Lời Mở Đầu

Từ trước tới nay, ở trong ra đến ngoài nước, có biết bao nhiêu đặc san, tuyển tập, tài liệu nội dung sung mãn bàn về thiên tài siêu việt là nhà bác học Trương Vĩnh Ký. Nhưng quả chưa có tuyển tập nào nói về Người, văn đi sóng đôi với nhạc (1), rộn rã, hứng thú đầy truyền cảm, mang tính dân tộc hứng khởi, thích hợp với nhân vật được biểu dương như ở tuyển tập Hiện Tượng Petrus Ký nầy. Các bài viết đặc sắc của các vị giáo sư, trí thức, văn hữu, mỗi người một vẻ, phát hiện cái đa tài, đa diện và cao hạnh của nhà học giả là những tiểu luận phong phú, súc tích, giải đáp bao nhiêu luận đề biến hóa về nhà thông thái. Chính do cái giá trị tổng hợp ấy của tuyển tập làm cho sự tôn vinh về Người đạt được hiệu quả toàn diện mong ước hơn bao giờ hết.

Nhìn bức hình Người chụp chung với 17 vị lỗi lạc khác trên hoàn cầu, tôi không thấy đó chỉ là một tấm ảnh đặc biệt, mà còn hơn thế nữa, tôi bỗng nghĩ đến hành tinh văn hóa Việt Nam cùng các tinh cầu văn hóa quốc tế khác nhịp điệu bay trên cầu vồng ngũ sắc thế giới, sáng chói và vinh dự biết bao! Chính vì thế mà tôi dám nghĩ rằng hai tiếng Hiện Tượng Petrus Ký mà các vị chủ trương tuyển tập nầy định tính cho nhân vật của chúng ta là một uyển từ còn quá nhẹ nhàng, chưa tương xứng với thiên tài bác học của Người.

Cách đây 3 năm, sang Paris, tôi có dịp nói chuyện với một nhà nhân chủng học Pháp là ông A. Smith, biết tôi là người Việt Nam, ông đưa ra lời nhận xét:”Ở đất nước ông, có hai đặc trưng văn hóa nổi bật, khó có nước nào có được: Một điều vạn hạnh là chữ viết của các ông. Điều thứ hai, một đại bất hạnh cho dân tộc Việt Nam, đó là một đất nước luôn luôn bị xâm lăng và bị ngoại bang thống trị. Ngay bây giờ cũng thế dù là dưới một hình thái gián tiếp… Rồi ông nói tiếp: Về ngôn ngữ, ở Á Châu, vùng Thái Bình Dương, phải nói là chỉ riêng và gần như độc nhất một mình nước Việt Nam cách đây 2 thế kỷ đã bắt chước theo Tây phương dùng 24 mẫu tự la tinh viết lên tiếng nói của mình một cách rất thành công, trong khi đa phần các quốc gia khác ở Thái Bình Dương như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn và một số các nước khác cũng bắt chước La tinh hóa, Âu hóa chữ viết của mình mà không thành tựu. Điều nầy thực là một lợi thế vô cùng to lớn của nước Việt Nam về mặt văn hóa nói chung và về viết lách, in ấn, truyền đạt tư tưởng nói riêng đó vậy.”

Tôi trầm ngâm suy nghĩ và tưởng nhớ đến cụ Trương Vĩnh Ký của chúng ta. Từ khi các giáo sĩ Ý, Tây Ban Nha, Bồ rồi đến Alexandre de Rhodes chung phần sáng chế chữ quốc ngữ – một thứ chữ thô sơ lúc ban đầu rồi mãi đến sau nầy, ta phải công nhận rằng chính Trương tiên sinh là một người tiên phong để không nói là bậc tiền phong duy nhất khai sáng, phá vỡ cái luộm thuộm, u tối, mịt mù của chữ quốc ngữ trong nền quốc văn mới từ buổi sơ khai bằng gần 200 sáng tác phẩm đủ loại, đủ ngành của Cụ dọn đường cho sự gọn gàng, chính xác của nó được tô bồi tiếp theo bởi lớp nhà văn hậu tiến sau nầy.

Trương Vĩnh Ký tiên sinh phải nói đúng là cha đẻ của nền quốc văn mới đó vậy. Lời nói ấy không phải là một ngoa ngữ hay một ngôn từ cường điệu vô căn cứ. Một nhà văn Hoa Kỳ có nói:”Không một sáng tác phẩm nào dù viết dở mà lại vô ích cho nền văn chương nước ấy. Tối thiểu, tác giả đã góp thiện chí, trí tuệ của mình vào việc làm thuần thục và trau luyện tiếng nói.” Huống gì ở trường hợp Trương tiên sinh, không phải là những cuốn sách tầm thường mà người viết ra có đến 150 – có người còn nói đến gần 180 tác phẩm xuất sắc về đủ môn, đủ loại nữa, trong đó hơn 20 tác phẩm cổ văn được ông nghiên cứu, diễn dịch, kỹ càng giữa thời ấu trỉ của chữ quốc ngữ thì quả thực thiện chí cùng công trình đóng góp của người để trau dồi và phong phú hóa chữ quốc ngữ càng đồ sộ đáng tôn vinh biết bao!

Xin không nói thêm và nói lặp lại về chân tài đa diện đa phương của Cụ về mặt ngôn ngữ, văn chương, văn hóa, về các sáng tác cùng những hoạt động về ngoại giao, chính trị, giáo dục v.v…của Cụ mà đã có nhiều vị giáo sư, văn hữu, thức giả trình bày vô cùng đầy đủ và đặc sắc trong tuyển tập nầy.

Còn nhớ trong bài diễn văn tôi đọc đại diện Bộ Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa ngày 02 tháng 8 năm l973 ở Sàigòn, tôi mạn phép nhắc nhiều đến danh tiết của con người nằm trong đạo sống của Cụ mà tôi định tính là xuất chúng và biệt lệ, xứng đáng cho tất cả chúng ta học tập và ngưỡng mộ chính là sự hòa mình kỳ diệu của bậc sĩ quân tử phương Đông, với người tín đồ bậc trí thức phương Tây đó vậy. Tôi vừa nói đến hai tiếng danh tiết, tức là danh dự và tiết tháo của người. Cụ ra làm việc với Pháp, với vua thời thực dân mà cũng có tiết tháo ư? Đúng vậy, chưa có ai đầy tiết tháo, kiên trinh, sáng lạn như Cụ. Làm với Pháp mà không theo Pháp. Ở với họ mà không theo họ,”Sic vos non Vobis”. Đó là châm ngôn và triết lý chỉ nam của đời Cụ. Tôi dám nghĩ rằng trên hành trình công vụ dài của Cụ, chung đụng gần gủi dai dẳng nhiều phen với các chức cao quyền trọng của chế độ bấy giờ, nào những lúc tham gia phái đoàn công du đi đây đi đó, nào những lúc sớm hôm dạy cho vua học, làm quan ở Cơ Mật Viện Huế, làm bạn thân tín với quan toàn quyền, chắc đã có bao nhiêu trường hợp các vị quyền chức trên dùng tình cảm thắm thiết đối với Cụ, đem mồi phú quí, bả vinh hoa ra chiêu dụ và thuyết phục Cụ hoặc quá lắm còn có thể dọa nạt Cụ để làm cho người xiêu lòng; nhưng không, bản lĩnh vững như bàn thạch, Cụ điềm đạm khước từ; phong thái chính trực giữ cốt cách là nhà nho cao hạnh làm cho chính những đối tượng của Cụ phải khiếp phục, kính nể. Đã có lần Cụ bị ông Paul Vial, viên quan Pháp thay thế toàn quyền Paul Bert vừa chết, ngưng chức và Cụ bị tình nghi là có dị chí muốn lật đổ nhà vua nữa là khác.

Không chống đối cực đoan chế độ như Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu mà cũng không xu phụ như Tôn Thọ Tường và bao kẻ khác, Cụ nhất mực gìn giữ truyền thống, không vô quốc tịch Pháp, không chịu cắt tóc, không vận Âu phục vẫn chít khăn đóng, mặc quốc phục, một mực lo tô bồi thầm lặng và kiên trì cho tương lai đất nước về phương diện văn chương (cổ văn, tân văn), văn hóa, văn học Việt Nam được trường tồn và phong phú, mong cải thiện phần nào số phận hẩm hiu của quê hương về tư tưởng học thuật và kỹ thuật giữa một thời cuộc rất ư đen tối. Đến nỗi ai muốn bịa đặt lời để phỉ báng, đố kỵ cụ thì đó cũng chỉ là điều vu khống vô căn cứ.

Xin nói thêm về một điểm son của người mà ít ai nhắc đến là Đạo Sống của người. Đạo Sống của Trương tiên sinh là sự dung hợp đắc ý giữa nền đạo đức Nho gia và vốn trí tuệ của bực thức giả phương Tây. Đó là cái thế trung hòa uyển chuyển đối phó với chế độ để còn làm được chút gì hữu ích cho tiền đồ đất nước mà không vi phạm đến bản lãnh hướng thiện và hướng thượng của mình. Tâm tư của người bất di bất biến nhưng hành thì tế nhị khéo léo, bao dung được hướng đạo bởi cái tâm và không xa rời cái tâm định hướng. Tôi muốn nói đến tâm thức ái quốc dạt dào là hiện tượng thường trực luôn luôn âm ỉ trong tâm cảm của người. Cái hồn nước chất ngất dàn trải từ văn chương đến sự nghiệp của Cụ, làm nền tảng cho tính năng động của một con người không hề biết mệt mỏi, quyết cống hiến tinh hoa, trí tuệ mình cho nhân sinh và dân tộc. Đạo làm người của một nhà nho khiêm cung, thủy chung, trung thành đối với tổ quốc, bao hàm một triết lý xuất xử linh động, hợp tình, hợp lý, giữa một thời cuộc mới xem tưởng như ổn định, nhưng thực ra rối rắm, phức tạp mà sự phân định và phán xét về tiếp vật, xử thế, ứng sự của mỗi người đòi hỏi nhiều khôn ngoan, thức thời của một bậc minh triết như Trương tiên sinh. Đạo Sống đầy Đông phương tính và nhân bản cộng với tư chất ái quốc của người, suy nghiệm kỹ bắt nguồn từ mối thiện căn và sự đào luyện khá sớm sủa về tinh thần siêu linh từ lúc người du học ở trường Giáo Hoàng khi người mới 13 tuổi, một chủng viện lớn ở vùng Á đông, đảo Mã Lai và theo thiển ý còn do ý hướng kiên trì tìm tòi, đào xới không ai bì kịp để nghiên cứu, sưu tầm nền cổ văn của ta cùng nền văn hóa cổ truyền uyên bác Trung Hoa nữa. Đạo Sống Đông phương với tính ái quốc ấy của người có nguồn gốc phức tạp và sâu xa, thâm nhập vào cốt tủy của người từ khi người còn bé đến lúc trưởng thành.

Trước hoàn cảnh cá nhân có phần khó khăn, giữa một bối cảnh lịch sử khá đặc biệt, có thể có nhiều “trường hợp lương tâm” diễn biến và dằng vật tâm tư bậc sĩ phu của chúng ta nhưng ta chưa hề thấy hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp Cụ nhắc đến những điều ấy. Và rất khiêm cung, một mình mình biết, một mình mình hay, không bao giờ người thuyết minh dù ít dù nhiều đến thái độ sống, triết lý làm người đặc thù của mình trước một thời cuộc bất như ý – (chỉ riêng trong bài vè nằm giỏ, Cụ nói phớt qua chế độ không luật, ác độc của thực dân bằng năm ba câu thơ mà thôi).

Chúng ta, những hậu sinh của lịch sử cảm thông với Cụ bằng một trực giác hồn nhiên, giản minh, bao nhiêu băn khoăn ưu tư không tránh khỏi đang ray rứt thầm kín con người Cụ về sự phẩm bình và phán đoán của hậu thế và công luận đối với mình qua một ít lời đối thoại của Cụ đối với khách bàng quan. Nhưng tâm thức Cụ quyết không quên chính đạo và chính nghĩa quốc gia dân tộc mình đã khắc ghi từ bao giờ qua văn nghiệp đồi dào và hiện thực hành động đặc sắc Cụ đã cống hiến cho nhân loại và dân tộc.

Triết gia Pháp J.P. Sartre, bực dọc về sự quên bẳng lý tưởng sống của mỗi con người chúng ta nên than thở qua một câu tư tưởng:”Tất cả mọi sự việc trên đời đều được con người suy nghĩ đến, chỉ trừ cái sự việc nên sống như thế nào đây là không nghe ai bàn đến mà thôi” (Tout a été pensé, excepté comment vivre,.. L’être et le néant, J.P. Sartre). Lời nhận định trên của triết gia không đúng ở trường hợp Trương tiên sinh. Cụ đã sống và sống đúng với lý tưởng và triết lý nhân sinh mà mình đã vạch ra từ thuở ấu thơ đến hồi lão đại đó vậy.

Cần mở một ngoặc lớn để trình bày thêm về một phương diện đặc sắc của con người mà tôi không cường điệu chút nào để đánh giá là cha đẻ của nền quốc văn mới về chữ quốc ngữ. Trương tiên sinh là người đầu tiên đã phiên dịch hay nói đúng hơn đã chuyển các sách chữ Nho, chữ Nôm của ta ra Quốc ngữ. Trước kia, muốn đọc sách thánh hiền phải thông làu chữ Nho là chữ Hán, chữ của Tàu hay chữ Nôm là một biến thể phức tạp của chữ Tàu (chữ Hán) ghép lại. Chữ Nôm bấy giờ cũng được gọi là chữ quốc ngữ, chữ  iêng của nước ta, nước Tàu không có và đọc sao nói vậy, dùng nhiều chữ Hán mà cấu tạo nên.

Gần 20 năm trời (1876-1894) Cụ Petrus Ký đã diễn dịch chuyển ra chữ “quốc ngữ mới” hết các bộ sách căn bản của nền văn hóa cổ truyền Đông phương đặc biệt về Nho giáo như Đại học, Trung Dung, Tứ Thư, Luận Ngữ, Tam Tự Kinh, Tam Thiên Tự, Sơ Học Vấn Tâm, Minh Tâm Bửu Giám v.v… và Ông sưu tầm phiên âm truyện Nôm và cổ văn Việt Nam có đến 16 cuốn trong đó có Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca…nhiều cuốn có tác dụng giáo huấn và có nội dung ái quốc như Hịch Quản Định, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Trung Nghĩa Sĩ Ca…

Để ca tụng thiện chí giáo dục và tính cách dân tộc dạt dào bản sắc Việt Nam nhất là mối tình sâu đậm đối với quê hương qua các sáng tác phẩm của Cụ, một học giả và nhà văn Việt Nam vào năm 1956 đã hạ bút viết gọn gàng mà tạm đủ:”Cụ nói và viết bằng tiếng La tinh, tiếng Pháp, bằng tiếng Hi Lạp và bằng 20 tử ngữ và sinh ngữ khác. Cụ đã viễn du trên khắp một phần của vũ trụ nầy, nhưng Cụ không bao giờ tự cho phép mình có thái độ huyênh hoang, tự phụ, vô lễ. Không phải vì Cụ đã được ngắm con sông Seine thơ mộng, con sông Venise chảy lững lờ hoặc Địa Trung Hải xanh biếc mà quên con sông Hương Giang hay sông Bến Nghé tuyệt nhiên không còn gây được mỹ cảm gì nữa trước đôi mắt Cụ, và không phải vì Cụ đã đọc được Corneille, Goethe, Dante, Shakespeare bất hủ nên cuốn Đoạn Trường Tân Thanh chỉ là một áng văn vô vị đối với Cụ. Cụ tôn trọng quốc hồn, quốc túy và còn tán dương tất cả những gì đẹp đẽ, mỹ lệ của tổ quốc Việt Nam”. (Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố).

Tôi xin lặp lại: Tất cả những kiến thức ấy của một nền văn minh, văn hóa cổ truyền Việt Nam mà Cụ đã nghiền ngẫm, thấm sâu vào tâm thức, tâm cảm và trí tuệ của Cụ đúc tạo nên một đạo làm người, một nghệ thuật sống đặc biệt của một con người Việt Nam thuần túy với một tấm lòng ái quốc nồng nàn.

Có nhiều nhà trí thức, theo lời ông Trương Vĩnh Tế, cháu nội của Cụ, đánh giá cuộc đời và sự nghiệp của Cụ và khẳng định rằng: Cụ là hiện thân của một sự tổng hợp toàn vẹn của truyền thống Khổng Phu Tử Đông phương với chủ thuyết chứng thực hay tích cực thuyết của Tây phương (2). Chính điều ấy làm cho cuộc sống của Cụ có ý nghĩa và đạt được nhiều thành công, mặc dù trong một thời cuộc bất như ý.

Nhìn lại sự nghiệp bác học đa dạng đa phương của Trương tiên sinh, tôi còn muốn làm một cuộc so sánh – không quá đáng chút nào – với triết gia Aristote lỗi lạc của nền cổ sử Hi Lạp vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, Aristote là tác giả của bao nhiêu tác phẩm, tài liệu với nhiều chuyên ngành, nào chánh trị học, luận lý học, sinh vật học, vật lý, sử học, văn chương và siêu hình học góp phần xây dựng nền văn minh cổ Hi Lạp rực rỡ. Thực có nhiều điểm tương đồng với nhà bách khoa Trương Vĩnh Ký của chúng ta. Công trình sáng tạo của Cụ Trương nhiều vô số, kể ra không hết nào là về lịch sử, về văn chương, văn học Việt Nam, về phong tục Việt Nam, về biên soạn nhiều tự điển, về dịch thuật, về sưu tầm phiên âm truyện Nôm và cổ văn Việt Nam, về sáng tác bút ký, thi văn, về tài liệu giảng huấn bước đầu của Việt ngữ, tiếng Hán, tiếng Pháp…cùng các sơ đồ, bản văn về vật lý thiên văn và y học thiên văn để giảng dạy thời tiết, chu kỳ vũ trụ, phương hướng v.v…Triết gia Aristote xây dựng mọi công trình của mình trên lẽ đạo Tây phương, tính nhất thống của vũ trụ học. Còn Trương tiên sinh lại lấy nền tảng ở Trung Dung, noi ý hướng của thánh hiền tìm về nguồn gốc Chính đạo, luôn luôn Người lo sợ mất chơn truyền đạo học vốn là giềng mối lẽ đạo của phương Đông. Mọi sáng tạo văn chương, hành động của Trương tiên sinh được xây dựng trên nền tảng đạo đức nho gia ấy, trên cảm thức siêu hình và hiện hữu sâu đậm đối với đất nước mà nhiều bậc thức giả đánh giá là nỗi niềm ái quốc cô đơn và rất cao đẹp của người.

Tuyển Tập quí vị đang có trên tay là một tác phẩm tổng hợp của một tổng thể nhân vật văn học, văn hóa tôn vinh và kết hoa tài đức, sự nghiệp của một bậc vĩ nhân tiên phong trong nền quốc văn mới chẳng những của một miền Nam nước Việt thâm hậu và nhiều đặc sắc về văn hóa. Mà đây còn là một bậc thầy khiêm cung, một vị đại hiền cao hạnh chung cho cả nước Việt Nam văn hiến hết sức đồ sộ, chói lòa từ trước đến bây giờ và mãi mãi. Chúng tôi xin được trân trọng hân hạnh giới thiệu Tuyển Tập Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký nầy đến chư tôn độc giả, đến quí vị thân hữu, đồng nghiệp, đến những ai ai v.v… có liên hệ ít nhiều đến mái trường Petrus Ký của tất cả chúng ta mà cũng là của một miền Nam văn hóa rực rỡ hào quang. Một nhà chánh trị Pháp, cố vấn của cố Tổng Thống F. Mitterrand có nói:”Chỉ có chữ nghĩa là sống đời đời”. (J. Attali) “Seuls les mots sont éternels”. Thực vậy, không phải thứ chữ nghĩa tùy thời cơ hội, không phải thứ chữ nghĩa chào hàng gian dối, không phải thứ chữ nghĩa mạo hóa mị dân, cũng không phải thứ chữ nghĩa thù tạc giao tiếp trong một xã hội thượng lưu phù phiếm mà đây là thứ chữ nghĩa mang nặng bản sắc giống nòi, vang lên Hồn Thiêng Sông Núi, thứ chữ nghĩa siêu việt mở đường cho lịch sử, dệt gấm hoa cho Đất Nước như của Petrus Ký tiên sinh thì đó mới thực là thứ chữ nghĩa nghìn đời bất tử vậy.

Vũ Ký

Giáo Sư trường Petrus Ký,

Nhà văn được Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đề cử tranh giải NOBEL văn chương.

Bruxelles (Thủ đô của Âu Châu Liên Hiệp)

Tháng 6/2005

(1) Cùng với Tuyển Tập nầy, có một “Tuyển tập thanh niên ca” do nhạc sĩ Lê văn Khoa hòa âm, gởi kèm theo làm tặng vật kỷ niệm CD cho độc giả. Ông Phạm Hồng Đảnh ấn hành.

(2) La synthèse de la tradition confucéenne et du positivisme occidental.__