III

TRÊN CON ĐƯỜNG LÀNG

Tiền Vĩnh Lạc

Ranh giới làng An Nhơn từ đâu tới đâu thì ba không biết, vì hồi nhỏ ba chỉ được học địa đồ Đông Dương, địa đồ xứ Nam Kỳ, địa đồ tỉnh Gia Định. Ba không thấy địa đồ quận Gò Vắp. Chắc dân làng cũng không ai biết ranh giới làng tới đâu, mà cũng không cần biết làm chi, ở đâu biết đó là đủ rồi. Vậy làng An Nhơn ba nói đây chỉ là vùng xung quanh chợ An Nhơn, trong vòng bán kính chừng 2km, lấy Công Sở làm trung tâm.

Nhà ông nội mấy con ở sau Chùa Ông, sau chợ, gần trường học, gần Công Sở là nơi hội họp và làm việc của Ban Hội Tề. Từ nhà ra ga xe điện chừng 200 mét. Mấy con có thể hình dung qua sơ đồ ba vẽ theo trí nhớ sau đây, không đầy đủ, cũng không theo tỷ lệ:

Phía sau rạp hát và nhà ông nội mấy con là đất trống minh mông, chỉ lơ thơ mấy cái nhà lá.

Sơ đồ này chỉ cho thấy vị trí Chùa Ông, chợ, trường học, Công Sở, rạp hát, nhà ga xe điện và một số nhà cửa gần chợ. Con đường làng tráng nhựa hồi xưa, bây giờ là đường Lê Đức Thọ. Chùa Ông đã xây cất lại, đổi tên là chùa Trung Nghĩa, vừa thờ Phật, vừa thờ Ông. Lấy tên “Trung Nghĩa” hẳn là muốn nhắc đến tinh thần “trung can, nghĩa khí” của Ông, sau khi chết đã hiển thánh và phụng sự Phật Pháp.

Ngày 23 tháng Chín dương lịch năm 1945 bắt đầu cuộc Nam Bộ Kháng Chiến chống Pháp, làng An Nhơn chịu ảnh hưởng của chiến tranh rất nặng nề. Năm 1948 ba bị lính Pháp bắt, sắp bị đem bắn cùng với mười mấy người dân An Nhơn, may nhờ ông bà Phán cứu mạng. Chuyện này rùng rợn, có dịp ba sẽ kể sau. Sau tai nạn này, ba tản cư ra Sài Gòn tìm việc làm tạm sống để chờ ngày trở lại An Nhơn. Nhưng chiến tranh kéo dài, năm 1998 ba mới dọn về An Nhơn ở thì cái nhà của ông nội mấy con đã không còn. Ba mua cái nhà trong hẻm “Đại Thành Công”, ở đó sáu năm trước khi đi Úc với mấy con. Làng cũ đã thay đổi quá nhiều, người quen xưa gặp lại chẳng còn được mấy người.

Khu trung tâm làng An Nhơn ngày xưa rất thoáng: chợ, trường học, Công Sở đều cách nhau một khoảng trống có trồng cây cao bóng mát. Lại rất yên tịnh vì lúc đó ít xe cộ. Phương tiện đi lại chủ yếu là xe thổ mộ (người Pháp kêu là “boîte d’allumettes” – xe hộp quẹt), “xe máy” (tức là xe đạp) và xe điện. Phương tiện vận tải là xe bò, thường chở lúa, trấu, tro trấu (dùng làm phân bón, rất tốt), rơm, củi … Gặp xe bò trống thì học trò nhảy lên xin quá giang, đỡ đi bộ, khoái lắm! 

Trên con đường làng ít khi thấy xe hơi, ngoại trừ ngày thứ Bảy, Chủ Nhựt thỉnh thoảng có xe hơi của mấy “ông Tây, bà đầm” chạy qua. Cả làng chỉ vài người Việt Nam có xe hơi, trong số đó có ông nội mấy con. Con nít đứng hai bên đường, mỗi khi có xe hơi của Tây, đầm chạy qua thì giơ tay lên, kêu “Bông-rua bà đầm!”, mấy bà đầm ngó lại cười, cái môi không ăn trầu mà cũng đỏ lòm.

Lâu lâu nghe tiếng rồ rồ trên trời thì người lớn, trẻ con chạy ra sân, ra khoảng trống để coi máy bay. Thường là máy bay hai lớp cánh, chỉ có một chong chóng, bay rề rề. Ai nấy ngó theo, trầm trồ khen. Có một chị nhìn lên, tỏ ý thắc mắc: “Chà! Ngồi ở trển rủi mắc tiểu, mắc tiêu mới làm sao?”. Một bà sồn sồn nói: “Chắc người ta có khoét một cái lỗ!”.

Yên tĩnh quá cũng buồn, nên xe thổ mộ nào cũng tròng một cái vòng lục lạc vô cổ con ngựa, khi ngựa chạy thì lục lạc khua “reng reng” hòa với tiếng móng sắt ngựa kêu “lốc cốc” trên đường nhựa nghe cho vui tai. Đi xe thổ mộ cũng thú. Gióng gánh để lên hai vè xe bằng cây, uốn cong như dấu ngã (~), cột lại chắc chắn. Ai đi chưn không thì phủi chưn trước khi lên xe. Ai có guốc, dép thì máng ở hai cái que sắt gắn ở phía ngoài, sau thùng xe, rồi bước lên xe, ngồi lên chiếu, dựa lưng vô thành xe, cong cẳng lên, đối diện với mấy người ngồi bên kia, mặc sức mà nói chuyện. Mấy anh đàn ông thì thích ngồi phía sau xe, thòng chưn xuống như ngồi ghế, ngắm cảnh ở hai bên đường. Ba khoái nhứt là ngồi trên càng xe ngang với ông đánh xe ngựa. Khách lên đủ, ông đánh xe nẹt roi một cái “trót”, hoặc quất roi lên mui xe nghe cái “rẹt”, nhích dây cương là con ngựa bắt đầu chạy. Xe thổ mộ có chuông, nhưng khi muốn qua mặt xe máy hay muốn cho người đi bộ tránh vô lề thì mấy ông đánh xe thường đút cán roi vô bánh xe, căm xe đánh vô cán roi nghe “lắc cắc …, lắc cắc …”. Con ngựa kéo xe có biệt tài vừa kéo xe vừa … thải phân. Chạy suốt ngày, tối về chuồng lại ngủ đứng! 

Nói tới xe thổ mộ mà không nói tới xe bò là một thiếu sót. Nếu ngày nay xe lam2, xe buýt3 thay thế cho xe thổ mộ để chở khách thì thuở đó xe bò thay cho xe cam-nhông4 bây giờ. Xe bò chở nặng, phải hai con bò kéo mới nổi. Xe bò bánh lớn, có niền sắt. Bò kéo xe cũng đóng móng sắt, cho nên khi xe bò lên đường tráng nhựa thì có tiếng kêu lốc cốc của móng bò, tiếng lụp cụp của bánh sắt và tiếng leng keng của mấy cái chuông treo dưới cổ bò. “Tốc độ” xe bò khoảng 4km/giờ, đi chẫm rãi như đi bộ. Có những đám cưới nhà chú rể với nhà cô dâu chỉ cách nhau có vài cây số, lại ở trong xóm cách xa đường tráng nhựa, người ta rước dâu, đưa dâu bằng xe bò. Không mau hơn đi bộ, nhưng đỡ nắng, đỡ bụi. Xe bò cũng thải phân như xe thổ mộ, người đi bộ phải coi chừng đạp. Thuở đó nhà nào cũng trồng rau, trồng cây ăn trái nên phân ngựa, phân bò thải xuống đường đều có người hốt sạch. Mấy đứa nhỏ con nhà nghèo đi “hốt cứt bò” cầm một dụng cụ giống như đồ hốt rác ngày nay, có cán dài, để gần đống phân bò, phân ngựa rồi lấy bàn chưn mặt hất đống phân vô, dơ dáy hết sức. Cho nên cha mẹ thường nói với mấy đứa con làm biếng học: “Bây không học, nữa lớn đi hốt cứt bò!”.

Có lần ba nghe một người rầy con: “Mầy chịu đi học hay chịu nữa lớn đi hốt cứt bò?”. Thằng nhỏ vừa khóc vừa nói: “Học khó quá! Hu hu! Con chịu nữa lớn đi hốt cứt bò, hu hu!”.

Hồi ba còn nhỏ, ngoài Bắc gọi “xe đạp” thì trong Nam kêu là “xe máy”. Trong làng, xe máy cũng không có nhiều nhưng toàn là xe “bên Tây đem qua”, nhiều nhứt là hiệu Labor, Alcyon, chắc lắm, chở một trăm ký-lô như chơi. Muốn sai ai lấy xe máy đi đâu phải hỏi trước: “Mầy biết đi xe máy hôn?”.       

Phụ nữ ít đi xe máy, sợ bị người ta kêu ngạo là “đàn bà cỡi cọp!”. Thật ra đi xe máy thích lắm, mau hơn đi bộ nhiều. Đi xe máy có ít nhứt 9 điều lợi:

  1. Tầm nhìn không bị vướng, mặt tình mà ngắm cảnh.
  2. Có thể đi trên đường nhựa, đường đất, bờ ruộng, bờ ao.
  3. Nhẹ. Có thể vác qua cầu tre, cầu khỉ, vác xuống xuồng, xuống đò để qua sông.
  4. Đạp xe có lợi cho sức khỏe, có thể thay bài tập dưỡng sinh cho người cao niên.
  5. Rẻ tiền. Không cần phải có nhiều tiền mới mua được như khi sắm xe Honda, xe mô-tô, xe hơi.
  6. Không tốn nhiều tiền để bảo trì, sửa chữa, thay phụ tùng.
  7. Không tốn tiền xăng, nhớt, bảo hiểm.
  8. Không gây ô nhiễm không khí,
  9. Không gây tiếng động ồn ào, còn im hơn xe bò!      

Chỉ có điều bất tiện là phải “tập đi xe máy”, phải té vài ba lần mới đi được.

Một phương tiện giao thông khác rất tiện lợi là “xe điễn”. Đi xe điễn có nhiều điều thú vị, ba sẽ nói sau. 

__________________

2 Xe lam: xe vận tải nhẹ, ba bánh, hiệu Lambretta do nước Ý sản xuất. Tiếng máy nổ ồn lắm.

3 Xe buýt: phiên âm tắt từ tiếng Pháp “autobus”.

4 Xe cam-nhông: phiên âm từ tiếng Pháp “camion”, tức xe tải.