Chương 14

Những Năm Cuối Cùng Của Cuộc Đời Petrus Trương Vĩnh Ký

Tân Văn Hồng dịch

(Bài viết được trích từ Đặc San Petrus Ký 1992 do Hội Ái Petrus Ký Nam Cali thực hiện).

(nguồn: Quyển Tuyển Tập về “Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký” – 2005)

Lời thưa trước: Khi chuyển ngữ, tôi có ý dịch những địa danh, chức tước và một số danh từ khác sao cho hợp với lời nói, lối viết “chữ quốc ngữ” cách nay gần một thế kỷ. Chẳng hạn Tổng Lý thay vì Tổng Thư Ký, Cao Miên thay vì Cam Bốt, Xiêm La thay vì Thái Lan, Bắc Kỳ, Nam Kỳ, An Nam thay vì Bắc Việt, Nam Việt, Trung Việt, hay Việt Nam…

Truong Vinh Ky ky 4 03

Kể từ năm 1890, Petrus Ký sống cuộc đời về hưu gần như tuyệt đối. Ông để tâm nghiên cứu việc phổ cập, đào sâu những đề tài phần lớn là những bản viết tay, lo tái bản cũng như tìm phương tiện xuất bản những tác phẩm mới. Sức khỏe của Ông suy yếu dần về thể chất cũng như tinh thần. Trường thông ngôn được tổ chức lại năm 1885 đã đóng cửa năm 1888 và viên giáo sư (1) sắp bị nghỉ việc, nhưng nhờ sự can thiệp của những người bạn Pháp mà Ông thường liên lạc thư từ, nên Ông có thể sống một hoàn cảnh tương tự như hồi năm 1864: được bổ nhậm giáo sư chữ Hán và chữ Cao Miên với số lương 1800 đồng hàng tháng mà Ông được lãnh cho đến hết cuộc đời.

Ông đã đấu tranh với các khó khăn vật chất. May nhờ có sự cộng tác của phu nhơn, một người vợ dịu hiền, một người trợ lực quí giá, thông minh và tận tụy, đã giáo dục con cái như ông hằng mong ước. Nhưng tất cả mọi sự tranh đấu nhiêu khê nầy đã đè nặng lên một con người vốn đã kiệt sức vì những công việc nhọc nhằn.

Năm 1888, để đánh tan sự im lặng về mặt chánh trị của mình trong gần một năm qua Petrus Ký gởi cho viên trợ lý khâm mạng toàn quyền một bức thư liên quan đến một vấn đề mà Ông cho là quan trọng.

Sài-Gòn, ngày 12 tháng 5 năm 1888

Kính gởi Ngài Navelle, Tổng Lý quyền Trợ Lý Khâm mạng Toàn Quyền,

Tôi hân hạnh xin Ngài lưu tâm về một vấn đề quan trọng trong lúc nầy. Đó là quyền của nước An Nam trên lưu vực sông Cửu Long (tả ngạn). Hiện nay những quyền này là quyền của nước Pháp, đại diện ngoại giao cho nước Nam, chiếu theo hòa ước 1884.

Chính phủ Xiêm La đã lợi dụng lúc chính phủ nước Nam bận rộn trong nước ở phía đông, chểnh mảng ở phía tây để bắt đầu cuộc xâm lấn ở tả ngạn sông Cửu Long.

Theo ý kiến vụng về của tôi thì nên cử một ủy ban ấn định biên giới bởi vì không có một sự ấn định biên giới rõ rệt nào đã được thực hiện. Nước Pháp chỉ cần thúc đẩy Quốc Vương và triều đình Huế gởi người đòi tam-niên cống phẩm nơi các thuộc xứ: Luang Prabang, Vieng Chan, Thuy-xa,,v,v…và chiếm lại các đồn lũy cũ vô điều kiện. Nếu người ta cung cấp vũ khí cho người nước Nam, họ sẽ tống xuất những kẻ xâm lấn không chút khó khăn.

Trong trường hợp có lẽ Xiêm La yêu cầu giải thích hoặc trình bày nhận xét thì trong khi chiếm nước, người ta có thể chấp nhận cho họ những cuộc hội nghị, ở đó sẽ không khó để khéo léo chứng tỏ cho họ rằng nước Nam không bao giờ chối bỏ quyền của mình trên tả ngạn sông Cửu Long.

Thưa Ngài Khâm mạng Toàn Quyền, đó là những điều tin tưởng chắc chắn mà kinh nghiệm từ lâu đã cho tôi biết về các xứ nầy…

P. Trương Vĩnh Ký

Từ đó chúng ta không còn dấu hiệu chính xác nào về chi tiết của cuộc đời Petrus Ký, một cuộc đời dường như không có chuyện gì lôi thôi. Người ta được biết qua một bức thư Ông gửi cho bác sĩ Chavannes, dân biểu, ngày 9/6/1888 theo đó ông được phái tới Bangkok vào tháng 4 và khi trở về ông đã dùng lại những bài học bằng chữ Hán và chữ Cao Miên đồng thời cũng không còn muốn nghe nói đến bất cứ một phần thưởng chánh trị nào. Nhưng mà chính ở đó có nhiều điều chúng ta có thể biết được. Và chúng ta không rõ gì hơn cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời Ông.

Ngày 1-9-1898, bị tàn tạ vì một cuộc đời cần cù, do đủ mọi thứ khó khăn luôn luôn dựng đường cản bước, Petrus Ký đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi sáu mươi mốt trong cảnh quạnh hiu của vùng Chợ Quán, để lại tình thương của những người thân, sự kính trọng của đồng bào Ông và niềm kính phục của những người Pháp từng biết và gần Ông. Ông bị một chứng bịnh kéo dài, mà chúng ta đã thấy mầm móng từ năm 1886 tại Huế. Khi Ông từ trần, biết bao sự bày tỏ lòng thương tiếc sâu đậm, bao sự ca tụng hết lời gởi về chỗ ở của Ông: Từ Nam chí Bắc, Cao Miên, Trung Hoa, Xiêm La, Hòa Lan, Miến Điện và cả Châu Âu nữa. Người bạn đời của một học giả lớn đã nhận vô số lời chia buồn rất cảm động. Báo giới Sài-Gòn khen tặng Ông, một người có chân tài lớn bằng những lời lẽ mà gia đình Ông lấy làm hãnh diện.

Báo “Courrier de Saigon” ngày 3 tháng 9 năm 1898 viết: Con người vừa mới mất không còn trong đời nầy nữa! Với tư cách, kiến thức và triết lý của Ông, Ông đáng thuộc về Thất Tinh Hội Đông Phương tinh tế và thông minh… Ông rất mẫn tiệp, biết quá nhiều chuyện đời và cũng phần nào nghi ngờ giai cấp thượng lưu chúng ta.”

Về phần chúng ta, những người Pháp gắn bó với nước nầy, một nước trở nên thân thuộc với chúng ta, chúng ta thấy cuộc đời của Petrus Ký phải là một bài học bởi vì chúng ta có thể thấy người Nam Kỳ nầy xuất phát từ dòng dõi tinh anh nhất của xứ sở, ngang hàng về kiến thức sâu sắc và những hiểu biết đa dạng nhất của các nhà bác học Châu Âu vốn được xem là đầy đủ tư cách nhứt. Chúng ta thấy Petrus Ký chứng tỏ một sự thông thái, một tài năng lớn, một sự phán đoán sâu sắc, sự lý luận logic; những điều đó không phải là đức tánh thông thường của các nhà lý thuyết Á Châu. Chúng ta tìm thấy nơi Ông sự chân thật đượm chút chua chát đã gây cho Ông nhiều kẻ thù; sự thành thật trong phản kháng đó, sự cao thượng và phẩm cách đó, mà người ta công nhận một cách khái quát là khó hòa hợp với đặc tính người Viễn Đông. Trong khúc quanh của sứ mệnh, Ông tỏ ra là một chính khách, một nhà ngoại giao đáng kính phục…

Thừa hưởng một nền giáo dục gần như Pháp hoàn toàn, kết quả của quá trình đào tạo nơi trường của các nhà truyền giáo, những người nầy không muốn dạy những bài học sơ yếu thông thường mà muốn mở rộng tinh thần và lý luận của Ông. Petrus Ký nói và đọc 15 sinh ngữ và tử ngữ Tây Phương trong số đó Ông viết rành 11 thứ tiếng, hầu hết là ngôn ngữ các nước miền Cực Á. Chúng ta chẳng những thán phục tài viết chữ Pháp của Ông mà còn phải đánh giá cao tài năng biên soạn bằng chữ Hán, Xiêm, Cao Miên, La Tinh, Tây Ban Nha, và chữ Ý mà những khó khăn của chữ viết thường làm cho chúng ta bỏ cuộc… vốn là một người yêu gia đình, Petrus Ký tỏ ra là một người cha siêng năng, chăm chỉ, luôn luôn hướng về con cái, săn sóc việc học hành của chúng và thường băn khoăn về những cạm bẫy mà cuộc sống dành cho chúng. Ông được phu nhơn dịu hiền giúp đỡ; bà tự lo việc buôn bán nhỏ về nghề đúc để giúp cho nhu cầu của đại gia đình. Bà chăm nom cẩn thận những công trình uyên bác của Ông trong mọi lúc. Trong thời hưu trí, Petrus Ký say sưa trong các công việc mà sau nầy trở thành phần tốt đẹp nhất của cuộc đời Ông. Nhưng mà định mệnh không chiều người như thế! Petrus Ký theo chữ dùng riêng của Ông là “người trung gian bền bĩ giữa hai quốc gia và hai dân tộc”. Vai trò trung gian nầy đã không ngừng đưa Ông vào con đường mà Ông không thích lui tới. Chính vì bổn phận mà Petrus Ký đã bận tâm, vì bổn phận mà Ông bôn ba ở Bắc Kỳ cũng như ở An Nam (1), ở Xiêm cũng như Cao Miên. Lúc ấy Ông sống yên ổn trong một ngôi nhà nhỏ ở Chợ Quán, trên bờ một con rạch, dưới bóng cây cổ thụ, để khảo luận những đề tài mà ông hài lòng. Đó là gương mẫu của sự quên mình, sự tận tâm bền bĩ, không lo âu về những phản kháng ít nhiều có tính chất cao thượng và đáng được ý kiến quần chúng lưu tâm cũng như không bận tâm về những tin đồn không tốt…

Không một tấm gương nào có thể làm cho chúng ta hồi tưởng những thành công trong kỹ luật, về nghị lực và lương tâm trong sáng hơn tấm gương của cuộc đời liêm khiết, vất vả, thành tín và trung thực của Petrus Trương Vĩnh Ký…

Dịch từ:

Un Savant et un Patriote Cochinchinois, Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký, Ed. Nguyễn Văn Của Saigon 1927, Jean Bouchot P.91, 92, 93, 94, 95, 96, 97.

(1) Bắc Kỳ (Tonkin) là đất bảo hộ, An Nam là đất Nam triều, bên cạnh vua có một công sứ Pháp theo hòa ước Giáp Thân 1884 (ND).