Ngày này, 31 năm về trước — 21 tháng Chín năm 1995 — tôi cùng vợ và hai đứa con cất cánh khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn, bắt đầu một chuyến đi mà suốt đời tôi không thể nào quên. Đó không phải là một chuyến du lịch. Đó là chuyến bay bỏ nước ra đi mãi mãi. Đó là chuyến bay của một gia đình vừa bước ra khỏi một cuộc đời bị giam hãm trong chế độ độc tài CS để đi tìm một đời sống khác, một cuộc sống tự do ở bên nam bán cầu cách quê cũ hàng ngàn dặm biển.

Chiếc máy bay rời Tân Sơn Nhứt, mang theo gia đình tôi và một thứ hành lý đặc biệt mà không có hãng hàng không nào ghi trong vé: ký ức của quê hương, những năm tháng sống đoạ đày dưới chế độ cộng sản, nỗi lo âu của những ngày chờ đợi và một niềm hy vọng mong manh về tương lai.

Trong túi tôi lúc ấy chỉ có vỏn vẹn 50 đô-la Mỹ. Nhưng 50 đô-la ấy đối với tôi không phải là tất cả. Điều quý giá nhứt là từ giây phút chiếc máy bay cất cánh, tôi biết mình đang rời khỏi nơi mà mình không muốn ở lại để đi tới một nơi mà mình hy vọng các con tôi sẽ có một tương lai khác.

Máy bay quá cảnh tại Manila, thủ đô của Phi Luật Tân. Manila nằm bên bờ vịnh Manila, nơi sông Pasig đổ ra biển, trên đảo Luzon. Thành phố nầy có một lịch sử lâu đời và nhiều lớp văn hóa chồng lên nhau. Từ một khu định cư Hồi giáo trước thời Tây Ban Nha, Manila trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha từ thế kỷ thứ 16; khu thành cổ Intramuros vẫn còn đó như một chứng tích của thời kỳ ấy. Sau chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ năm 1898, Phi Luật Tân chuyển sang dưới quyền cai trị của Hoa Kỳ, rồi trải qua cuộc chiếm đóng khốc liệt của Nhật trong Đệ nhị Thế chiến trước khi trở thành một quốc gia độc lập năm 1946.

Đối với tôi, tất cả những chuyện lịch sử ấy lúc bấy giờ chỉ là chuyện bên lề. Tôi đâu có tâm trí mà làm sử gia. Tôi chỉ biết mình đang ở Manila, một trạm dừng chân trên con đường đi tới Melbourne thủ phủ tiểu bang Victoria nước Úc cũng là một châu lục: Úc Châu.

Tại phi trường quốc tế Manila, một nhân viên của IOM — International Organization for Migration, Tổ chức Di dân Quốc tế — đứng chờ đón gia đình tôi. Anh ta nói tiếng Việt khá rành. Sau nầy tôi mới biết má anh là người Việt Nam, còn ba anh ta là một quân nhân Phi Luật Tân từng tham chiến tại Việt Nam.

Chuyện nầy nghe vậy mà cũng có cái duyên của lịch sử.

Phi Luật Tân từng gởi toán kính dân sự vụ tham gia cuộc chiến Việt Nam. Từ năm 1966 đến năm 1969, rồi tiếp tục hoạt động trong những năm sau đó, Manila đưa sang Việt Nam một lực lượng mang tên Philippine Civic Action Group — thường được gọi tắt là PHILCAG. Đây là lực lượng dân sự và kỹ thuật, chủ yếu hoạt động tại miền Nam, trong đó có những khu vực như Tây Ninh, Bình Dương và Long An. Những người lính Phi ấy từng sống, làm việc và chiến đấu trên chính mảnh đất mà gần ba thập niên sau, một gia đình Việt Nam như gia đình tôi đang tìm đường rời khỏi.

Lịch sử đôi khi có những vòng tròn thật lạ. Cha của người nhân viên IOM từng đến Việt Nam với quân phục; còn người con thì đứng ở Manila đón một gia đình Việt Nam trên đường đi tìm tự do.

Anh nhân viên IOM đưa cả gia đình tôi ra ngoài khu cách ly của phi trường để ăn tối. Sau bao nhiêu năm tháng cơ cực, cái bữa ăn đầu tiên trên đất khách đối với tôi cũng có một ý nghĩa đặc biệt. Tôi gọi gà chiên (vì nghĩ gà là món ăn sang như cách nghĩ hồi còn ở quê nhà), rau salad, cà chua và một ly rượu vang. Tôi muốn nâng ly ăn mừng. Ăn mừng vì cuối cùng mình cũng đã thoát khỏi cái gông cùm mà mình đã phải mang vác quá lâu.

Nhưng chuyện cái ly rượu vang lại trở thành một kỷ niệm mà mãi về sau tôi mới hiểu hết.

Anh nhân viên IOM nói với tôi rằng nếu muốn uống rượu thì phải tự trả thêm tiền. Tôi nghe vậy thì cũng chẳng nghĩ ngợi gì nhiều. Tiền rượu bao nhiêu đâu mà kể. Tôi chỉ muốn có một ly rượu để mừng ngày ra đi.

Điều làm tôi ngạc nhiên là trên bàn ăn ngoài anh ta còn có thêm một người bạn. Hai người gọi thịt bò bít-tết. Tôi nhìn người khách lạ hoắc lạ huơ ấy mà trong bụng thắc mắc: Tay nầy là ai? Tại sao tự nhiên vô ngồi ăn chung với gia đình tôi, vợ chồng tôi và hai đứa con tôi, tỉnh bơ như người nhà?

Lúc ấy tôi không biết nói gì. Mình mới ra khỏi Việt Nam, tiếng Anh chưa rành, lại đang ở một đất nước xa lạ. Thôi thì cứ ăn.

Mãi sau nầy, khi qua tới Úc, người em bảo lãnh gia đình tôi mới cho biết một sự thật làm tôi vừa tức vừa buồn cười: tiền bữa ăn hôm đó là tiền của chính gia đình tôi!

IOM đã tính vào chi phí chuyến đi. Tiền vé máy bay, tiền ăn uống và những khoản liên hệ đều là những khoản mà gia đình tôi phải trả lại sau nầy. Người em tôi đã phải mượn ngân hàng 4.500 đô-la Úc để thanh toán những chi phí ấy. Qua tới Úc, tôi phải cày cả năm trời, lãnh lương hai tuần một lần, dành dụm để trả hết món nợ.

Thì ra, cái anh IOM hôm ấy không phải lấy tiền túi của ảnh ra đãi chúng tôi!

Anh ta còn lấy tiền túi của chúng tôi đãi bạn riêng của anh ấy!

Nghĩ lại, tôi thấy chuyện hai dĩa thịt bò thật ra chẳng đáng bao nhiêu. Cái làm tôi khó chịu không nằm ở giá tiền của hai miếng beefsteak. Nó nằm ở cái cách người ta đối xử với một gia đình vừa chân ướt chân ráo bước ra khỏi Việt Nam.

Trong túi tôi lúc ấy chỉ có 50 đô-la Mỹ. Tôi không có tiền bạc, không có tài sản, không có địa vị. Nhưng tôi không đi xin ai. Tôi không quỳ lạy van xin ai. Tôi chỉ mong được sống một đời bình thường, làm việc kiếm ăn và nuôi con.

Bởi vậy, chuyện người nhân viên IOM dẫn thêm một người bạn tới ăn chung mà không nói rõ đầu đuôi, đối với tôi, trở thành một cái gai trong ký ức. Hai dĩa thịt bò chẳng làm tôi nghèo đi bao nhiêu. Nhưng cách xử sự ấy khiến tôi nghĩ tới hai chữ “liêm sĩ”. Có những chuyện tiền bạc rất nhỏ nhưng lại làm người ta nhớ suốt đời.

Đêm ấy, tôi cũng lần đầu biết tới một thứ mà sau nầy tôi mới trở thành người uống quen: rượu vang. Người ta làm vang từ nho; vang đỏ được lên men cùng vỏ nho để lấy màu và hương vị. Sau nầy qua Úc, tôi mới biết xứ sở mình đang đến cũng là một trong những vùng sản xuất rượu vang nổi tiếng thế giới, với Shiraz, Pinot Noir và biết bao loại vang khác.

Cũng từ đó tôi mới hiểu một chuyện vui vui: chai rượu vang tiêu chuẩn trên thế giới thường chỉ có 750 ml, trong khi người Mỹ đo xăng bằng gallon — một gallon Mỹ khoảng 3,785 lít. Còn dân ghiền rượu thì chẳng cần biết gallon là gì, cứ thấy chai ba lít là mắt sáng lên như gặp người bạn cũ!

Nhưng đêm Manila ấy, tôi chưa biết gì nhiều về rượu vang. Tôi chỉ biết nâng ly, nhìn vợ con và tự nhủ: “Thôi, mình đi được rồi!”

Rồi sáng hôm sau, 22 tháng Chín năm 1995, lúc khoảng 6 giờ 30 sáng, chiếc Boeing 747-400 của Qantas từ từ đáp xuống phi trường quốc tế Melbourne, tức Melbourne Airport, thường được gọi là Tullamarine.

Melbourne hiện ra trước mắt tôi trong buổi sáng đầu tiên của đời lưu vong.

Tôi đứng đó mà lòng ngổn ngang. Một bên là quê hương vừa bỏ lại. Một bên là đất nước mới mà mình chưa biết rồi đây cuộc đời sẽ ra sao. Tôi không biết mình sẽ làm nghề gì, sống ở đâu và các con mình rồi sẽ lớn lên như thế nào.

Tôi chỉ biết một điều: từ giây phút đó, Melbourne trở thành quê hương mới của gia đình tôi.

Ba mươi mốt năm trôi qua nhanh như một cái chớp mắt. Người ta nói đời người trăm năm, nhưng có những đoạn đời tưởng dài vô tận, rồi nhìn lại chỉ thấy như một giấc mơ.

Ngày tôi rời Sài Gòn, tôi mang theo 50 đô-la Mỹ.

Ngày tôi đặt chân xuống Melbourne, tôi mang theo một món nợ 4.500 đô-la Úc.

Nhưng món nợ ấy rồi cũng trả xong bằng vất vả mồ hôi. Còn món nợ với má với ba thì chẳng biết đến bao giờ mới trả được.

Ba mốt năm lưu lạc, tôi chưa một lần trở lại ngả ba Hoà Tịnh Mỹ Tho nơi má tôi xác thân đã vùi trong quê đất, nơi mình đã bỏ ra đi.

Có những chuyến đi chỉ tính bằng cây số. Có những chuyến đi tính bằng tiền vé máy bay.

Còn chuyến đi của đời tôi, tính bằng cả một đời người.

Ngày đi — tôi vẫn nhớ. Ngày về — chẳng biết đến bao giờ. Mà có thể là mãi mãi.

Trần gian chớp mắt, trăm năm mộng.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.