“Trong tử vi của Bùi Xuân Trang có câu ‘Nhạn quá hàn giang cách’ và vốn là người gốc Bắc di cư về phương Nam, nơi vùng có khí hậu quanh năm ấm áp, nên ông tự ví mình như con chim nhạn thiên di về phương Nam khi mùa đông đến rồi chọn luôn bút danh Hàn Giang Nhạn”

(Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển)

“Trong căn gác nhỏ trên đường Vườn Chuối (quận 3), ông giáo Trang tức dịch giả Hàn Giang Nhạn cầm trên tay tờ Minh Báo, đọc đến đâu là dịch ra đến đấy. Anh thơ ký ngồi chờ sẵn, lót cả chục tờ pelure và giấy than rồi viết lại những lời dịch thuật trực tiếp của họ Hàn bằng một cây viết Bic. Ở dưới nhà, các tùy phái của các nhật báo nôn nao chờ đợi để mang về tòa soạn sớm nhất những trang giấy nóng hổi”

(Tám Vạn)

Hàn Giang Nhạn tên thật là Bùi Xuân Trang (1909-1981) sinh quán ở Thái-Bình. Khi tuổi vừa lên 9, ông được học chữ Hán với người chú họ, trau dồi chữ quốc ngữ với cha và tập tành Pháp ngữ với người chú ruột. Từ năm 1931, ông theo nghề giáo và dạy học ở các tỉnh Phú-Thọ, Kiến-An rồi được chuyển về quê nhà Thái-Bình.

Chân dung dịch giả Hàn Giang Nhạn

Năm 1948, ông làm việc ở sở công chánh Hải-Phòng. Sau ngày ký kết hiệp định Genève năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào Sài-Gòn và làm việc bên ngành công chánh. Năm 1957, ông dạy học tại trường Trần Lục ở khu Tân-Định và nhận dịch sách cho nha tu thư, trung tâm học liệu của bộ giáo dục Việt-Nam Cộng Hòa.

Năm 1963, ông bén duyên với việc dịch thuật truyện kiếm hiệp qua tác phẩm “Thiên long bát bộ” rồi “Hiệp khách hành”, “Liên thành quyết”, “Lãnh nguyệt bảo đao”, “Thư kiếm ân cừu lục”, “Tiếu ngạo giang hồ”, “Lộc đỉnh ký”, v.v.. Ông dùng bút danh Hàn Giang Nhạn để dịch thuật những tác phẩm của Kim Dung và của các nhà văn khác như Ngọa Long Sinh, Lương Vũ Sinh, Cổ Long, trong đó có bộ “Truyền kỳ mạn lục tân biên” của Nguyễn Tự. Ông còn sáng tác một số tiểu thuyết võ hiệp như “Hồng bào quái nhân”, “Đoạn hồn tuyệt cung”, “Độc cô quái khách”, “Ngũ âm phụng kiếm”. Ngoài ra, ông còn dùng bút danh Thứ Lang cho các tác phẩm dịch văn chương, khảo cứu, học thuật, lịch sử và bút danh Vô Danh Khách ở những truyện dịch hài hước hoặc các bài viết ngắn. Nhưng nổi danh nhất là bút danh Hàn Giang Nhạn khi ông mua bản quyền của tờ Minh Báo xuất bản ở Hongkong và dịch “feuilleton” (truyện dài đăng nhiều kỳ trên báo) bộ truyện “Tiếu ngạo giang hồ” cho các nhật báo ở Sài-Gòn.

Bên cạnh nhiều dịch giả đồng nghiệp giỏi nghề, Hàn Giang Nhạn là nhân tố nổi trội khi có hơn chục tờ nhật báo xuất bản ở Sài-Gòn đặt mua bản dịch của ông. Ngày hôm trước bài báo đăng ở Hongkong thì bữa sau sẽ theo đường hàng không, được dịch ra Việt ngữ và trình làng trên mặt các nhật báo ở Sài-Gòn. Cứ mỗi sáng, tùy phái của các nhật báo đến nhà ông và chờ đợi bản dịch mới nhất trong ngày. Hàn Giang Nhạn dịch trực tiếp từ trang Minh Báo và đọc cho người thơ ký viết bằng tay. Anh thơ ký phải lấy cả chục tờ “pelure” (loại giấy mỏng) lót với chục tờ “carbon” (giấy than) và cố gắng ấn đầu bút Bic xuống thật mạnh để chữ nghĩa có thể in qua trang giấy cuối cùng. Vị tùy phái nào đến trước thì nhận được bản ở trên được rõ nét, người tới sau phải đành chịu lấy bản ở dưới. Họ mang về tòa soạn, đoán chữ, sửa chữa qua loa rồi gửi qua khâu ấn loát nên văn chương, chữ nghĩa thường lộn xộn và có khác nhau đôi chút giữa các báo dẫu cùng là một dịch giả. Hôm nào vì thời tiết xấu hay vì một lý do kỹ thuật, máy bay từ Hongkong không tới được Sài-Gòn, các báo phải tạm gác một kỳ và đành phải chịu cảnh ế ẩm vì đọc giả chỉ mê say Kim Dung qua bản dịch của Hàn Giang Nhạn. Thì ra nếu không có truyện Kim Dung qua tài dịch thuật của Hàn Giang Nhạn thì báo chí không thể bán chạy.

Bản dịch Kim Dung của ông với lời văn sống động và tự nhiên đã khoác lên các nhân vật tính cách võ hiệp hiên ngang và hào hùng. Một số đoạn văn vần trong truyện khi được dịch sang Việt ngữ thì trở nên bóng bẩy và đượm nồng chất thi ca như trong “Tiếu ngạo giang hồ”:

“Gió xuân đầm ấm, ngàn liễu xanh tươi,

Hoa khoe sắc thắm, hương nức lòng người”

hay ở bài thơ “Khiển hoài” của Đỗ Mục đời Đường được thoát dịch trong tác phẩm “Lộc đỉnh ký”:

“Lưu lạc Giang-Nam đã bấy lâu

Cùng người nhỏ bé ở bên nhau

Mười năm chợt tỉnh Dương-Châu mộng

Mang tiếng trăng hoa nghĩ lại sầu”

Tiểu thuyết kiếm hiệp tạo ảnh hưởng lớn lao trong quần chúng, từ giới trí thức cho tới bình dân. Một số văn sĩ, thi sĩ, ký giả lấy tên các nhân vật trong võ lâm làm bút danh như Lê Tất Điều (Kiều Phong), Nguyên Sa (Hư Trúc), Chu Tử (Kha Trấn Ác), v.v.. Các cao thủ võ lâm xuôi ngược giang hồ như Lệnh Hồ Xung, Hoàng Dược Sư, Trương Vô Kỵ, Dương Quá, Đông Phương Bất Bại, Âu Dương Phong, Vi Tiểu Bảo, Nhạc Bất Quần, Quách Tỉnh, Châu Bá Thông, Vương Trùng Dương, v.v được giới trẻ thần tượng hóa và thuộc lòng từng chiêu thức võ công cũng như ngôn ngữ của mỗi nhân vật. Và hơn hết, vô số những “tiếng lóng” nhuốm màu sắc võ hiệp kỳ tình như “tẩu hỏa nhập ma”, “cho một chưởng là rồi đời”, “có cô gái Đồ Long lắc bầu cua, lắc một cái ra ba con gà mái”, “giở trò ma giáo”, “công phu thượng thừa, đao thương bất nhập”, “nhứt dương chỉ, nhị thiên đường, tam tông miếu, tứ đổ tường, ngũ vị hương, lục tào xá” hay sặc mùi “chợ búa” như “con mẹ nó”, “cút con bà mày đi”, “đại công cáo thành”, “sanh lòng lân tuất” (lòng thương hại, thương xót), “hồ ngôn loạn ngữ”, ” lòng hươu dạ vượn”, v.v.. được lan truyền rộng rãi trong cuộc sống đời thường.

Thời đó, một vài hãng phim ở Sài-Gòn cũng vào cuộc và thực hiện một số phim truyện kiếm hiệp như “Báu kiếm rửa hận thù”, “Quái nữ Việt quyền đạo” (hãng phim Mỹ Vân do đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện theo truyện kịch của Lê Khanh), “Long hổ sát đấu” (của hãng phim Cửu Long với sự chỉ đạo võ thuật của võ sư Hongkong Hàn Anh Kiệt và tài tử Lý Huỳnh). Dẫu quy tụ một lực lượng nghệ sĩ tiếng tăm ở nhiều lĩnh vực như kịch nghệ, phim ảnh và cải lương như Thanh Nga, Út Bạch Lan, Lệ Hoa, Á hậu Ngọc Tuyết, Bạch Lan Thanh, Ngọc Đan Thanh, Phương Hồng Ngọc, Kim Ngọc, Thanh Việt, Văn Chung, Khả Năng, Thanh Hoài, Tùng Lâm, Xuân Phát, Bảo Quốc, Trần Quang, Hoàng Long, Việt Hùng, Ba Vân, Lý Huỳnh, Kim Cúc, Năm Châu, v.v.. nhưng không gây được tiếng vang đáng kể.

Hàn Giang Nhạn đã dịch trên dưới 25 bộ truyện kiếm hiệp nhưng nổi bật nhất là những tác phẩm của Kim Dung, trong đó hai bộ “Tiếu ngạo giang hồ” và “Lộc đỉnh ký” đã giúp ông nhanh chóng nổi tiếng. Ông không chỉ là người dịch chữ mà còn sống động “nhập vai” vào các nhân vật hiện diện trên từng trang sách. Cơn bão tháng tư năm 1975 tràn vào phương Nam và mang theo biết bao hệ lụy. Cuộc sống người dân bị thay đổi đến không ngờ, sách báo bị đốt sạch và dịch giả Hàn Giang Nhạn đành mãi mãi gác bút cho đến khi giã từ cõi đời tạm bợ này.

TV, 08.10.2026