Chương 7

Trương Vĩnh Ký: Một Tâm Hồn Bác Học Và Ái Quốc Cô Đơn

( Trích từ Tâm Hồn Việt Nam, Tủ sách Linh Việt Hải Ngoại, do Giáo Sư Vũ Ký sao lục!).

Phạm Đình Tân

(nguồn: Quyển Tuyển Tập về “Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký” – 2005)

Ky Yeu PK 2018 - 103Sic vos non vobis. Ở với họ nhưng không theo họ.

Thơ nào cũng nói lên một nỗi cô đơn” (Toute poésie est I’expression d’une solitude). Nhà văn Francois Mauriac nhận xét rất đúng. Nhưng không phải chỉ có thi sĩ chịu cô đơn. Nhiều danh nhân cũng lẻ loi như vậy. Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký cũng ở trong số những người “phận hẩm duyên hiu” ấy. Không phải ông không sống với đời, không cộng tác với người. Trái lại, ông đã sống hăng hái, sống giữa đời, sống thân yêu với mọi người.

Chỉ có một điều khác: ông không sống theo đa số, ông không chạy theo đám đông, ông tự luyện một đời sống đặc biệt, lý tưởng, thông minh, thích ứng với tâm hồn phong phú của mình.

Người ta cố gắng học hành để đậu thám hoa, bảng nhãn, ông thông thạo 27 thứ tiếng, xuất bản trên 100 tác phẩm đủ loại bằng nhiều ngôn ngữ, được người ta bầu thứ 17[1] trong số 18 nhà bác học thế giới bấy giờ.

  • Người ta vận động để vào dân Pháp. Ông từ chối nhậpquốc tịch ngoại quốc.
  • Người ta ham mê làm quan, ông ưa thích làm nghề dạyhọc.
  • Người ta nịnh nọt mong thăng quan, tiến chức, ôngthẳng thắn góp ý kiến với nhà vua, mạnh dạn can giánkẻ bảo hộ.
  • Người ta vất vả luồn cúi để mong giàu sang, ông vuilòng giữ phận nghèo túng.

Còn gì nữa? Ông sống như thế đã đầy đủ chưa?

Thực quá đầy đủ, quá hiên ngang!

Vì vậy một số người hiểu ông, còn đa số đố kỵ, ghen ghét.

Một thế kỷ đã qua từ ngày ông từ trần, ông vẫn còn mối suy nghĩ cho các thức giả, mối bận tâm cho các kẻ bè phái thiên lệch. Người này cố gắng dựng tượng ông, lấy tên ông đặt cho trường học, gom góp các di tích của ông cho nhà nước săn sóc, bảo tồn. Người khác lại hạ tượng ông, xóa tên ông trên cổng trường học, bỏ phế nhà bảo tàng cũng như mộ phần của ông.

Tóm lại, ngày nay, đối với người ngoại quốc, ông vẫn là một tâm hồn đạo đức, thông minh, bác học, ái quốc, tiêu biểu cho một giòng giống anh hùng, trong khi đối với đồng bào mình ông vẫn còn là một hình ảnh lờ mờ không phải là một hình ảnh không mấy tình cảm. Tại sao người ta có tâm trạng như vậy ?

Trương tiên sinh sống lại hẳn cũng lấy làm buồn.

Quả thực, ngay lúc sinh thời, ông cũng đã cảm thấy nỗi cô đơn của mình. Nhưng biết làm sao được. Ông đã có một lý tưởng để theo, một tư tưởng phụng sự để tiến bước, ông không thể đi ra ngoài đường lối ấy được để theo số đông.

Tuy nhiên, ông không muốn biện bạch, không tìm cách tự bào chữa. Mãi tới lúc lâm chung, khi biết mình không còn trên trần thế nữa, ông mới gói ghém tâm sự trong bài thơ tuyệt mệnh sau đây:

Quanh quanh, quẩn quẩn lối đường quai.

Xô đẩy người vô giữa cõi đời

Học thức gửi tên con mọt sách.

Công danh rút cục cái quan tài.

Dạo hồn lũ kiến men chân bước

Bò xối con sùng chắc lưỡi hoài

Cuốn sổ bình sinh công với tội.

Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

Trương tiên sinh thực là người khiêm tốn, nhẫn nhục phi thường. Ông không muốn tự biện minh, tự phô trương học thức, công danh, sự nghiệp vì chúng có là gì đâu, chúng chỉ là:

Học thức gửi tên con mọt sách

Công danh rút cục cái quan tài

Thật đúng như thế. Thông minh và trí tuệ có tài giỏi đến đâu chăng nữa cũng chỉ ghi được tên tuổi mình vào một cuốn sách, mà cuốn sách chóng tan nát ra cát bụi. Còn công danh thì đến vua chúa hay một vị anh hùng cái thế cũng chỉ chui vào cái hòm là hết. Cho nên, ông không muốn khoe khoang làm cho người đời thêm đố kỵ, thêm ghen ghét. Và lại làm như thế có ích lợi gì, vì người xét xử công tội của ông không phải là người ở dưới trần này. Người đó là Đấng Tối Cao, Đấng mà ông thờ phượng, Đấng mà ông đã thầm gửi gấm những ý nghĩ cuối cùng trong hai câu kết của bài tuyệt mạng trên kia:

Cuốn sổ bình sinh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thừa khai

Cho nên, ông âm thầm mang bầu tâm sự ra đi. Con người chịu cô đơn đến phút cuối cùng! Và tìm sự an ủi như ông thực cũng không có mấy người nữa!

Nhưng thực ra Trương tiên sinh là ai ?

Ông sinh năm 1837 và mất năm 1898. Đó là giai đoạn giao thời của đất nước này vì người Pháp vừa tới, văn hóa Tây phương cũng ùa vào theo, người trong nước không những lo chống quân xâm lăng mà còn lo bảo vệ những truyền thống của dân tộc. Giai đoạn giao thời là giai đoạn đầy sự thử thách gay go cho kẻ đương thời. Cả hai phe cũ mới tranh nhau bước tiến, và dĩ nhiên cái mới lắm vẻ duyên ưa, lắm điều cám dỗ, kẻ không bản ngã sớm muộn cũng bị chinh phục, sa bẫy mê hồn. Cho nên, người ta nói giai đoạn giao thời là giai đoạn phân biệt kẻ ươn hèn với người chí khí, người yêu nước với kẻ xu thời, người nhìn xa với kẻ thiển cận, người sáng suốt với kẻ ngu đần.

Trương tiên sinh muốn sống biểu dương những đức tính truyền thống của dân tộc trong buổi tối sáng tranh nhau bước tiến đó. Can đảm thực hành lý tưởng, ông đơn phương đi ngược với thế trần. Ông không muốn biện minh với đời, nhưng ông đã tâm sự với những người thân tín, người trong nhà cũng như người ở ngoài. Do đó muốn hiểu ông, người ta phải tìm những thư từ giữa ông và những người thân thuộc đó.

Người ta đã khuyên ông bao lần nhập Pháp tịch để dễ đường tiến thủ, ông đã viết cho người bạn ngoại quốc Pène SIEFERT ngày 15-9-1888:

“Từ đó người ta đã viết liền cho tôi ba bức thư khuyên nhủ tôi nên nhập Pháp tịch. Tôi đã thẳng thắn từ chối:

1) Vì tôi không thay đổi ý kiến.

2) Làm như thế tôi đi ngược với nguyên tắc mà tôi đã nêu ra về sự không hợp thời cái đề nghị của vị nghị sĩ Nam Kỳ.

3) Tôi sẽ bị người ta gọi là kẻ nhu nhược: người ta sẽ bảo tôi làm vậy là sợ nguy hiểm và tránh bước khốn cùng.

4) Tôi không còn giúp ích gì cho nước Pháp, vì một khi nhập Pháp tịch, tôi mất hết uy tín ảnh hưởng của tôi, không còn bao gồm được tín nhiệm của nhà vua, của triều đình, và của dân tộc Việt Nam nữa.”

“Của dân tộc Việt Nam nữa”. Chỉ có 6 chữ này đã chứng minh lòng yêu nước của Ông. Ông không sợ gì hết, chỉ sợ mất lòng yêu thương của đồng bào mình! Lời nói và lý lẽ thấy ngay thẳng đường hoàng. Chính người Pháp cũng đã nhận đó là khôn ngoan không oán hận gì ông. Nhưng đó chỉ mới là lý lẽ mà thôi.

Sau đây mới là mối tình thấm thía, tha thiết với quê hướng đồng loại. Ông đã viết thư cho ông Đốc phủ Ca ở Hốc Môn:

“Kính thăm ông bình an sức khoẻ. Tôi có được thư ông hỏi tôi về việc vào dân Tây. Vậy tôi xin viết thư lại ít chữ mà trả lời về điều ấy cho ông hiểu rõ ý tôi.

Nhà nước Phăng-Sa có ý muốn cho dân phục cho mau càng tỏ ra nhà nước rộng rãi muốn hóa dân hoán tục. Ý nhà nước thì tốt thật, nhưng mà tôi tưởng vội quá đi, chưa phải thời, chưa nhằm thế. Xin kể sơ qua sự tiẹn và bất tiện sự lợi hại trong việc ấy cho ông nghe thì ông hiểu tức thì vì làm sao tôi không chịu vào dân Tây:

1) Tôi lấy sự ấy làm trái lý tự nhiện không ăn thua vào đâu, cũng như là truyện đời xưa bên Tây: con sáo mượn lông con công giắt vào mình “Le geai paré des plumes du paon” của La Fontaine, rồi nhẩy vào bầy công. Xênh xang rất lấy làm vênh vang hãnh diện. Cách ít lâu, bầy công đi đâu không dè liền xúm lại cắn, rút nhổ lông công đi, đánh cò bơ cò bất xơ xác đuổi đi.

Túng thế mới lộn về với bầy cũ của mình. Bọn nó biết vì kiêu ngạo muốn đánh bầy với công là giống sang, giống trọng hơn mình nên khi nó lỏn lẻn trở về thì cả bọn ra xua đuổi cắn xé tơ bơ tất bất … Truyện thêm rằng: “In tua telle propria quiesce” mày hãy ở yên trong cái da của mày, nghĩa là trời sinh ra mày làm sao thì hãy cứ phận riêng mày ở mà thôi.

Thật như vậy, không lý trời sinh ra tôi là con quạ, bây giờ biểu tôi thì một hai nói tôi là con cò làm sao đặng? Nên là điều trái sự tự nhiên hết sức.

2) Đặng một bên, mất một bên, lợi thì ít mà hại thì nhiều”.

Đó là tất cả tâm sự của Trương tiên sinh về vấn đề nhập Pháp tịch. Phải chăng ông đã nghiền ngẫm lâu ngày bài thơ ngụ ngôn “Sáo mượn lông công” của La Fontaine viết trước ông trên hai thế kỷ mà nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch như sau:

Công đổi lông, sáo liền nhặt lấy,

Đem lông mà cắm bậy vào mình.

Cùng công đi diện vung vinh,

Coi trong bộ tịch cố tình khoe khoang.

Đàn công thật biết chàng giả mạo,

Xúm nhau vào báng nhạo một phen.

Đánh cho một trận huyên thiên,

Mổ cho trụi đến lông đen của mình.

Sáo bây giờ nghĩ tình đồng loại,

Về bọn nhà chúng lại đuổi đi.

Gẫm xem trong bọn văn thi,

Biết bao tài mượn, thiếu chi tá gà.

Dầu thế vậy đây ta mặc sức,

Nói làm chi cho cực lòng người.

Phải chăng chính vì câu kết này: “Dầu thế vậy, đây ta mặc sức. Nói làm chi cho cực lòng người”, và cũng vì lòng bác ái và “phận mình mình biết, phận mình mình hay” mà Trương tiên sinh không một lời phê bình người nọ, chê trách người kia, dẫu họ bỏ quốc tịch để theo ngoại quốc, ông chỉ biết sinh ra là người Việt Nam thì sống chết vẫn là người Việt Nam! Gương mẫu ấy có đáng cảnh tỉnh bao tâm hồn vọng ngoại giờ đây?

Nhiều người vẫn tự hỏi sao Trương tiên sinh hồi ấy được đắc dụng như kia mà không ra làm quan, chỉ giữ nguyên chức giáo sư, dạy cả người Việt lẫn người Pháp. Bức thư sau đây đã trả lời thắc mắc đó:

“ Tôi có được thư anh hỏi sao không làm chức chi, như phủ, huyện, đốc phủ với người ta lấy danh chơi ? Nhân anh có hỏi tôi mới xin thưa đỡ lời anh.

Trước hết cám ơn anh có lòng tử tế nghĩ tình mà nhắc bảo. Song tôi trộm xét theo ý riêng tôi: tôi tưởng chẳng cần chi, tôi nghĩ rằng làm huyện, làm phủ mặc dầu, cũng ở dưới tay người ta, người ta sai cắt hành hạ, tánh tôi không chịu được. Lại dẫu có làm thì nay phủ huyện tràn đồng, ai nấy làm qua buổi, mà mình có làm thì muốn phụng sự cho trọn theo chức phận thì chói che ông ấy, mình riêng một mình một thế cũng khó mà làm buông xuôi, theo mọi người thì lại hổ phận mình, lãnh chức mà chẳng làm theo chức phận. Chi bằng sẵn làm ông thầy dạy học, lại dạy cả các quan Tây, dầu sao cũng là ông thầy các quan .

Không phải phục tùng ai … kỳ trung làm được ông thầy này thôi, vậy là thiệt vinh hơn hết.”

Chỉ một bức thư nầy cũng đã chứng tỏ tâm hồn Trương tiên sinh là một tâm hồn sâu sắc, cao đạo, chỉ muốn phát huy mang cái đặc tính của con người là “linh hồn vạn vật”.

Ông cũng đã viết thư cho một người bạn thân là bác sĩ Chavanne về vấn đề này:

“Tháng tư vừa qua tôi có qua thăm Vọng Các, bây giờ đã trở về rồi và hiện nay tôi đang dạy ngôn ngữ và văn học Trung Hoa, Cao Mên cho người Tây Phương. Hiện nay tôi chỉ có được nhận một nhiệm vụ duy nhất đó mà thôi. Tôi đã ngậm miệng và bưng tai trước những vấn đề nói trên. Không một danh vọng hiển hách gì có thể lôi kéo tôi được nữa. Tôi đã chán ghét những thứ đó dù rằng nó cám dỗ mạnh mẽ vô cùng, nó không còn mùi của con heo đã làm thịt. Và tôi đã dự định vào cuộc đời ẩn dật cũng chẳng khác nào xa lánh sao Mộc tinh cùng các vị sao lân cận”.

Trương tiên sinh thật là người khôn ngoan, cao thượng. Làm quan dầu có tiếng nhưng phải cúi luồn. Làm thầy dầu đầu bạc nhưng vẫn thanh nhàn! Hơn nữa còn được làm thầy của quan lớn, nhỏ!

Một nhà thơ Việt Nam, cũng đã ngồi cao trên bước thang danh vọng, nhưng vẫn quyến luyến nghề dạy học và đã ca tụng nghề thanh đạm của nhà giáo như sau:

Trầu một vài tuần nhai bỏm bẻm,

Thuốc dăm ba điếu hút phì phèo.

Ai về nhắn nhủ cô bây biết,

Tớ chẳng phong lưu, cũng chẳng nghèo!

(Nguyễn Khuyến)

Không những không phong lưu, mà cũng không nghèo túng, không phiền luỵ đến ai và cũng không ai phiền luỵ đến mình. Cái thú vui của nhà giáo là như thế!

Chính Nguyễn Khuyến tiên sinh cũng đã mượn lời Gái góa để từ chối ra làm quan với Pháp và triều đình:

Chàng biết gái nầy là gái góa,

Buồn nằm suông, suông cả áo cơm.

Khéo thay cái mụ tá ơm,

Đem chàng tuổi trẻ ép làm lứa đôi.

Chàng tuổi trẻ chơi bời quên nhọc,

Gái già nầy sức vóc được bao!

Muốn sao mà chẳng được sao,

Trước tuy xum họp sau nào được lâu.

Lấy chồng vốn nhờ câu ăn mặc,

Chẳng ngờ rằng đói rách hỗ ngươi.

Vốn xưa cha mẹ dặn lời,

Tu bôn chi để kẻ cười người chê.

Mụ hỡi mụ thương chi thương thế,

Thương thì hay, nhưng kế chẳng hay,

Thương thì gạo vải cho vay,

Lấy chồng thì gái già nầy xin van!

Hẳn Trương Vĩnh Ký tiên sinh cũng một tâm sự như trên nên ông không chịu ra làm quan. Đã vậy ông không chạy theo của cải nữa. Ông đã viết thư cho bạn bè như sau:

“Các ông hỏi tôi làm sao không lo về phần của cải, sao không mua đất, sắm ruộng kiếm tiền bạc mà tiêu dùng. Tôi xin cảm ơn các ông cách riêng vì các ông có lòng thương mà nhắc bảo, kẻo việc trời đất về sau nắng mưa thuận nghịch thế nào chưa biết mà lâm vận rủi to thì rất khổ.

Thật thì ai cũng lo về sau nhưng mà xét cho cùng mà coi thì cũng chẳng nên lo cho quá làm chi. Vì vạn sự bất do nhân kế giảo, nhứt sinh đô thị mạng an bài. Chi bằng ý thực tùy duyên tự nhiên khoái lạc : có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít thì đươc vui vẻ yên lòng, yên trí . . .

Lại tôi xét ơn trên đã cho mình con cái cháu chắt đã nhiều, danh tiếng chức quyền cũng phủ phê mọi bề mà vì “nhân vô thập toàn” không có ai trọn vẹn cả mười phân hết cho được thì mình phải có một cái thiếu là đàng tiền của. Phỏng như trời có cho được dễ dàng tiền của thì tôi hư đi chẳng sai.

Vì vậy nên tôi không đem lòng ao ước cho được tiền của cho nhiều. Cao chạy xa bay cũng không qua được khỏi trời ! Duyên phận chừng ấy thôi chẳng dám cương cầu. Trong bụng nghĩ sao nói làm vậy cho các ông biết !”

Tâm hồn chân thật, ý nghĩ hiên ngang của Trương tiên sinh đã bộc lộ trong bức thư trên đây. Quan chức không ưa, danh lợi không quí, ông cũng không thiết ở lại triều đình cho thêm bận trí.

Ông đã tâm sự điều này với những người thân tín:

“Ông đã viết thư mà hỏi tôi tại sao không vùng vẫy đường danh lợi, từ đám công danh đi mà không chịu làm nữa . . .

Ở đời xử đám công danh là khó lắm, đua trường danh lợi là hiểm nghèo lắm : một là nên, hai là hư, mà hư thì thường thường nhiều hơn: hễ mê, hễ đắm, ham hố quá thì làm sao cũng phải mắc chẳng sai. Vì vậy, tôi bắt chước Trương Lương dụng trí “Minh triết bảo thân” là lo xét coi vội nhắm chừng chỉ biết đường tấn thối mới rút mình ra khỏi bẫy được.”

Thế là tất cả tâm sự của Trương tiên sinh đã được bộc lộ qua bức thư trên đây. Tâm sự đó thế nào? Nó biểu dương một tâm hồn Việt Nam trong buổi giao thời; buổi đầy sự cám dỗ thử thách, gian lao. Tâm hồn đó đã gói ghém trong câu La-tinh mà tiên sinh thường đọc cho mọi người nghe như là câu châm ngôn cho suốt đời mình: “Sic vos non vobis” (Ở với họ nhưng không theo họ).

Ở với họ nhưng không theo họ! Quả thật Trương tiên sinh đã giữ đúng cái lý tưởng nầy. Ông sống giữa buổi giao thời, nhưng ông không xu thời !

Sống giữa đời ham danh lợi, ham giàu sang, ông chọn nghề dạy học, viết sách làm vui, cố gắng phát huy văn hóa và tinh thần khinh vật chất, chỉ lo lắng trau dồi kiến thức, tu luyện đạo nhân, không màng công danh phú quí, không sợ người ta đố kỵ, nghi nan. Đó thực là một tâm hồn can đảm, nhẫn nhục, một tâm hồn mà thi sĩ Nguyễn Công Trứ đã mô tả trong một bài thơ bất hủ của ông :

Ăn ở sao cho trải sự đời.

Vừa lòng cũng khó hả rằng chơi.

Nghe như chọc ruột tai làm điếc.

Giận dẫu căm gan miệng mỉm cười.

Bởi số đi đâu cho khỏi số.

Lụy người nên phải nỗi chiều người.

Mặc ai chớ để điều ân oán.

Chung cục thì chi cũng bởi trời.

Một tâm hồn như thế, mấy ai hiểu nổi, mấy ai dám nhịp bước đồng hành. Trương tiên sinh cô đơn, lẻ loi là vậy!

****

Ở đầu thế kỷ nầy, nhà văn thần bí André Suarès đã nhắn nhủ đồng bào ông:

“Không có một vị Tổng Giám Mục hay một nhà bác học trứ danh nào không tin có Đấng Tối Cao, nhưng mỗi người tin theo một cách, nhà bác học tin bằng chiêm-ngắm sự bác học của mình, còn vị Tổng Giám Mục nhìn Tòa Tổng Giám Mục của ông.” (1)

Thật đúng như vậy và trường hợp của Trương Vĩnh Ký tiên sinh là một trường hợp điển hình. Ông biết ông là người thông thái, có kiến thức nhiều, từ tư tưởng đến hành động đều vượt ra ngoài khuôn sáo của người đồng thời. Nhưng không vì thế mà ông tự kiêu, hãnh diện hay lưu tâm đến những đố kỵ, ghét ghen. Ông chỉ lo làm bổn phận con người, một con người công dân yêu nước.

Ông cam chịu làm người cô đơn, làm người ít người hiểu nổi vì ông nghĩ sự nghiệp của ông sau nầy chỉ phải tường trình trước mặt Đấng Tối Cao, Đấng duy nhất xét xử ông, luận công, định tội cho ông. Vì vậy, mãi đến giờ phút cuối cùng, ông mới viết bài thơ tuyệt mạng trên kia để ai hiểu được thì hiểu, không hiểu được thì ông cũng chẳng bận tâm.

Phải chăng, về lòng yêu nước, ông đã muốn theo bước Trương Lương đời nhà Hán, nên ông đã viết hai câu kết sau đây trong bài Phú Trương Lương của Ông:

Đường tiến thoái như gương nhật nguyệt, bàn chi kẻ phải, người chăng,

Nghĩa thủy chung vẹn ước sơn hà, mới biết mưu thậm cả.”

(Muốn hiểu rõ sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký, hãy đón đọc cuốn : “Trương Vĩnh Ký, nhà ái quốc và bác học cô đơn” in tiếp trong Tủ sách Tinh-Việt hải Ngoại.)

(1) Il n’est pas un archevêque ni un savant illustre qui ne croit à la Providence, chacun de son côté, le savant en contemplant sa science et l’archevêque en regardant son archevêché. (André Suarès, Pensées du Dr. Willians Makepeace Bruce).__


[1] Hạng thứ 17 trong danh sách 18 nhà bác học thế giới chỉ là xếp tên của họ theo thứ tự a,b,c… mà thôi.