì bảo vệ kẻ ngoại nhập.
Thổ ngơi nơi đây hoàn toàn khác biệt với khung cảnh thường thấy tại đất phương Nam xứ An-nam. Không thấy bất kỳ một cây dừa nào, là loại cây mọc tràn lan chốn nầy. Về nguyên do hình thành khu rừng đước, có vô số huyền thoại, mà bất kỳ đứa trẻ nào trong làng cũng có thể kể lại rành rọt, được truyền tụng từ thế hệ nầy tới thế hệ khác. Chuyện rằng, cánh rừng nơi đây không phải do thiên nhiên tạo dựng, mà là lưng một con rùa khổng lồ ngoài đại dương xa xôi trôi giạt, đang nằm say ngủ, chờ thời khắc hiển linh đã được tiên ứng trước, sẽ thức giấc tìm tới cảnh giới trú ngụ của ngàn vong hồn. Loài người không được phép đặt chân tới đây, sợ đánh thức con thú đang say giấc sáng tạo, và không được làm ô uế cũng như vơ vét tài nguyên thiên nhiên vì bất cẩn. Thiên hạ còn truyền tai nhau, nơi đây có một giống chim quý màu sắc sặc sỡ làm tổ và một hợp chất được pha trộn từ tro đốt lông cánh của chúng với củ nhân sâm, sẽ giúp con người trường sinh bất tử.
Chuyện kể, trong rừng còn có một giống chim cút hiếm hoi trú ngụ. Chúng nhỏ bằng lòng tay người lớn. Lông chúng trắng phau, nhưng da đen như mực, thịt của chúng đem hầm với đường thốt nốt, là loại thuốc có dược tính hảo hạng trị phong thấp. Nơi đó, trăm năm trước, trong một hang động bí ẩn, bọn cướp biển đã cất giấu những chiến lợi phẩm chiếm được từ những tàu buôn Trung Hoa. Ngày nọ, một cơn hải chấn kinh thiên động địa đã chôn vùi bọn chúng cùng với đống kho tàng vô giá. Từ đó, chúng trở thành đạo quân ma canh giữ hằng hà sa số đồ vật bằng men gốm thượng hạng, những món trang sức đáng giá và tiền vàng, tiền bạc.
Tuy nhiên, theo những mẩu chuyện chan chứa lòng yêu nước được lưu truyền từ vài thập niên gần đây, nơi đó là chỗ ẩn náu của những toán quân tranh đấu giành tự do cho đất nước. Có cả một tụ điểm vui chơi cho họ giải quyết nhu cầu sinh lý. Và trong khu rừng ấy đầy dẫy thảo mộc có thể chữa lành những chứng bệnh nan y.
Khi câu chuyện tới tai Đạo Sĩ, ông lập tức nhờ cậu Bảy chèo tam bản đưa ông tới đó.
Chiếc tam bản trườn dịu nhiễu vô xẻo nước. Mảnh trăng bạc lóng lánh tuồng như rình rập theo dõi hai kẻ xâm nhập, như thể họ là tên thảo khấu đang mưu toan chuyện phi pháp. Trong vô vàn luồng sáng lấp lóe nắng ban mai, nghìn nghịt từng bầy ruồi trâu và nhặng xanh.
Trước đó vài tiếng, lúc gà chưa gáy, vừa mới khởi dầm, cậu Bảy đã cất giọng không mấy phấn khởi:
“Có nhất thiết phải đi đúng đêm rằm không, thưa thầy?”
“Có, bởi vì dược tính sẽ gia tăng nhờ năng lượng mặt trăng. Như đã nói, hôm nay chúng ta sẽ ở lại qua đêm tại đây.”
Cậu Bảy lẳng lặng gật đầu, mặc dù không hiểu thấu đáo. Cậu là thằng con trai đất ruộng kỳ quặc đang tuổi trổ mã. So với độ tuổi của cơ thể, trí não cậu phát triển thiếu sót và chậm hơn nhiều năm, vì vậy nhiều khi cậu giải quyết những vấn đề đôi co bằng lý lẽ của sức mạnh. Theo quan niệm của người An-nam, bà mụ đã lắp ráp cậu một cách vụng về. Thâm tâm cậu không ưa những động tác hung hãn, nhưng chính cậu cũng không biết phải giải thích sao, mỗi khi cậu thẳng tay giận dữ ngắt đầu dế, quăng cho gà ăn, chỉ vì nó thua một trận đá. Cậu cảm thấy thích thú tột độ, khi lấy dao hành hạ một con ếch, chỉ để thấy nó, sau mỗi nhát cắt, co quắp hai chân trước như thể van xin, rồi cậu rú cười không thương tiếc. Con vật sau đó bị cậu xẻo thịt làm mồi câu cá.
Thế giới quan nhỏ bằng lòng tay của cậu vừa đủ đựng những sự việc và hiện tượng mà cậu đã tận mắt chứng kiến. Trí nhớ cậu tựa như tấm lưới thô sơ, chỉ có thể giữ lại những biến động lớn. Một trong số đó là câu chuyện có liên quan tới ông thầy thuốc làng và những món thảo dược của ông. Cậu đã nhiều lần thấy ông giã nhuyễn một nhúm lá cây trộn lẫn nhiều loại hột, đem nấu thành một chất lỏng đen kịt làm thuốc chữa bệnh cho người bệnh. Nhưng chuyện một loại cây lá có thêm dược tính nhờ năng lực mặt trăng, như Đạo Sĩ giải thích mới nãy, nghe vừa khó hiểu vừa khó tin.
Não bộ cậu dẫu yếu vẫn không thể ngăn cậu đôi khi nghĩ ngợi mông lung về lý do tại sao thiên hạ cứ bị dịch bệnh hoành hành, lại nhằm lúc mùa màng thất thu, hạn hán hay lũ lụt. Cậu Bảy nhớ hoài sáu tháng mưa dầm năm Thìn thuở ấy. Dạo đó, trọn đồng bằng vây quanh những mạch sông chìm trong biển nước lềnh bềnh củi mục, cỏ sậy và lục bình lúc nhúc mặt nước đặc quánh phù sa. Cơn lụt năm ấy dai dẳng bất thường. Thời gian dường như khựng lại. Trời và đất nối nhau liền lạc một khối xám ngoét. Mưa liên hoàn cả tuần không ngơi nghỉ. Dòng Cửu Long, trong hành trình xuôi Nam, mang theo tất cả những chướng ngại vật: Những mái lá chằm, gỗ ván, thân cây và xác thú. Nhiều xác đã phình trương, chở theo trên lưng từng bầy quạ inh ỏi tranh nhau rỉa thịt.
Sau khi nước rút, tới nạn dịch tả. Chỉ trong vài tháng, nhiều thôn làng bị diệt vong vì dịch bệnh. Những thây người vô thừa nhận được thảy lên xe bò, ném xuống hố chôn tập thể, lấp đất rắc vôi vội vã. Nhiều xác chỉ còn trơ xương, vì bị kên kên và chuột rúc rỉa. Dịch bệnh dứt, sau khi dân cư rứt ruột bỏ làng ra đi.
Dọc đường, cho qua thì giờ, cậu Bảy muốn lên tiếng hỏi Đạo Sĩ về chuyện cậu mong được ông chỉ dạy cậu hành nghề thuốc Nam. Có điều, cậu không biết phải bắt đầu ra sao. Cho tới khi ngắm nhìn người đàn ông và con vượn trên vai ngồi day lưng ở mũi ghe tam bản, cậu bất chợt nhận ra vài thay đổi trong cách ăn mặc của ông. Tuy vẫn để ngực trần, nhưng thay vì quấn sà-rong, ông mặc quần dài đen như đàn ông miền nầy. Ông còn đem theo manh áo tơi đan lá chằm, đầu đội nón lá. Khi chiếc tam bản len tới bìa rừng trầm thủy, ông lấy ra từ túi bố một chai con đựng chất lỏng, thoa khắp người.
“Thứ dầu nầy chống muỗi rất hiệu quả”, ông nói, rồi day lại, đưa cậu Bảy chai dầu.
Dầu lóng lánh sắc xanh, hương the thắt và nồng nặc mùi gì như mục rữa.
“Thứ mà ta muốn kiếm nơi đây là vỏ cây trị sốt”, Đạo Sĩ cho biết. “Chú em có nghe bao giờ chưa?”
“Chưa bao giờ, ông thầy.”
“Thiên hạ nói, vỏ loại cây nầy có thể sắc thành thuốc trị sốt do muỗi chích”, ông giải thích.
“Ông thầy cứ việc chỉ cho tui giống cây nầy có hình dạng ra sao, tui sẽ giúp ông lấy vỏ”, cậu Bảy hớn hở đề nghị. “Ý ông muốn nói là thằng Lâm mắc phải chứng bệnh nầy à?”, cậu ngập ngừng.
“Chắc vậy”, Đạo Sĩ trả lời rồi bật tiếng cười lớn, hả hê. Giọng cười chắc nịch dội vang đỗi lâu trong không gian ban mai tịch mịch, như thể vừa phát ra một luồng âm thanh dao động.
“Còn một thử thách khác là tìm một loại thuốc trị bệnh giang mai.”
“Bệnh gì?”
“Giang mai là một chứng bệnh nan y, lan truyền từ chuyện giao hợp nam nữ”, Đạo Sĩ giải thích.
“Có chuyện đó nữa sao?”, cậu Bảy thều thào. Cậu lơi dầm, đảo mắt quanh quất như sợ có người thứ ba nghe thấy.
“Ý ông là thiên hạ mắc bệnh chỉ vì giao cấu với nhau à?”, cậu Bảy muốn biết.
“Không, không phải vậy”, Đạo Sĩ bật cười. “Chỉ khi nào một trong hai người mắc phải bệnh nầy.”
“Bằng cách nào vậy? Tui không hiểu gì ráo”, cậu Bảy trợn mắt ngạc nhiên.
“Ối, ta cũng không biết sao nữa. Nó là như vậy”, người đàn ông trỏ ngón tay chỉ trời, chỗ hiện ra thấp thoáng một khoảng trống xanh biếc.
“Chuyện kể, sự việc bắt đầu từ một mối tình vô vọng của gã vệ sĩ với cô công chúa”, ông khởi sự kể, thầm thì mềm mại, như thể sửa soạn cất giọng ca diễn một ca khúc trữ tình. “Chú em biết chuyện nầy không vậy?”
“Không, chưa bao giờ nghe.”
Đạo Sĩ day mặt. Ông lướt nhìn hai mắt cậu Bảy, rồi chậm rãi day ngó ra xa như thể truy tìm điều gì đó vừa đánh mất. Chuỗi âm thanh lanh lảnh của một đàn chim bay ngang rớt xuống, chợt chìm lỉm, như bị cây rừng nuốt trửng. Một con rắn nước bơi ngoằn ngoèo ngang mũi ghe và lủi mất trong mớ lá mục dập dềnh. Cậu Bảy mường tượng ra đó là con trùn khổng lồ lèn lách trong huyết quản ông thần rùa đang say ngủ.
“Ối, ta cũng không biết đó là chuyện có thật hay do người đời bịa đặt ra nữa”, giọng đạo sĩ trở nên sống động. “Ta chỉ nghe một người bạn thời trẻ kể lại thuở trước, trong một buổi họp mặt thường niên với giáo chủ, nhằm trao đổi kiến thức về dược thảo.”
Đạo Sĩ ngưng lời một chặp, rồi bật cười thú vị:
“Chú em biết không, Ấn độ giáo xứ ta cấm uống rượu, vậy mà người bạn của ta lúc nào cũng thủ sẵn bên người một loại thức uống do chính anh ta lén lút chưng cất từ gạo. Anh ta gọi đó là ‘chất cám dỗ của quỷ’. Những lúc chỉ có mình ta với anh ấy, anh cho ta uống thử. Vị của nó cay sè đầu lưỡi, nhưng kích thích đê mê đóc họng, như có ai nhen lửa, và rồi một đám cháy rượn tình lan khắp thân thể. Anh bạn nói, đó là mùi vị của địa ngục. Tuy nhiên ta cố tránh vì sợ nghiện ngập. Còn anh bạn lại uống hết ngụm nầy tới ngụm khác. Dịp đó, chính anh là kẻ đã kể cho ta nghe câu chuyện tình xứ Trung Hoa xa xôi ấy.”
Đạo Sĩ thấp giọng tuồng:
“Yan Lung là vệ sĩ của cô công chúa xinh đẹp Mai Lin. Anh lậm tình cô tha thiết, một mối tình câm nín, vô vọng. Ngày kia, cô công chúa qua đời đột ngột vì bạo bệnh. Đêm nọ, vì một nỗi thôi thúc không thể kiềm chế, Yan Lung đào xới nấm mộ cô công chúa mới lấp và hành lạc với tử thi người quá cố. Việc làm của anh ta không bị phát giác, nhưng đã để lại những biến chứng kỳ quặc trên thân thể anh. Da anh bong tróc và dương vật nổi những mụt đỏ, mưng mủ. Anh ta tìm tới thầy thuốc và tiết lộ tự sự. Nhưng ông thầy không biết cách chữa trị. Yan Lung đành chết trong đau đớn. Không rõ từ đâu, thiên hạ biết chuyện. Kể từ đó, chứng bệnh truyền nhiễm sau khi giao hợp nam nữ được gọi là Yan Mai, ghép tên hai nhân vật trong truyện.”
“Ghê quá!”, cậu Bảy chặc lưỡi. Ngẫm nghĩ giây lát, cậu cất giọng e dè: “Chứng bệnh nầy có thấy ở loài vật không ông thầy?”
“Chú em hỏi chi cắc cớ”, Đạo Sĩ đáp. “Có khi nào chú thấy một con heo nọc xà nẹo với xác chết một con heo nái chưa vậy?”, ông tủm tỉm.
Cậu Bảy bối rối ngó ông. Đầu cậu niểng qua một bên, như thể đo lường ý nghĩa và cũng để hình dung ra cảnh tượng của câu nói.
“Nhưng mà, thưa thầy”, cặp mắt cậu Bảy rực lên, “tên gọi chứng bệnh nầy nhắc tui tới một chữ tương tự mà tui đã có lần nghe nói. Đúng rồi, bệnh ‘giang mai’, phát âm y hệt.”
“Người ta đoán rằng, chứng bệnh phong tình nầy khởi phát do tiến trình thây người phân hủy, mặt khác do những điều kiện bất lợi như khí lạnh và đất ẩm ban đêm “, Đạo Sĩ cắt nghĩa. “Phần ta coi đó như là mục tiêu của đời sống mình, tìm ra một loại thuốc chữa trị căn bệnh hiểm nghèo nầy, nhằm giúp đỡ loài người”, ông thêm thắt.
Mải mê chuyện trò, không ai để ý chuyện chiếc tam bản vừa lủi vô bóng mát một ngọn bần. Dòng nước lợ của thủy triều sớm mai dâng mấp mé bờ đất bùn. Trong rừng, những luồng sáng đầu ngày đã thắp lên. Một lớp sương mỏng đắp trên đất ẩm như hơi thở ấm của vô số hồn ma bóng quế từ cõi âm lan tỏa không gian se lạnh. Đó đây vang vọng tiếng chim hót và tiếng gầm của những loài thú ẩn nấp đâu đó. Một con ác điểu xoạc cánh ngang rãnh sông, buông tiếng oang oác, như thể cảnh cáo những hiểm nguy chờ chực. Chưa lần nào trong đời, cậu Bảy chứng kiến cảnh tượng rờn rợn tuyệt vời như vậy.
“Chúng ta cắm sào nghỉ ngơi ăn sáng, rồi đi tiếp trước khi nắng nóng”, Đạo Sĩ ra lệnh và ra dấu chỉ bảo con vượn. Con thú nhún người nhảy phóc lên bờ, leo lên cành bần đơm trái xanh mướt.
Cậu Bảy lấy ra mớ lương thực gói lá chuối. Cậu đem theo mấy cái bánh ít nhưn đậu xanh ăn với muối mè, một ít chuối khô và một bình trà đựng trong vỏ dừa điếc.
“Thưa thầy, tui xin phép được hỏi chuyện nầy”, cậu Bảy cất tiếng sau khi cắn miếng bánh đầu tiên. Giọng cậu e dè, gần như lo âu.
“Ta nghe đây”, ông đạo sĩ trả lời, không ngó cậu.
“Tui… tui… má tui với tui”, cậu Bảy lắp bắp, “có ý muốn hỏi, liệu ông có thể chỉ dạy tui chyện đo… ó… được không. Hay là… ông nhận tui làm đệ tử?”
“Ta chỉ dạy chú em chuyện gì?”, người đàn ông ngẩng mặt, nhíu mày hỏi.
Cậu Bảy nuốt lẹ miếng ăn chưa nhai kỹ, hối hả trả lời, như sợ quên. “Má tui muốn nói cách thức trị bệnh đó mà, thưa thầy.”
Đạo Sĩ đưa mắt ngó đứa con trai, miệng nhai thủng thẳng. Cậu Bảy bối rối lãng tránh ánh mắt vô cảm của người đàn ông. Với cậu, dáng vẻ của người đàn ông nầy có nhiều điểm xa cách, khó gần gũi và bí ẩn. Tia nhìn từ hai lõm mắt lớn, đen như mực của ông sỗ sàng và lạnh lẽo. Vậy mà ông có thể điều khiển người đối diện bằng một từ lực huyền bí, khiến cho nhiều người phải day mặt tránh.
“Được chớ, chú em có thể học hỏi chuyện đó với ta.” Không chờ cho đứa con trai cất tiếng, ông đã tiếp lời: “Nhưng mà chú em phải một lần chứng tỏ cho ta thấy là chú hội đủ điều kiện làm đệ tử của ta”, Đạo Sĩ nhấn mạnh từng chữ một.
“Tui phải làm gì, thưa thầy?”, cậu Bảy bừng mặt bối rối.
“Rồi chú em sẽ rõ!”, Đạo Sĩ đáp. Vừa khi nghe cậu Bảy buông tiếng thở dài thất vọng, ông nói thêm: “Không có chuyện gì không được một quyền lực vô hình an bài từ trước. Người theo Ấn Độ giáo tin như vậy. Một khi mệnh phần của ta và của chú em trong đời sống nầy gặp gỡ nhau ở điểm nào đó, hẳn sẽ có lúc chú em được dịp chứng minh cho ta thấy, chú em xứng đáng trở thành đệ tử của ta. Bây giờ ta muốn có chút thì giờ yên tĩnh để ăn cho xong bữa sáng.”
Cậu Bảy lặng lẽ gật đầu, cho dù cậu không hiểu rốt ráo những gì người đạo sĩ vừa nói. Cậu thầm hỏi, mệnh phần là nghĩa gì vậy? Nó giữ vai trò gì trong cuộc sống cậu?
(07.2026)
. . . . . . . . . .
(*) Trích đoạn tiểu thuyết “Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc”, phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ “Tausend Jahre im Augenblick” – Ngo Nguyen Dung – Nhà xuất bản POP – Ludwigsburg (Germany) 2019 – ISBN 978-3-86356-247-2.