DÂN TỘC NÀO THÔNG MINH?

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

 

dan toc thong minh 01

Trí khôn rất khó đo lường. Nhiều người rất lanh khôn, nhưng lại học hành không giỏi. Cái đó người ta gọi là khôn vặt, khôn mẹo. Có người trước đó chỉ là phụ tá phòng thí nghiệm, chuyên lo rửa ống nghiệm, ấy vậy mà sau nầy trở thành nhà bác học, như trường hợp của ông Michael Faraday (1791-1867), người Anh.

Hiện nay Úc đang nghiên cứu và sắp xếp coi ai khôn. Sau nhiều năm tìm kiếm, họ ghi nhận là sử gia, khoa học gia, triết gia, thẩm phán, văn thi sĩ, ký giả…Có người lại lựa nhà bơi lội mới lạ? Họ không dùng chữ trí thức (intellectual) cho người khôn, mà chỉ dùng chữ smart hay thông minh, nhanh trí, clever hay thông minh, tài giỏi và bright hay sáng sủa, thông minh. Chữ nào cũng có nghĩa thông minh cả.

Vậy muốn biết được sự thông minh của một dân tộc, còn khó khăn hơn. Tuy nhiên trong việc học, cũng như tuyển chọn nhân viên làm việc, người ta thường trắc nghiệm trí thông minh bằng IQ (Intelligence Quotient do Alfred Binet, người Pháp sáng chế) , bằng văn bằng, bằng sáng kiến và phát minh đã có, hiểu biết sâu sắc và dự định trong tương lai của đương sự. Mới đây có nhiều danh từ mới như : thông minh xúc cảm emotional Intelligence hay emotional intelligence quotient (EQ), thông minh đa dạng Multiple Intelligence hay multiple intelligence quotient (MQ).

Muốn xét xem coi dân tộc nào thông minh, ta cần xét lại dân tộc đó qua ba khía cạnh trên. Giải thưởng Nobel là giải cao quí nhứt bao gồm rất nhiều bộ môn, đã được 106 tuổi vì giải đầu tiên bắt đầu vào năm 1901. Hiện nay trên thế giới đã có tất cả là 661 người thắng giải.

Như vậy dân tộc nào thông minh nhất? Có phải người Việt Nam, người Úc, người Trung Hoa, người Nhật, người Pháp, người Anh, người Nga, người Mỹ…?

 

Người Việt Nam thông minh?

Chưa có dân tộc nào trên thế giới đã đánh bại được Mỹ. Ấy thế mà Mỹ đã thảm bại tại Việt Nam. Sau khi chiếm miền Nam ngày 30.4.1975, CSVN đã tuyên bố tập đoàn CSVN là kết tinh của đỉnh cao trí tuệ loài người, mới đánh cho ‘Mỹ cút, Ngụy nhào’. Việt Cộng tập kết trở về miền Nam, không những ngực đầy huy chương, mà còn đầy văn bằng ‘phó tiến sĩ và tiến sĩ’ này nọ. Thật là phát ngán. Sau đó người ta mới biết được đó là những ông cống, ông nghè ‘đất’. Họ chỉ lừa bịp người nhẹ dạ, tin tưởng vào nghề tuyên truyền láo khoét cố hữu của họ.

Từ sau ngày chính quyền Sài Gòn sụp đổ, một sự thặng dư khoa bảng trầm trọng ở Việt Nam, nhất là Sài Gòn (nay làTP Hồ Chí Minh). Không biết bao nhiêu người có bằng đại học phải đi đạp xích lô, lái taxi, sửa xe đạp, xe mô tô ở vỉa hè. Một số đông người khác mua gánh bán bưng khắp hè phố, thật là tội nghiệp. Trong lúc đầy dẫy người có khả năng phải tảo tần, đầu tắt mặt tối kiếm miếng cơm manh áo, trong khi các trường học, các đại học lại thiếu giáo viên, giáo sư. Cảnh tượng trái ngược này, chỉ xảy ra tại Việt Nam sau ngày giải phóng miền Nam mà thôi.

Các khoa bảng, địa chủ, thương gia đều bị trừng trị bởi tội bóc lột nhân dân: ‘’Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ.’ Nền giáo dục CSVN suy đồi một cách đáng sợ. Chính Hồ Chí Minh đã dùng câu này như chủ trương bất hủ:

Vì lợi ích trăm năm, trồng người’. (1)

Giải thưởng Nobel là giải thưởng cao quý nhất thế giới, mà không biết bao nhiêu người đã đem hết tâm sức phát minh và nghiên cứu suốt đời, nhiều khi còn chưa được cấp phát.

Trước Đệ nhị Thế chiến, ‘Ông Năm’ đã phát minh biết bao nhiêu loại thuốc như: thuốc chủng ngừa dịch hạch ở Nha Trang, để cứu chữa hàng triệu người, mà còn chưa được giải Nobel. ‘Ông Năm’, một người ‘Việt Nam mới’ nhứt quyết sống chết, ở lại Suối Giao Nha Trang. Ðó là Alexandre Yersin. Một nhà bác học Việt Nam khác ở Pháp, từng được Pháp (Tổng thống De Gaulle) trao huy chương cao quý của Pháp và từng được đề nghị giải Nobel trong 5 năm liền, vào thập niên 1950, về phát minh ra thuốc DSS để trị bịnh cùi, mà không được. Ðó là hoàng thân Bửu Hội. Sau đó vì dấn thân vào chính trị, nên tên tuổi ông bị lu mờ luôn cho đến khi chết. Cũng cùng thập niên đó, nhiều thi sĩ ngoại quốc ủng hộ cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương giải Nobel Văn chương, nhưng cũng không thành công.

 

Việt Cộng có lãnh giải thưởng Nobel nào không?

Xin thưa: Có.

Vậy người lãnh giải nầy có tài năng, sáng kiến hay tận tụy suốt đời, cặm cụi nghiên cứu hay đấu tranh cho hòa bình nhân loại hay người Việt Nam không? Người đó có những đức tánh siêu việt nào không? Có lẽ người ta đã quá nể biệt tài vô song của ông nầy. Cái biệt tài đó là không chấp nhận điều nào hết tại bàn hội nghị Ba Lê, trong suốt 5 năm trường, mặc cho ai trổ tài hùng biện, tranh luận. Người ngồi ù lì ở hội nghị Ba Lê là Lê Ðức Thọ.

Ngoại trưởng Mỹ, TS Henry Kissinger, đã thuyết phục châm biếm rằng: ‘Ánh sáng đã hé ra cuối đường hầm, nơi đó có củ cà rốt.’ Y như thằng Bờm có cái quạt mo, phú ông trao đổi cái gì nó cũng lắc đầu… Chờ cho Mỹ chán, phải ký Hiệp định Ba Lê, rút quân cuốn cờ chạy. Tập đoàn CSVN lừa bịp thế giới, dưới danh hiệu Mặt trận Giải phóng Miền Nam, nuốt gọn miền Nam sau đó.  Mỹ không làm Hà Nội trở về thời đồ đá được, trái lại CSVN đưa Việt Nam trở lại thật sự thời đồ đá, vì chính phủ phủ nhận giá trị của người trí thức. Gần ba thập niên qua, Việt Nam có nhiều sửa đổi, nhiều phát triển, nhưng chưa thấm so với trào lưu thế giới ngày nay.

Lê Ðức Thọ lãnh giải Nobel Hòa bình, bây giờ thế giới trong và ngoài nước gào thét ủng hộ cho Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế, người anh hùng bất khuất, mặc cho tù tội giam cầm, vẫn cương quyết ở lại chống chế độ độc tài đảng trị.

 

Người Úc thông minh ?

Khi còn tại chức Thủ tướng Úc, ông Bob Hawke đã từng tuyên bố không những Úc là Lucky country, mà còn là Clever country. Vậy Úc thông minh ở chỗ nào?

Ngày nay nước Úc văn minh tiến bộ. Nền giáo dục cưỡng bách của Úc trước kia chỉ có tới lớp 10. Văn bằng Trung học đệ nhất cấp lớp 10, được gọi là Leaving School Certificate. Bây giờ họ bỏ luôn, không thi lớp 10 nữa. Giáo dục cưỡng bách là học xong lớp 12, tức đệ nhị cấp hay bằng HSC tương đương tú tài đôi của ta ngày xưa. Như vậy trẻ con ở Úc phải mài đũng quần ở ghế nhà trường tới 12 năm, cho tới lúc 17 – 18 tuổi mới cho ra đời.

Theo thống kê Úc thì từ tháng 2/1992, có 59.400 sinh viên tốt nghiệp đại học bị thất nghiệp sau khi ra trường. Phần đông là nam giới. Tỷ lệ thất nghiệp của người khoa bảng Úc là 34%, còn của người không có văn bằng đại học thì dưới 24%. Sĩ số sinh viên đại học Úc từ năm 1987 trở lại đây, là trên 1 triệu người. Bằng cấp càng cao lại càng thất nghiệp nhiều. Ngoài ra còn một số di dân và người tị nạn có bằng cấp cao thất nghiệp cũng nhiều. Riêng giới bác sĩ đã có cỡ 2500 người (2003). Họ phải làm đủ nghề để sanh sống, thật là đáng tiếc, trong lúc đó nông thôn đương khan hiếm bác sĩ.

Khoa học kỹ thuật ở Úc rất cao, nhưng do đất rộng người thưa, tài nguyên thiên nhiên nhiều, không khai thác hết, vì thiếu nhân lực. Cộng vào đó còn có nạn lương cao và hay đình công… Ngoài ra các hãng xưởng lớn không tài trợ các công trình nghiên cứu khoa học, như ở Mỹ. Sáng kiến có, tài năng có, nhưng không phát triển hết mức được, vì các khuyết điểm trên. Giám đốc CSIRO phải bỏ Úc, sang Mỹ làm việc. Gần đây giới khoa bảng Úc rời khỏi Úc, để di trú sang các nước khác làm việc rất nhiều.

Theo tài liệu mới của Ủy Ban Phát triển Kinh Tế Úc, Commitee for Economic Development of Australia (CEDA), do Gs Graeme Hugo Viện Ðại học Adelaide, cho biết năm:

1995-96                     28.670  người ra đi

1999-2000                         41.078     –

2000-01                             46.521     –

2001-02                             48.241     –

Năm 2001-2002, họ định cư ở:

Anh                                   31.628     –

Mỹ                                      9.606     –

Hong Kong                         6.392     –

Singapore                            5.381     –

Tân Tây Lan                        ?

Các nước Á châu như Mã Lai, Indonesia.

Tuy nhiên, từ năm 1945 trở lại đây, Úc cũng sản xuất được 8 nhân vật từng lãnh giải thưởng Nobel: (Nhắc lại là trước 1975, có hai cha con  Ông William Bragg & his son Lawrence Bragg cùng lãnh giải vật lý học năm 1915 về sự phân tích tinh thể cấu trúc của Quang Tuyến X.)

  1. Florey về Y khoa, chung với A. Flemming và E. Chain về thuốc Penicillin năm 1945.
  2. Burnet McFarlaine về siêu vi trùng học (Virology) năm 1960.
  3. Giáo sư Eccles thuộc Viện Ðại học Quốc gia Canberra, giải thưởng Nobel về sinh lý thần kinh học (Neurophysiology) năm 1963.
  4. Patrick White giải Nobel Văn chương năm 1972
  5. Cornforth giải Nobel về hoá học (Chemistry) năm     1975. Trước kia ông là học sinh trường Sydney Boy High School, hiện nay là Emeritus Prof. ở bên Anh.
  6. GS Peter Dohesty năm 1996 về Y khoa.
  7. BS Barry Marshall và Robin Warren năm 2005 về y khoa.

Ngoài ra còn nhiều khoa học gia lừng danh khác, không được lãnh giải. Hiện nay Úc đang xuất cảng nền y khoa ra các nước khác, kể cả Mỹ, như chương trình In Vitro Fertilization IVF, giải phẫu ghép tim, thuốc chũng ngừa ung thư cổ tử cung của Ian Fraser, về vật lý xe Solar Energy dùng năng lượng mặt trời, ở Queensland.

Nếu đem so với các nước khác, thì số người lãnh giải thưởng đem so với dân số ít ỏi của Úc, ngần ấy là rất cao, cao hơn nhiều nước trên thế giới. Hơn nữa chỉ toàn giải khoa học, y khoa và văn chương, tuyệt nhiên không có giải hòa bình.

Say mê trên chiến thắng, Úc không những bị chứng xuất não, xói mòn do nhân tài ra đi, mà còn bị thiếu hụt sinh viên ghi danh bằng Tiến sĩ phân khoa Toán-Lý-Hóa. Nhà Khoa học Peter Andrew cho biết năm 1969 có 18 sinh viên ghi danh bằng Tiến sĩ , bây giờ chỉ có 8 thôi.

Trong khóa họp tháng 8/ 2004, Tổng trưởng Khoa học và Kỹ nghệ, Peter McGauran cùng 50 nhà dự thảo của các Ðại học Úc xác nhận Úc cần 75000 nhà khoa học vào năm 2010. Ấy vậy, mỗi năm Úc mất đi gần 50000 người. Ðây là một sự xói mòn chất xám trầm trọng, bởi Úc chỉ lo bồi đấp bắp thịt mà thôi để lãnh gold medal, mà không lo nuôi dưỡng nhân tài, để xây dựng đất nước. Tháng 5/2006, GS Peter Doherty vô quốc tịch Mỹ để nghiên cứu khoa học vì Úc không có ngân quỷ cho khoa học.

Trung Cộng thì sao ?

Trung Quốc có nền văn hoá cổ truyền hết sức là phong phú. Có rất nhiều sáng kiến về mọi mặt, mà chính ngày nay nhiều khoa học gia còn nể. Thí dụ: la bàn, hỏa tiễn ngày nay cũng bắt nguồn từ pháo thăng thiên, các dụng cụ thiên văn hiện còn dựng trên nóc một toà nhà tại Bắc Kinh.

Nền văn hóa đó mai một đi, vì các vua chúa ngày xưa quá tự hào. Thêm vào đó tính cách gia truyền trở nên thất truyền.

Ngày xưa họ có dồi dào óc tưởng tượng, thần thông quán võ. Bên này phóng ra, bên kia thâu vô hay hóa giải. Ngày nay Mỹ có Patriot, để chận hỏa tiễn Sam.

Luận cứ vào số dân khổng lồ của mình, Mao Trạch Ðông đã từng dõng dạc tuyên bố: ‘Dân Trung Hoa không cần khôn hết. Cứ mỗi một triệu dân, có một người khôn là đủ rồi.’ Thật vậy, với số dân một tỷ ba như Mao Trạch Ðông nói, thì cũng đã có tới trên 1300 người khôn rồi ! Không khôn làm sao điều khiển được cả tỷ người dân?

Sau khi đánh đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Ðài Loan, Mao Trạch Ðông dựng nước Trung Hoa ngày 1.10.1949. Dân chúng được ăn học chữ nghĩa, nhưng chỉ đủ để đọc sách báo, để làm rập theo chỉ thị của nhà nước. Kế đến là Cách mạng Văn hóa do bà Giang Thanh, vợ của Mao Trạch Ðông trong Tứ Nhân Bang, phát động đã hủy bỏ nền văn hóa tốt đẹp của Trung Hoa, giống như Tần Thủy Hoàng đem sách vở đốt hết:

‘Diệt Khổng dương Tần’. Ông còn cho:

‘Khổng Khưu nghiết phẩn chi học’

Tức là cái học của Khổng Tử là cái học ăn cứt!

Trung Hoa sau đó theo Nga học hỏi, để theo kịp Âu châu hóa. Nhưng vào thập niên 1960, Nga và Trung Hoa xích mích về biên giới, nên Nga rút hết các cố vấn trung tâm nguyên tử về. Tưởng chừng như Trung Hoa không bao giờ thực hiện được bom nguyên tử, thế mà họ làm được, kể cả bom khinh khí. Cha đẻ ra trái bom nguyên tử đầu tiên năm 1964, là bác học Qian Sangiang.

Ngày nay họ làm hỏa tiễn, để bắn vệ tinh lên quỹ đạo. Chính Úc cũng nhờ họ bắn vệ tinh viễn thông lên quỹ đạo vào tháng Ba 1992 mà không thành công, nhưng sau đó Trung Cộng đã phóng hỏa tiễn đưa vệ tinh Úc Aussat B1 lên quỹ đạo. Trung Cộng đã nhảy vào thời đại không gian ngày nay từ đây. Mấy năm qua, Trung Cộng đã xuất cảng lò luyện nguyên tử, không biết có làm để bán cho nước nào không?        

 

Trung Cộng có ai lãnh giải thưởng Nobel không?

Mãi lo xây dựng xã hội chủ nghĩa và bành trướng thế lực, nên Trung Hoa chú trọng vào kỹ nghệ chết: sản xuất vũ khí, để đi chinh phục các nước lân bang, để khiến họ làm chư hầu… Cũng vì vậy mà họ không có chương trình nghiên cứu, để phụng sự nhân loại và khoa học căn bản. Bán lén vũ khí, để kiếm đô la.

Vì nghèo, thiếu phương tiện và thuốc men, nên họ phải đào sâu vào nền y khoa cổ truyền: khoa châm cứu. Bắc Kinh có trường Y khoa Ðông y, để dạy cho bác sĩ Trung Hoa và ngoại quốc, mà chúng tôi vừa có dịp dự khóa giảng tại đây (Chuyến đi Bắc Kinh 1992 và Miền nam Trung Hoa hồi tháng Giêng 2003). Tổng thống Nixon sang Trung Quốc, đoàn tùy tùng khoa học Mỹ ngạc nhiên trước kết quả kỳ diệu của khoa châm cứu gây mê, để giải phẫu (1972). Từ đó ngành châm cứu được thế giới chú ý và áp dụng. Nhưng hiện nay, họ không dùng châm cứu để gây mê nữa, vì không hiệu quả lắm Trung Hoa còn đòi đại diện cho con người trên quả địa cầu, nếu có cuộc tiếp xúc với người hành tinh, vì họ cho rằng nếu từ vệ tinh nhìn về quả địa cầu, thì chỉ thấy vệt duy nhứt do con người tạo ra, đó là Vạn Lý Trường Thành dài 7400 km, một kỳ công vĩ đại của Tần Thủy Hoàng, từ xưa.

Có 2 người Mỹ gốc Trung Hoa tên Tsuing Dao Lee (1955) và Chen Ning Yang (1957) lãnh giải thưởng Nobel Vật lý về nguyên tử năng. Người Pháp gốc Trung Hoa Gao Xiang lãnh giải Nobel văn chương, nhờ quyển Hồn sơn núi, Soul Mountain năm 1997. Ông được chào đón nồng nhiệt ở Hongkong, nhứt là ở Ðài Loan, nhưng không được biết mấy ở đại lục, nơi mà ông ra đi hồi năm 1980.

Với sự cởi mở tự do cho người dân và bức màn tre đã được vén lên, kinh tế miền Nam phát triển mạnh mẽ, bắt buộc kỹ nghệ và kỹ thuật cũng tiến lên theo. Phải chờ vài năm nữa, coi Trung Quốc có tạo được nhân tài xuất chúng nào không?

Ngày 15/10/2003 đánh dấu một trang sử mới. Trung Hoa cho phóng phi thuyền Thần Châu 5, do phi hành gia Dương Lợi Vĩ lái, đã trở về trái đất an toàn. Hai năm sau, Trung Hoa lại thành công với phi thuyền Thần Châu 6 với hai phi hành gia, bay năm ngày trong quỹ đạo. Thế giới nhìn Trung Hoa bằng cặp mắt khác: không những thán phục mà phải kính nể. Từ nay, ‘Made in China’ sẽ không  đồng nghĩa với đồ dỏm nữa.

 

Còn Pháp, Anh, Nga, Ðức, Do Thái, Ai  Cập, Ấn Độ..thì sao?

Pháp đứng đầu nền văn hóa nói tiếng Pháp. Anh đứng đầu khối nói tiếng Anh. Cả hai đàn anh nầy, đều có nhiều tài danh từng lãnh giải Nobel cho mọi ngành. Nhưng gần đây họ có nền kinh tế eo hẹp, không tài trợ được các chương trình nghiên cứu như xưa. Do đó mà hai nước nầy ít lãnh giải Nobel như trước đây. Chính A. Carrel muốn nghiên cứu về sự cấy các tế bào, đã phải bỏ quốc tịch Pháp, để sang Mỹ nghiên cứu. Sau khi lãnh giải thưởng Nobel năm 1912, ông lại trở về Pháp. Vì muốn nghiên cứu nữa, ông lại một lần nữa khăn gói sang Mỹ.

Vài thập niên trở lại đây, Liên Xô lãnh nhiều giải Nobel về Văn chương và Hòa bình. Chính cựu Thủ tướng Nga Mikhail Gorbachev cũng lãnh giải Hòa bình, lúc đương làm Thủ tướng. Các giải nầy được cấp phát, vì họ đã bạo dạn chống lại sự độc tài đảng trị hay chủ thuyết Mác Lê. Phải chăng đây là một âm mưu của Thế giới Tự do, nhằm cổ xúy họ từ bỏ cộng sản và chống lại chế độ?

Liên Xô chủ trương nghiên cứu vũ khí, kỹ nghệ chiến tranh, một kỹ nghệ giết người, ít vốn mà nhiều lời. Vũ khí cũng dùng để chi viện cho các nước nhược tiểu, hầu bành trướng chủ nghĩa Marxit-Leninit. Hơn nữa, nếu tài giỏi mà không thuận theo đường lối của đảng, thì bị coi như mất trí và bị đưa vào dưỡng trí viện mà ở. Ðó là trường hợp của A. Shakharov, cha đẻ ra bom nguyên tử Nga, đã lãnh giải Nobel Hòa bình, vì đòi tự do nhân quyền.

Người Ðức và Do Thái rất thông minh. Muốn làm bá chủ, Ðức phải diệt Do Thái với thảm họa Holocaust. Sau Ðệ nhị Thế chiến, Ðức chủ trương phát triển kinh tế, nên Ðức trở nên thịnh vượng.

Do Thái vì mãi lo tìm mảnh đất cắm dùi, đành phải lấn đất giành dân, nên đụng độ với các nước lân bang Trung Ðông,  cũøng không có thời giờ phát triển khoa học kỹ thuật, theo đúng tài năng sẵn có. Tuy liên miên bị chiến tranh và khủng bố tàn phá, Do Thái cũng góp vào việc phát triển khoa học.  Hai nhà bác học Aaron Ciechanover và Avram Hershko cùng người Mỹ Irwin Rose lãnh giải Nobel Hóa học 10/2004.

Ai Cập và Ấn Ðộ là 2 nền văn hóa cổ xưa. Ngày nay kinh tế xuống dốc, nên không phát triển như trước. Ấn Ðộ nghèo xơ nghèo xác, nghèo rớt mồng tơi mà phải nghiên cứu sản xuất bom nguyên tử, để trở thành cường quốc nguyên tử. Nhờ đó mới giữ vững biên cương khỏi sự xâm lăng của Trung Quốc.

Pakistan cũng nghèo, mà phải chế bom nguyên tử và hỏa tiễn để cầm chân Ấn Độ, nếu không Ấn Ðộ sẽ nuốt mất Kashmir. Muốn có tiền, họ lại xuất cảng kỹ thuật nguyên tử, nên bị điều tra năm 2003.

 

Và Nhật  hay Mỹ thông minh?

Người Pháp, Anh và Mỹ hết sức buồn rầu, vì từ trong nhà ra đường, đến sở làm, đâu đâu họ cũng đụng phải các loại vật dụng, mang nhãn hiệu Made in Japan!

 

Có phải chăng người Nhật thông minh hơn người Mỹ?

Con cháu Thái dương Thần nữ xưa kia, cũng chưa tiến bộ như các nước Á châu khác. Nhờ biết Âu hóa sớm, họ tiến bộ vượt bực. Chính nhìn thấy thế, các nhân sĩ Việt Nam mới mở trường học để tiến hoá theo Nhật, gọi là Phong trào Ðông du. Phong trào nầy bị Pháp dẹp tan, nếu không ngày nay Việt Nam văn minh, không kém gì Nhật bổn.

Về IQ, trẻ con Nhật cao hơn trẻ con Mỹ, vì chữ viết có phần tượng hình, bắt học sinh phải nhớ. Nếu đi học, học sinh được học nhiều giờ, nhiều ngày hơn. Tuy nhiên, sinh viên Nhật sau khi đỗ bằng kỹ sư, ra trường tìm việc làm, thì các sinh viên giỏi đã được các hãng xưởng nhận hết. Chẳng những được hưởng lương hậu, mà còn có phòng ốc, phương tiện máy móc dồi dào hơn cả các trường đại học. Các hãng muốn họ nghiên cứu khoa học, kỹ thuật thương mại nhiều hơn khoa học thuần lý. Bỏ nhiều năm học tiến sĩ, cũng không kiếm được nhiều tiền, nên hàng năm số sinh viên ghi danh cao học, làm luận án tiến sĩ sa sút. Nghiên cứu kỹ nghệ ít vốn, mà nhiều lợi trước mắt. Do đó, kỹ nghệ thu hút hết nhân tài, thiên tài của đất nước (theo Asahi Shinbum).

Nhật chỉ có 6 giải từ 1945-1997:

  1. Hideki Yukawa, Nobel Vật lý năm 1949.
  2. Yasunari Kawabata, Nobel Văn chương năm 1968.
  3. Eisaku Sato, cựu Thủ tướng Nhật, Nobel Hoà bình, năm 1974
  4. Kenichi Fukui, Nobel Hoá học 1981.
  5. Susumu Tonegawa, Nobel Sinh lý 1987.
  6. Kenza, Nobel Văn chương 1994.

Susumu Tonegawa đã phát biểu: ‘Không phải Nhật đã hun đúc sự phát minh của tôi. Nếu tôi còn ở lại đại học Nhật, tôi không thể nào thực hiện được điều mà tôi mơ ước.’ Susumu Tonegawa hoàn toàn thực hiện công trình nghiên cứu sinh lý lâm sàng (Clinical physiology) trong thời kỳ sinh sống ở Mỹ. Người Nhật không thiếu óc sáng tạo, nhưng vì muốn phát triển kinh tế để kiếm lời, nên họ đầu tư vào nghiên cứu để phát triển kỹ nghệ, hơn là nghiên cứu về khoa học thuần lý.

Khoa trưởng Phân khoa Nông nghiệp của Ðại học Kyoto, ông Kazutake Jyuma, đã than: ‘Các hãng tư có phòng thí nghiệm tối tân và trả lương hậu. Hơn nữa, sinh viên có thể làm luận án tiến sĩ, mà không cần tới đại học. Ðương nhiên nó không có giá trị trong khoa bảng.’ Chính vì vậy mà Nhật thua về sáng kiến khoa học, văn chương, mặc dầu họ có đầy đủ tài năng và tài chánh dồi dào. Nhật có nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới. Đồ Nhật tràn ngập thị trường quốc tế, đánh đổ đồ điện, nhứt là đồ điện tử của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Ðức… nhưng Nhật không đánh nổi các nước khác, nhất là Mỹ về mặt sáng tạo.

Vài năm gần đây, sống trong thanh bình và thịnh vượng, không bị khủng bố uy hiếp như Mỹ,  Nhựt lấy thêm bốn giải hóa học và vật lý học. Ðiểm đặc biệt là các khoa học gia nầy, hoàn toàn sáng tạo nghiên cứu tại nước nhà. Bốn người nầy là:

1/  Hideki Shirukawa năm 2000.

2/  Ryoji Noyori  năm 2001.

3/  Koichi Tanaka năm 2002

4/  Masatoshi Koshiba, Vật lý  năm 2002.

Tổng cộng là 10 giải từ 1945 đến 2006.

 

Kết luận

Xuyên qua các phần trên thì Anh, Pháp tuy đầy đủ tài năng nhưng tài chánh eo hẹp, không tạo được kết quả tốt đẹp. Chỉ nhìn lại Luc Montagnier, cha đẻ ra siêu vi trùng bệnh AIDS (1982) của Pháp, không được giải Nobel. Trái lại Mỹ đã lãnh giải Nobel về bệnh AIDS, ít lắm cũng 3-4 người.

Hiện nay Việt Nam phát triển và tiến bộ rất nhiều, nhưng chưa theo kịp đà văn minh khoa học kỹ thuật thế giới, mặc dù có nhiều cố gắng, năng lực, khéo tay và cần cù. Muốn tiến bộ Việt Nam phải thay đổi đường lối nếu không, khó mà phát triển được, vì ngoại quốc không chịu bỏ vốn đầu tư. Các danh tài trong nước khó phát triển. Các tài danh hải ngoại có trở về, muốn xây dựng đất nước, cũng phải ra đi như trường hợp của Singapore, vì độc tài đảng trị, thiếu tự do ngôn luận.

Các nền văn hóa cổ xưa như Ấn Ðộ, Hy Lạp, Trung Hoa… đều xuống dốc, vì không có khả năng tài chánh.

Thánh Gandhi tuyên bố Ðộc Lập 60 năm qua (1947), Ấn Ðộ vẫn èo ọc, nghèo nàng, dân thiếu ăn mà chỉ lo sanh sản để từ vài trăm ngàn, nay lên tới gần tỉ dân. Nhưng từ 2001 trở lại Ấn Ðộ phát triển nông nghiệp nuôi dân và nhứt là kỷ thuật điện toán (IT), nên trở thành con voi khổng lồ đang rống lên tiếng nói tiến bo về nông nghiệp và khoa học kỹ thuật đang rống lên tiếng nói tiến bộ về nông nghiệp và khoa học kỹ thuật.

Các nước Ai Cập, Trung Ðông chỉ bơm kho tàng dầu hỏa vô tận lên, rồi bất nhơn tự do tăng giá hốt dollars, không kể tới khó khăn của các dân tộc khác. Tiền rừng bạc bể về tay các vua chúa, còn dân không được hưởng. Ðất nước không phát triển, lại không có tài năng, phải du nhập khoa học kỹ thuật của các nước khác.

Nhật là quốc gia duy nhứt, có nền kinh tế có thể kình chống với Mỹ và nền kỹ thuật phát triển vượt bực thế giới. Nhật có nhiều tài năng. Tuy nhiên Nhật không chú trọng vào việc phát triển khoa học căn bản, mà chỉ dồn hết tài năng để phát triển kỹ nghệ và chiếm thị trường để làm giàu. Ngoài ra, Nhật còn mang nặng tính chất kỳ thị nhất thế giới, cho nên Nhật còn nguyên thủy nòi giống. Chính vì vậy, Nhật nhất quyết không thu nhận nhân tài nước khác. Ngày nay, Nhật đang thiếu hụt nhân công trầm trọng, do sự hạn chế sinh sản của người phụ nữ Nhật.  Tuy vậy, Nhật lại giải quyết bằng cách sản xuất ‘robot’, chớ không chịu du nhập công nhân.

Mấy năm nay, Nhật bỏ tiền nghiên cứu và lãnh giải hóa học và vật lý, chứng tỏ Nhật đã thức tỉnh và muốn chiếm địa vị đàn anh trong khu vực Á Ðông. Nhựt có thừa tài năng, kỹ thuật và tài chánh muốn làm gì cũng được, nhưng bị Liên Hiệp Quốc cầm chân, nếu không, chưa biết ai hơn ai.

Gần đây, Nhựt chú tâm vào phát triển khoa học kỹ thuật để phát triển kỹ nghệ, nên mới lãnh thêm mấy giải khoa học.

Năm 2003, Nhật chi tới 104 tỷ USD để nghiên cứu khoa học, trái lại Mỹ bỏ ra 282 tỷ USD.

Úc cũng có nền đa văn hóa như Mỹ, nhưng không tiến bộ như Mỹ được, vì sự kỳ thị và phủ nhận văn bằng ngoại quốc. Úc có tài năng, nhưng vì mãi lo phát triển và biểu dương thể lực, sức mạnh của bắp thịt, để lãnh Olympic Gold Medals, mà quên tài năng chất xám! Tiền đầu tư vào các chương trình đâu đâu không ích lợi cho việc phát triển khoa học kỹ thuật.

Úc nên hồi tỉnh lại, đừng cho xuất não nữa. Phải có chương trình khuyến dụ và hồi hương kiều bào quay về quê cha đất tổ, khuyến dụï sinh viên ghi danh học cao học, hầu xây dựng và phát triển công kỹ nghệ. Có thế đất nước mới giàu mạnh. Sơ sơ, mỗi năm các Ðại học Úc cũng đem về cho quốc gia vài chục tỉ bạc chớ ít ỏi gì. Hằng năm gần 50.000 nhân tài tốt nghiệp Ðại học ra đi, đổi lại 100.000 di dân thật là thảm hại, vì đây là gánh nặng cho quốc gia bởi phải lo cho ăn ơ,û học hành, nếu họ không ăn sung mặc sướng, du thủ du thực, rồi phá hại đất nước nầy, rồi phá hại đất nước nầy.

Úc phải hướng thượng lại, nếu không, Nhật sẽ chiếm thế thượng phong đó. Chỉ có sự phát triển khoa học kỹ thuật, mới đem lại sự phồn vinh về kinh tế, kỹ nghệ, nâng cao dân sinh, dân trí và sự ấm no của dân chúng.

Còn nữa, anh Ba Tàu đang cựa mình, hằng năm sản xuất tới…350.000 kỹ sư! Một con số khổng lồ, đáng lo ngại! Trung Hoa không dùng câu ‘ Trung Hoa đang lên, China rising’ để tránh đụng đầu với Mỹ. GS Jia Qingguo, thuộc Ðại học Bắc Kinh, Trường Bang giao Quốc Tế đề nghị dùng chữ nhẹ hơn, ‘Nước Trung Hoa ôn hòa tiến bộ’, China peaceful development’.

Sau khi bức màng sắt sụp đổ, Liên Xô tan rã, các khoa học gia chạy sang các quốc gia tự do sinh sống. Việc nầy làm Nga bị chứng xuất não, phải mất vài thập niên nữa mới xây dựng lại được như xưa. Tài chánh cũng sụp đổ, nhưng như có phép mầu từ lòng đất phúng ra, Nga khai thác được mỏ dầu cứu vãn nền kinh tế lụn bại. Hiện nay Nga đang phát triển lại.

Mỹ lo phát triển kinh tế và chiếm thị trường, nhưng lại muốn làm bá chủ hoàn cầu, nên lúc nào cũng lo phát minh sáng kiến, sáng chế điều mới lạ, để gây lòng tin của các nước đồng minh đàn em. Nếu thiếu nhân tài, Mỹ không ngần ngại, đi khắp thế giới lùng kiếm nhân tài mang về, để làm giàu cho đất nước Mỹ. Mỹ thu hút chất xám của các nước trên thế giới, để xây dựng Mỹ quốc giàu, mạnh.

Tại Mỹ các tài năng trẻ hăng say hoạt động, để tranh giành tước vị. Các giáo sư phải gia tăng khảo cứu. Giáo sư nào không nghiên cứu, thì sau 5 năm sẽ mất chức. Các mầm non tài hoa sẽ lên thay thế, kể cả giáo sư có giải thưởng Nobel, cũng không chắc giữ mãi ghế giáo sư suốt đời như ở Nhật, Pháp, Úc… Phần nhiều các trường Ðại học Mỹ đều có ít nhiều giáo sư từng lãnh Nobel. Chính vì vậy mà Mỹ lãnh giải thưởng Nobel không biết bao nhiêu mà kể. Từ năm 1901 tới nay, Mỹ lãnh tất cả 277 giải trong tổng số 661. Năm 2004, Mỹ lãnh thêm 3 giải.

Giờ đây chắc chắn Mỹ sẽ dẫn đầu thế giới, vì địch thủ đáng sợ của Mỹ là Liên Xô đã tan rã từng mảnh…nhưng đừng quên: Nhật đang thức tỉnh và con khủng long Trung Hoa đang vươn mình rồi đó. Nó đang bay lên tận mây xanh. Không biết rồi đây nó sẽ phun ra lửa hay phun ra vàng hay phun ra cái gì đây. Hãy chờ xem!

Ðầu năm 2007, Trung Hoa phóng vệ tinh lên hủy đạo để phá vệ tinh củ xưa, làm Mỹ Anh lún tún. Ðầu tháng Ba 2007, thị trườnh Thượng Hải la hoản làm làm Mỹ, Anh, Úc điên đảo, chới với. Chỉ cần đuôi chó của Trung Hoa ngoe ngẩy là thế giới cũng rùng mình chớ phải chơi! Hiện nay Trung Hoa thặng dư có sẳn 1300 tỷ USD. Thế giới đang lo có ngày  sẽ  bị Trung Hoa bao vây!! 

 

Ghi chú:

(1) Ðây là danh ngôn của Quản Trọng:

‘Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc

Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc

Bách niên chi kế, mạc như thụ nhân’

Nó có nghĩa là:

Nếu có kế hoạch một năm, thì không gì bằng trồng lúa,

Nếu có kế hoạch 10 năm, thì không gì bằng trồng cây,

Nếu có kế hoạch 100 năm, thì không gì bằng trồng người.