Chương 19

Thử Làm Sáng Tỏ Một Vài Ngộ Nhận Về Nhà Bác Học Petrus Trương Vĩnh Ký

Lê Hoàng Liên và Một nhóm cựu học sinh Petrus Trương Vĩnh Ký – California, 2005

(nguồn: Quyển Tuyển Tập về “Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký” – 2005)

1. Dẫn Nhập: Khó khăn trong việc phê phán một nhân vật lịch sử

Ky Yeu PK 2018 - 103Nhận xét phê-bình một người thường đã khó khăn, phê phán một nhân vật lịch sử lại càng khó khăn gấp bội, vì tính chủ quan của con người và thời gian tính. Tính chủ quan của con người, tâm lý chung của người đời được gói ghém trong hai câu ca dao sau đây:

“Thương thì trái ấu cũng tròn

Ghét thì bồ hòn cũng méo”

Đừng quả quyết “Không, tôi không chủ quan, tôi hoàn toàn khách quan!” Bạn nói như thế tức là bạn chủ quan rồi đấy. Một người bạn gọi điện thoại nói ba điều bốn chuyện, rồi bắt qua chuyện “chuyến đi Mỹ sắp tới của thủ tướng Phan Văn Khải”.

Thế là chúng tôi cải nhau một trận. Ai là người trong hai chúng tôi chủ quan, ai khách quan? Bởi thế, kinh nghiệm cho biết, trong một cuộc họp cần tránh không nên bàn đến hai vấn đề Chính trị và Tôn giáo, dễ cải nhau lắm. Nếu tôi quả quyết là tôi khách quan thì là chủ quan rồi đó. Rõ ràng là như vậy.

Trở lại trường hợp của nhà Bác học Petrus Trương Vĩnh Ký. Ông chỉ bị phê phán trong giai đoạn giao thời khi người Pháp vừa đặt chế độ thuộc địa và bảo hộ mới đầu ở Nam kỳ và sau đó khắp Trung kỳ và Bắc kỳ do thành phần cực đoan chủ chiến.

Và trong giai đoạn trước và sau năm 1975. Do ai và vì sao? Chúng ta sẽ dành phần làm sáng tỏ vấn đề trong đoạn sau.

Thời điểm phê bình cũng có một vai trò quan trọng không kém. Một sự kiện lịch sử, một thái độ, một hành động lịch sử cần phải có một thời gian nào đó để được kiểm nghiệm qua hậu quả của nó, qua tài liệu thu thập được chung quanh và những điều liên quan đến chúng. Ở đây chỉ đề cập đến thời gian tối thiểu cần thiết, còn thời gian tối đa thì đôi khi không chừng, 10 năm, 50 năm, hay cả trăm năm…

Cũng có khi phê phán sớm quá thì e bất cập, vội vã. Còn phê phán quá trễ đôi khi đâm ra không rõ ràng, phải trái lẫn lộn, có khi bị các thành kiến, thiên kiến, chia chát quyền lợi và ngay cả chính trị.

Tài liệu tra cứu, minh chứng sự kiện, thái độ, hành động rất cần để đưa đến nhận định đứng đắn, thì đôi khi lại rất thiếu thốn, nhất là trong trường hợp Việt Nam, hoặc trong tình trạng nhiều xáo trộn, tài liệu bị mất mát, tiêu hủy. Một học giả đáng kính, giáo sư đại học, trước đây khi còn ở trong nước đã từng lên tiếng chỉ trích Ông Petrus Trương Vĩnh-Ký, và lôi kéo theo một số môn đệ của ông. Nhưng gần đây, trong một cuộc phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Pháp Quốc Hải Ngoại (RFI: Radio Fran¢aise Internationale) đã công nhận sự sai lầm của mình và ngỏ lời xin lỗi gia đình Ông Petrus Trương Vĩnh Ký nói riêng và nhân dân miền Nam nói chung!

Nguyên nhân của việc sai lầm này là vì trong nước thiếu tài liệu tra cứu, cho đến khi được sang Pháp mới tìm được những chứng tích chính xác cho nhận định của mình tại các văn khố và Thư viện Quốc gia Pháp. Do đó một nhà phê bình lịch sử, ngoài việc “công minh, chánh trực”, không vì quyền lợi, vì áp lực mà bẻ cong ngòi bút, còn bị lệ thuộc vào yếu tố thời gian và tài liệu tra cứu cần thiết.

Trên đây mới chỉ liệt kê ba yếu tố chính ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề đánh giá sự kiện, hành động, nhân vật lịch sử.

Còn một số yếu tố khác cũng cần phải chú ý đến như là hoàn cảnh cá nhân, gia đình, bối cảnh lịch sử của đất nước, của dân chúng, của thế giới.v…v. Tất cả mọi yếu tố, mọi khía cạnh không ít thì nhiều, ảnh hưởng đến thái độ, hành động, biến cố đều cần được cứu xét một cách cẩn trọng trong khi phê phán.

Xin trở lại trường hợp của Nhà Bác học Petrus Trương Vĩnh Ký. Người xưa có câu:“Đậy nấp quan tài lại mới biết hay hay dỡ.” Ông Trương Vĩnh Ký mất năm 1898, đến nay đã hơn một thế-kỷ. Thiết tưởng khoảng thời gian này cũng tương đối đủ để chúng ta có thể cùng nhau thử làm sáng tỏ một vài ngộ nhận về Ông.

Chúng tôi không dám chủ quan, tuyệt đối quả quyết việc làm của mình là đúng; và sẵn sàng đón nhận sự góp ý và phê phán của quý độc giả.

2. Ngộ nhận thứ nhứt: Ông Petrus Ký có quốc tịchPháp?

TrungHocPetrusTruongVinhKy-SaiGon

Trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký với câu đối trước cỗng trường cổ vỏ cho một nền giáo dục hài hòa, vừa bảo tồn đạo đức, luân lý cổ truyền của dân tộc, vừa hô hào theo học văn minh khoa học Âu tây đúng như chủ trương của nhà Bác họcPetrus Trương Vĩnh Ký:

“Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt

Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm”

Đây là một trong những ngôi trường lớn nhất có tiếng tăm nhất ở miền Nam đã đào tạo phần lớn nhân tài cho đất nước Việt Nam Cộng Hòa. Vì hiểu nhầm về vai trò và sự nghiệp của Ông Trương Vĩnh Ký, nhà nước đã hạ tượng Ông Petrus Ký, hạ bảng hiệu trường và bỏ tên đường Trương Vĩnh Ký. Ngoài ra, một số người còn đổ trút trên đầu Ông Petrus Ký những tội tày trời như phản động, bán nước, tay sai, có quốc tịch Pháp v.v.

Tuy vậy, cũng không được yên: có dạo, mồ mã ông ở Chợ quán bị cạy lên, khuôn viên nhà thờ làm tụ điểm bán rượu, đỉ điếm, phóng uế bừa bãi. Nay tình trạng này không còn nữa.

Vì ngôi trường có tên “đáng ghét” này tọa lạc trên vùng quận 5, nên tình cờ tác giả được nghe lời phát biểu thiếu đứng đắn của một viên chức quận này như sau:“Hắn là một tên Việt gian, các anh không thấy tên Tây của hắn hay sao?

Có người cho rằng khi mới nhập quốc tịch, ông Petrus Ký có tên là Key (Petrus Key), sau đổi lại là J.B. Petrus Ký, còn J.B. là gì thì họ không giải thích được:“có lẻ là dấu hiệu nhận nhau do người Pháp đặt cho Ông khi Ông hợp tác với Pháp (!)”. Những kẻ có ác ý gán ghép đại cho ông như vậy.

Sự thật thì gia đình ông Petrus Trương Vĩnh Ký theo đạo Thiên Chúa giáo lâu đời, qua nhiều thế hệ, chứ không phải chỉ có ông mới bắt đầu theo đạo. Jean Baptist là tên thánh khi ông được rửa tội. Petrus được đặt thêm khi ông chịu phép thêm sức.

Tên Pháp tương đương với Petrus là Pierre, tiếng Anh là Peter. Như vậy tên ông vừa thế tục vừa tôn giáo là Petrus Jean Baptiste Trương Vĩnh Ký. Khi chúng tôi là học sinh trường Petrus Ký thì thầy chúng tôi thường nhắc nhở chúng tôi: PETRUS là tên thánh, tiếng Latin, trên chữ E không có dấu sắc. Petrus không phải là tên Tây.

Ông Petrus Ký không chấp nhận gia nhập quốc tịch Pháp. Đây là một quyết định sắt đá, cương quyết, có cân nhắc đứng đắn. Trong một đoạn thư ông viết cho Pène Siefert:“Người ta có viết cho tôi ba lá thư liên tiếp khuyên tôi vào quốc tịch Pháp (những người quan tâm đến số phận của tôi). Tôi cương quyết từ chối vì tôi không bao giờ thay đổi ý kiến và lập trường. Một khi nhập quốc tịch Pháp, tôi sẽ mất tất cả uy tín, mất tất cả ảnh hưởng, từ nay không còn sự tín nhiệm của nhà vua, của triều đình và của dân tộc An Nam.”

Thật ra việc từ chối và cương quyết không nhập quốc tịch Pháp là một quyết định tối quan trọng trong cuộc đời của ông vì nhiều lý do:

  • Ông mất rất nhiều quyền lợi khi không nhậpquốc tịch, những quyền lợi mà rất nhiều ngườitham muốn nhất là những tay sai đắc lực cho Pháp như Hoàng Cao Khải, Tôn Thọ Tường, ĐổHữu Phương…
  • Người Pháp nghi ngờ sự thực tâm của ông khilàm việc với họ mà không gia nhập quốc tịch vàtrên thực tế họ cũng có những biện pháp đối vớiông (như cúp lương, ngưng trợ cấp, không giahạn hợp-đồng, cấm không cho ông ra Trung Kỳvà Bắc Kỳ sẽ nói rõ hơn trong phần sau)
  • Suốt đời ông luôn luôn mặc quốc phục khănđống áo dài, không mặc Âu phục mặc dầu làmviệc cho Pháp. Con ông ông vẫn đặt tên theongười Việt không Tây U gì hết: Trương VĩnhThế, Trương Vĩnh Viết, Trương Thị Tư…Trướckhi mất, ông còn căn dặn các con là không nhậpPháp tịch và hợp tác với Pháp.

 

3. Ngộ nhận thứ hai: Kính Chúa là phản quốc?

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký bị người đương thời phê phán một phần cũng vì ông theo đạo Thiên Chúa. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì đạo Thiên Chúa là cái gì quá mới mẻ đối với đất nước chúng ta nói riêng, và các nước Đông Phương nói chung, có những đức tin, tập tục, nghi thức khác hẳn với Tam giáo Nho, Phật và Lão của chúng ta. Cụ Nguyễn Đình Chiểu đã có câu:

“Thà đui mà giữ đạo nhà

Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”

Triều đình đã có lệnh cấm và nghiêm trị những ai theo đạo và tai hại hơn cả là có những vị linh mục, cố đạo người ngoại quốc hợp tác (đúng ra là đòi hỏi những điều khoản trong hiệp ước để bênh vực và bảo vệ giáo dân và giáo sĩ) với các đạo quân xâm lăng! Vậy theo đạo là phản quốc! Người theo đạo Thiên Chúa bị lùng bắt, phải trốn tránh và đôi khi có những phản ứng dựa vào thế lực của quân đội viễn chinh để tự vệ, để bảo toàn tính mạng và gia-đình, hoặc ngay cả hợp tác với kẻ thù.

Chúng tôi không dám đề cập đến tất cả những người theo đạo Thiên Chúa trong giai đoạn này, mà chỉ xin mạo muội trình bày trường hợp đặc biệt của ông Petrus Trương Vĩnh Ký mà thôi. Việc ông theo đạo cũng như làm việc với các giới chức quân sự và hành chánh Pháp, gần như là do định mệnh, nói một cách khác cuộc đời của con chiên theo Chúa đã được an bài trước (đó là thuyết định sẳn trước – predestination), mặc dù ông đôi khi (hoặc nhiều lúc) cố chống lại. Trong bài thơ cuối đời (Tuyệt bút), hai câu đầu ông viết:

Quanh quanh quẩn quẩn cuối đường quai

Xô đẩy người ta giữa cuộc đời!”

Nguyễn Du trong đại tác phẫm Kim Vân Kiều cũng đã viết:

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”

Nếu tin ở số mạng, nhân sinh “nhất ẩm nhất trác giai do tiền định” thì trường hợp của ông Petrus Trương Vĩnh Ký quả đúng như vậy. Ông sinh ra trong một gia đình đạo dòng, thì ngay từ nhỏ đã nhận bí tích rửa tội, rồi bí tích thêm sức. Ông có góp phần lựa chọn gì đâu.

Viết đến đây chúng tôi nghĩ đến hoàn cảnh của hai người bạn thân của chúng tôi. Cả hai người đều theo đạo Phật, hay nói rõ ra là thờ cúng ông bà. Một trong hai có người con gái gả lấy chồng, bên chồng theo đạo Thiên Chúa. “Chúng thương nhau thì mình gả chớ ngăn trở tội nghiệp con. Bây giờ có cháu, bên chồng muốn các cháu theo đạo. Mình trót thương con thương cháu, thôi thì cũng bằng lòng cho xong việc của con mình!”.

Ông bạn thứ hai thì trái lại: ông ấy có con trai, bên vợ nó theo đạo, có cháu ông không cho nó rửa tội. Ông bảo: “nó có tội gì đâu mà rửa.” Đợi đến khi cháu được 18 tuổi, biết suy nghĩ, biết lựa chọn rồi tùy nó.

Xin trở lại trường hợp của ông Petrus Trương Vĩnh Ký.

Định mệnh giáng cho ông đòn thứ hai: đó là thân phụ ông, ông Trương Chánh Thi, mất khi ông mới 3 tuổi. Gia-đình ông lâm vào cảnh mẹ góa con côi, năm lên năm ông được linh mục Tám nuôi vì đã chịu ơn cha ông, năm 11 tuổi được linh mục thừa sai Long (tên Việt của một linh mục người Pháp) cho theo học trường đạo rồi sau đó được đưa sang học ở trường Pinhalu (Cao Miên) học xong cấp trung học, ông được chọn với 2 học sinh tốt nghiệp cao nhất sang học ở Giáo hoàng Học viện ở đảo Penang (Malaysia). Chắc chắn là các linh mục đều có chủ tâm đào tạo ông Petrus Ký thành Linh mục vì theo chỗ chúng tôi được biết, đối với các gia-đình theo đạo Thiên Chúa, việc con cái được phong linh mục là một vinh dự lớn cho gia đình. Nhưng riêng đối với ông Petrus Ký thì ông đã có những nỗ lực riêng để “xây dựng cuộc sống của riêng mình”, nếu không muốn nói là chống lại thuyết định-sẳn trước như đã nói ở trên.

Việc thứ nhất là ngoài chương trình học đạo, với tư cách thông minh đỉnh ngộ, nhờ tiếp xúc với các sắc dân khác trong các Trường đạo, ông đã nỗ lực học nhiều ngoại ngữ Đông phương cũng như Tây phương, manh nha cho thấy ông muốn tìm một hướng đi cho riêng mình, để rồi sau này có dịp đi Âu châu, ông nghiên cứu văn học văn hóa Âu Tây, tiếp xúc với các nhà khoa-học, các danh nhân thi sĩ, các vị trong Hàn lâm viện…như Paul Bert, Victor Hugo, Littré, Renan v.v. tiếp xúc làm quen, mở rộng tầm mắt, tiếp thu văn minh, văn hóa, tư tưởng, khoa học… của Âu Tây, chuẩn bị cho sự nghiệp văn hóa, văn học của ông sau này.

Hai biến cố khác cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc chuyển hướng cuộc đời của ông là thân mẫu ông qua đời và việc Pháplang-sa đem quân sang đánh ở Việt Nam.

Thân mẫu ông mất năm 1858, lúc ông mới 21 tuổi. Nhận thấy ông là một chủng sinh xuất sắc, nhiều triển vọng, nhiều người nhất là các thầy dạy ông tại các chủng viện, khuyến khích ông nên sang La Mã học tiếp để được thụ phong linh mục, nhưng ông từ chối và trở về quê hương để chịu tang mẹ. Đây là một việc chẳng những tỏ lòng kính yêu thân mẫu mà còn thể hiện tinh thần bảo tồn văn hóa dân tộc: một chủng sinh Ki-tô giáo đang học tại trường đạo, nghe tin mẹ mất, bỏ học bỏ thi về quê cư tang như nho sinh Lục Vân Tiên trong tác phẫm cùng tên của cụ Nguyễn Đình Chiểu.

Cha mất, mẹ mất ông là rường cột của gia-đình, nên quyết định không trở qua Penang. Linh mục Bellereaux (Cố Long) mời ông vào tu viện Cái Nhum dạy tiếng Pháp và tiếng Latin, và cũng đề nghị ông sang La Mã tiếp tục học đạo. Thời gian này là thời kỳ vua Tự Đức ra dụ cấm đạo, tu viện Cái Nhum bị đốt, ông phải trốn lên Chợ Quán, gặp người thầy cũ là Giám mục Dominique Lefèbvre lại đề nghị ông sang La Mã, nhưng một lần nữa ông lại từ chối sự sốt sắng giúp đở của người thầy cũ.

Ông lại được giới thiệu làm thông ngôn cho người Pháp. (sẽ nói ở đoạn sau)

Như vậy về đường học đạo Ông Petrus Trương Vĩnh Ký là một người tu xuất, nhưng về đường hành đạo thì ông là một tín đồ thuần thành. Dù thế trong suốt cuộc đời của ông cũng như qua hàng trăm tác phẩm của ông để lại, chúng ta không thấy ông giảng dạy hay phổ biến, truyền bá đạo Ki-tô. Chỉ có thỉnh thoảng trong thư từ riêng tư, gởi cho gia đình ông mới đề cập đến việc cầu xin “Chúa và Đức Mẹ”. Giáo sư Nguyễn văn Trung có trích dẫn một đoạn thư đề ngày 16-7-1886 của ông gởi từ Cơ Mật viện cho gia-đình:

“Mẹ con cùng cả nhà bình an mạnh khỏe? thôi mình có lòng ngay chúa cũng phù hộ chẳng bỏ đâu mà sơ…”

Nhưng suốt đời, ông đã thể hiện tấm lòng Mến Chúa Yêu Nước của ông. Sau này, nhóm trí thức công giáo tiến-bộ Miền Nam trong đó có các Giáo sư Nguyễn văn Trung, Lý Chánh Trung cổ võ Phong Trào Công Giáo Tìm Về Dân Tộc với khẩu hiệu KÍNH CHÚA YÊU NƯỚC, điều mà ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã làm trước đó cả thế kỷ.

Ông Petrus Ký là một nhà nho, hành xử công minh chánh trực: không vì mình là người công giáo mà bênh vực cho người Ki-tô giáo.

Trong báo cáo gửi cho Đô đốc Duperré thống đốc Nam Kỳ (Rapport à l’Amiral Duperré – sau khi ông được ra Bắc năm 1876 mà ông có viết một quyển Voyage du Tonkin 1878 – dịch ra là Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi) về những vụ nổi dậy của dân chúng miền Bắc mà ông qui trách nhiệm cho những người công giáo (ám chỉ Linh Mục Trần Lục mà tục gọi là cố Sáu) và tham quan ô lại. Đây là một báo cáo hoàn toàn bất lợi cho chính quyền Pháp vì họ hay bị gán là ủng hộ thành phần giáo dân; nên ông Petrus Ký bị nghi ngờ là có liên quan đến các cuộc nổi dậy nói trên và có lúc ông bị cấm ra Bắc!

Ngoài ra, trong sách học về Lịch sử Việt Nam (Cours d’ Histoire Annamite) ông còn tỏ ra “bênh vực” việc cấm đạo và người lương (người không có đạo Thiên Chúa), ông cho rằng một số người công giáo vẫn có lỗi:

Người Việt đâu có thù ghét đạo Thiên-Chúa. Họ chỉ bất bình phản đối những hành động quá lố của một số linh mục ỷ vào quân đội và chánh quyền Pháp mà có những hành vi ngạo ngược. Xét cho cùng đạo Phật và đạo Thiên chúa có khác gì nhau đâu…

 

4. Ngộ nhận thứ ba: Hợp tác với Pháp là phản quốc?

Thế là với cái chết của người mẹ và trước việc Pháp đem quân đánh Nam kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã có một quyết định hết sức quan trọng: đó là không tiếp tục theo học đạo để trở thành linh mục, không tiếp tục theo con đường đạo, mà ra đời đi làm, hoạt động để lo cho gia-đình và cứu dân cứu nước trong cảnh dầu sôi lửa bỏng. Một lần nữa chúng ta thấy định mệnh đã đưa đẩy ông vào con đường hợp tác với Pháp chỉ vì ông là người theo đạo và biết nhiều ngoại ngữ.

Nói một cách tổng quát, trước sự xâm lăng ồ ạt của liên quân Pháp và Y Pha Nho, ông Petrus Ký cũng như mọi người dân Việt Nam có ba con đường để chọn lựa. Do đó có ba thành phần.

4.1. Thành Phần Thứ nhất là triệt để chống Pháp, tham gia hoặc tổ chức các phong trào kháng chiến, Cần Vương, Văn Thân chống Pháp, viết những trang sử vẻ vang của dân tộc:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh Thiên địa

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỹ thần.”

Họ cương quyết chiến đấu cho đến kỳ cùng, không đầu hàng, “chừng nào nhổ hết cỏ, người Nam mới thôi đánh Tây!” (Nguyễn Trung Trực). Từ những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân ở miền Nam, đến Phan Đình Phùng ở miền Trung, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám ở miền Bắc và nhiều cuộc kháng chiến khác nữa. Nhưng các cuộc nổi dậy, kháng chiến này đều lần lượt thất bại trước sức mạnh cơ khí của Pháp trong khi triều đình bất lực:

Thơ Thủy ngày rày pha máu đỏ

Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong” (Thủ Khoa Huân)

Chúng ta hãy nghe tướng giữ thành, binh yếu thế cô, Phan Thanh Giản than thở:

Ải Bắc ngày rày tin nhạn vắng

Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu

Thiết tưởng là người Việt Nam không ai là không đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, kể cả những người hợp tác với Pháp, như Tôn Thọ Tường:

Giang sơn ba tỉnh hãy còn đây

Trời đất xui chi đến nỗi này.”

4.2. Thành phần thứ hai là thành phần hợp tác với Pháp.

Thành phần này chiếm đa số và thuộc khối thầm lặng, cũng đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, căm thù giặc xâm lăng, nhưng lại bi quan trước thời cuộc, buồn lòng trước tình thế, nhưng không thể tham gia các tổ chức như một số quan lại triều Nguyễn ở Nam kỳ, đành lòng miễn cưỡng hợp tác với Pháp. Họ là các công nhân viên chức, làm việc cho chánh quyền Pháp, thầy thợ trong các hảng xưởng của người Pháp. Thương gia, kỹ-nghệ gia làm ăn với người Pháp kể cả các quan lại thuộc triều đình Huế buộc lòng phải làm theo chỉ thị của người Pháp (Toàn Quyền, Khâm Sứ, Thống Đốc…) có quyền cách chức họ, sai khiến họ. Chỉ có một thiểu số là tích cực làm tay sai cho Pháp vì bã vinh hoa, phú quí, như Hoàng Cao Khải, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân…cũng may là ít thôi. Đối với những người này thì hợp tác là phản quốc!

4.3. Thành phần thứ ba: vừa hợp tác vừa phản đối, trong đó có ông Petrus Trương Vĩnh Ký. Theo một câu châm ngôn bằng tiếng Latin: sic vos non vobis – ở với họ mà không theo ho. Vì tình thế phải bắt buộc làm việc với người Pháp nhưng lúc nào cũng nghĩ đến quốc gia dân tộc. Là người Việt Nam, dĩ nhiên ông cũng căm thù giặc Pháp xâm lược, sức muốn cầm gươm, cầm súng chiến đấu chống kẻ thù, nhưng ông không phải là một võ quan, không biết điều quân khiển tướng, không từng chiến đấu nơi mặt trận quân sự. Vậy thì ông chỉ có thể tranh đấu trên mặt trận chính trị và văn-hóa.

Số mạng dẫn dắt, tình thế đưa đẩy ông cộng tác với Pháp chỉ vì ông là một chủng sinh các chủng viện Thiên Chúa giáo, ông là người Ki-tô giáo, và nhất là ông biết nhiều ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Pháp Lang Sa, tiếng Y-Pha-Nho (Tây Ban Nha), tiếng Cambodge (Cao miên) và tiếng Lào. Hai ngôn ngữ đầu là ngôn ngữ của kẻ mạnh, kẻ xâm-lược, hai ngôn ngữ sau cộng với tiếng Việt (An Nam) là ngôn ngữ của kẻ bại trận, kẻ yếu mà ông là người trung gian. Về nước cư tang mẹ, gặp lúc giặc Pháp xâm lược, ông quyết định không trở qua Penang, Malaysia, mà ở lại quê nhà để lo cho gia-đình và tìm cách giúp nước.

Đầu tiên ông gặp Linh mục Belleveaux (Cố Long), giới thiệu vào dạy tiếng Pháp và tiếng Latin tại chủng viện Cái Nhum. Sau chủng viện bị đốt phá, ông phải trốn lên Sài gòn (Chợ Quán còn gọi là Nhơn Giang – hai chữ này có trên nhà mộ ông ), gặp lại thầy cũ là giám mục Lefèbvre giới thiệu phụ tá cho cha Croc tại trường Thông ngôn. Đến khi phái bộ Simon sắp ra Huế thương thuyết về việc bồi thường chiến phí, ông lại được đề nghị theo giúp phái bộ này (1862).

Tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây để giải thích về vai trò “thông ngôn” của ông Petrus Ký. Một bên là người Pháp,viết và nói tiếng Pháp, là kẻ chiến thắng, muốn áp đặt, muốn bắt buộc chúng ta phải chấp nhận những điều họ nói, họ viết. Một bên là đại diện triều đình Huế, không hiểu họ nói gì và viết gì, và lại bị bắt buộc chấp nhận những gì mình không hiểu gì thì thật là tai hại. Do đó vai trò của ông Petrus Ký rất là quan trọng trong việc thông dịch, chuyển đạt ý-kiến trao đổi của đôi bên, nhất là về phía Việt Nam phải chịu thiệt thòi.

Năm 1863, ông lại được cụ Phan Thanh Giản xin cho sung vào sứ bộ Nam triều sang Pháp điều đình xin chuộc ba tỉnh Miền Đông. Thật ra đây không phải là một thất bại của triều đình Nguyễn vì Triều đình Pháp lúc bấy giờ xảy ra cuộc tranh cải giữa phe chủ hòa và chủ chiến, nên có hứa là sẽ xem xét kỹ lại và sẽ thông báo kết quả. Sau đó một năm thỏa ước Aubaret ra đời ký giữa Phan Thanh Giản và đại úy Aubaret (cũng là một thông dịch viên nói rành tiếng Việt) ngày 15-07-1864 tại Huế.

Nhưng phe chủ chiến mà đại diện chính là bộ trưởng Hải quân và thuộc địa Chasseloup-Laubat thuyết phục Hoàng Đế Napoléon III bành trướng thực lực sang Viễn Đông và không phê chuẩn (hổ giao) thỏa ước này. Phó đề đốc La Grandière tiếp tục kế hoạch của Chasseloup tiến chiếm ba tỉnh Miền Nam Nam kỳ năm 1867 và Phan Thanh Giản tuẩn tiết theo thành Vỉnh Long. (Vừa rồi nhà cầm quyền có quyết định phục hồi danh vi lại cho cụ Phan thanh Giản, sau khi đã nhầm lẫn xóa tên cụ, dân chúng gọi mĩa mai là tha.!)

Sau chuyến đi Pháp ông Petrus Ký có vẻ thất vọng về chính trị, muốn rút lui khỏi lãnh vực này để chú trọng vào công tác văn hóa như: làm công chức, dạy học, nghị viên thành phố, soạn sách giáo khoa, chủ bút/biên Gia Định Báo v…v. (xin chỉ kể sơ lược thôi).

Nhưng rồi định mệnh lại kéo ông trở lại chính trường một lần nữa. Chánh phủ Pháp muốn thay đổi phần nào chánh sách cai trị sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi; nên cử khoa học gia Paul Bert sang làm toàn quyền Đông Dương (1886). Ông Paul Bert là bạn của ông Petrus Ký khi ông Petrus Ký sang Pháp, biết ông là người thanh liêm, chính trực nên mời ông ra Huế hợp tác. Ông lại được vua Đồng Khánh tin dùng phong chức Cơ Mật Viện tham tá, sung Hàn Lâm Viện Thị Giản Học Sĩ. Đây là một cơ hội bằng vàng vừa được toàn quyền tin cẩn, vừa được nhà vua tin dùng. Ông Petrus Ký có cơ hội giúp cho hai bên thông cảm lẫn nhau để tìm một chánh sách cai trị cơi mở hơn chính sách cai trị bốc lột của những tên cai trị quân nhân, thực dân trước đó.

Nhưng thói đời thấy ai được điều gì thì hay ganh tị. Ông Petrus Ký cũng bị cả hai bên quan lại người Pháp và Việt gièm pha, dòm ngó. Rồi thì trời cũng chẳng chiều người, số phận đất nước Việt vẫn phải chịu chìm đắm trong điêu linh, nên khiến cho toàn quyền Paul Bert thình lình ngã bệnh mất ngày 11-11-1886 sau chỉ có vài tháng làm toàn quyền. Lại một lần nữa ông Petrus Ký từ quan, lui về ẩn dật trong sự lưu luyến của vua Đồng Khánh (vua đã ban cho ông những lời khen và tặng 9 vật quý báu), nhưng lại là sự hài lòng của những kẻ gièm pha, ganh tỵ với ông nhất là Paulin Vial, Giám Đốc Nội Vụ Nam Kỳ ở Sàigòn báo cáo về ông như sau:

“Trương Vĩnh Ký là hiện thân của những phần tử đáng nghi ngờ trong đám người Việt

Đơn giản hơn cả là chỉ cần nhìn vào cuộc sống thanh bần của ông và gia đình, trong khi ông tham chính và lúc rời khỏi chính trường. So sánh với cuộc sống vinh thân phì da của những Tôn Thọ Tường, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Trần Bá Lộc v.v. thì sẽ thấy ai làm tay sai, ai là kẻ bán nước, yêu nước.

 

5. Vài ngộ nhận khác cũng cần làm sáng tỏ

Ngoài ra, còn một số ngộ nhận khác cũng cần làm sáng tỏ. Thí dụ như việc dựng tượng Petrus Ký. Có người cho rằng vì ông Petrus Ký có công với Pháp, làm tay sai cho Pháp, nên Pháp dựng tượng để tưởng thưởng cho ông. Thật ra là trái lại, chính là do nhà cách mạng Trần Chánh Chiếu, ( trong danh sách nhà hảo tâm có kỹ nghệ gia Trương văn Bền (công ty Sà phòng Việt Nam)) vì mến mộ tài đức của ông Petrus Ký nên đứng ra quyên góp dựng tượng ông trước dinh Độc lập. Hình ảnh ông Petrus Ký mặc quốc phục tay ôm quyển sách tượng trưng cho nhà bác học về văn chương và khoa-học, là người Á Châu duy nhất được thế giới bình chọn là toàn cầu thập bát danh nhân “Les dix huit sommités culturelles et scientifiques”.

5.1. Việc đặt tên Trường Petrus Trương Vĩnh Ký

Có người cho rằng vì ông Petrus Ký có công với Pháp, làm tay sai cho Pháp, nên Pháp tưởng thưởng ông bằng cách dùng tên ông đặt cho một trong những ngôi trường trung học quốc gia lớn nhất nhì miền Nam, đã đào tạo nhiều nhân tài phục vụ đất nước miền Nam lẫn miền Bắc. Do đó, nhà cầm quyền đương thời đã trù dập ông. Bảng tên trường đã bị hạ xuống cùng với việc đục bỏ hai câu đối trước cỗng trường:

Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt

Âu Tây Khoa Học Yếu Minh Tâm

Đây cũng là hành động chính trị hơn văn hóa. Thực ra nhà cầm quyền Pháp đã lợi dụng tên tuổi và uy tín của Ông khi lấy tên ông đặt cho trường, chứ không phải là một hình thức tưởng thưởng ông. Họ muốn phô trương với quốc tế về công trình “khai hóa của họ ở các xứ thuộc địa” vì ông là một nhân vật được quốc tế biết tiếng.

5.2. Về công và tội của ông Petrus Ký

Có người cho rằng vì cộng tác với Pháp, vì làm tay sai cho Pháp, nên ông cảm thấy có tội, vì thế ông mới kết thúc bài thơ TUYỆT BÚT bằng hai câu:

Cuốn sổ bình sinh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.”

Theo họ, có thể hiểu nôm na như thế này: “Tôi có tội, tôi chờ gặp quan tòa để khai báo tội lỗi của tôi.” Theo thiển kiến, quả thực ông Petrus Ký là người có tội. Đó là tội lực bất tòng tâm.

Cũng như mọi người ông muốn làm việc gì đó để cứu dân cứu nước, nhưng ông không thành công, ông đã làm đúng theo phương châm:

Fais ce que dois. advienne que pourra”

(Nôm na có thể hiểu như sau:“Tôi cứ làm việc tôi phải làm, còn điều gì xảy ra sẽ xảy ra”). Ông có thể đáng được tha nếu chúng ta không đem thành bại mà luận anh hùng. Và hai câu thơ TUYỆT BÚT trên có thể hiểu như thế này:

“Tôi là người trung thực tôi đã hành động với tất cả khả năng và theo đúng lương tâm của mình. Tôi sẳn sàng chịu trách nhiệm về những gì tôi đã làm trước công luận hoặc trước mặt các quan tòa ở dương thế “đầy bụi bặm, đầy ô trọc, đầy thiên kiến” (do người viết thêm ý) hoặc bên kia thế giới có Chúa sẽ phán xét tôi (vì ông là người Thiên Chúa Giáo).

 

6. Kết luận

Để kết thúc bài viết, xin có đôi lời minh xác kẻo lại bị ngộ nhận:

  1. Thứ nhất: Bài viết không nhằm mục đích đề cao công trạngcủa ông Petrus Ký đối với đất nước vì đã có quá nhiều dưluận KHEN CHÊ rồi, CÔNG TỘI đã được bàn cãi quánhiều. Thiết tưởng không cần phải viết thêm.
  1. Thứ hai: Bài viết không nhằm mục đích biện hộ cho ôngPetrus Ký, mà chỉ làm sáng tỏ một số điều ngộ nhận về ôngnhư đề tài đã ghi rõ, tin hay không chấp nhận tùy độc giả.
  1. Thứ ba: Bài viết cũng không nhằm mục-đích xin phục hồidanh vị của nhà Bác học vì người ta có thể tha thứ giữa cá nhân với cá nhân. Chớ giữa một cá nhân và một hệ thốngchánh trị chuyên chế thì không thể có sự tha thứ vì hệ thốngchính trị có chủ đích, có đường lối và sẽ thiếu sự phán xétvô tư. Người Do Thái không thể tha thứ Đức Quốc Xã. Ânoán sẽ hết khi Đức Quốc Xã tàn lụi mà thôi.
  1. Thứ tư: Mặt khác có những trường hợp được “tha” khôngcó gì danh dự hơn là vẫn bị tiếp tục kết án. Xin đơn cử mộtthí dụ để làm minh chứng lời nhận xét trên: Trong ĐạiChiến thứ hai, khi Đức ồ ạt tấn công xâm chiếm nước Pháp,thành phố Paris phải bỏ ngỏ cho quân Đức vào chiếm đóngđể khỏi bị tàn phá (cũng tương tự như Sài gòn ngày 30tháng 4, 1975) và thống chế Pétain, Thủ Tướng của Pháp đãký thỏa hiệp với Đức để bảo vệ phần còn lại phía Nam nướcPháp và các thuộc địa (1940). Đến khi nước Đức bại trận,nước Pháp được đồng minh giúp giải phóng thì Philippe Pétain bị kết tội phản quốc và bị kết án tử hình, sau đượcđổi lưu đày biệt xứ ra đảo D’Yeu (Đại Tây Dương) cho đếnchết. Nhưng rồi sau đó Chánh Phủ Pháp ân xá, và cho phép Ông trở lại đất liền, nhưng Ông Pétain khẳng khái trả lời:“Nếu bảo rằng phán quyết về việc kết tội tôi trước đây là sai lầm và hủy bỏ để cho phép tôi được trở về đất liền thì tôi rất hoan nghênh công lý. Còn như bảo là tha tội cho tôi thì xin được không nhận ân huệ này.” Ông tiếp tục ở lạiđảo D’Yeu cho đến cuối cuộc đời.