CON NUÔI CHA KHÔNG BẰNG BÀ…

Tô Văn Cấp

Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông.

Con cháu đông cũng không bằng ông nuôi bà.

Sau ba lần bấm chuông “kính coong”, chờ một phút rồi tôi mới lấy chìa khóa mở cửa vào, không thấy chú Tâm ngồi xem TV như thường lệ ở cái phòng khách luộm thuộm. Tôi gõ cửa phòng ngủ cũng không thấy ông. Hơi lo, tôi ra vườn sau nhà thì thấy ông đang thu vén quét dọn những thứ lỉnh kỉnh lại cho gọn, việc mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Tôi mừng cho sức khỏe của ông không đến nỗi tệ, chưa kịp chào thì ông đã trách:

– Cấp đấy à, cháu có chìa khóa sao không tự động mở cửa vào mà hôm nay lại còn bày đặt bấm chuông?

– Thì coi như cháu báo động trước, nhỡ chú có khách thì sao? Chú dọn nhà chuẩn bị rước dâu phải không?

– Dâu đâu mà rước, ngồi ngoài này đi cho thoải mái. Chú đi pha trà, có người bạn mới gởi cho gói trà Thái Nguyên khá lắm.

Nói xong ông chỉ tôi ngồi vào cái bàn tròn làm bằng đá mài, kê dưới mái hiên ở sân sau mà ông vừa phủi bụi sơ sài rồi ông đi pha trà. Tôi không cản mà còn tỉnh bơ như người nhà, mà là người nhà thật, vì ông là chồng của dì ruột tôi, tôi nói với theo:

– Trà ai cho chú vậy, phải cô Tâm không, trà Thái Nguyên hay Bắc Ninh đấy? Trà nào cũng được, nhưng chú nhớ pha keo-keo một chút, chứ ống trà “lune di” thì chán chết.

Tiếng Tây “le Lundi” là Thứ Hai, nhưng trong đám lính nghèo chúng tôi thường gọi café hay trà mà phải chế thêm nước lần thứ hai là trà “lune di”, là trà dão, nước loãng lòe-lòe, uống trà Thái Nguyên “lune di” thì có nghĩa là uống trà “thái đức”.

Tôi để chiếc bánh bía, thứ bánh ngọt nhân sầu riêng mà chú Tâm rất thích nhâm nhi với nước trà, và tờ báo có đăng tin vui về đám cưới của hai cụ trên 90 tuổi ở huyện Chợ Lách lên mặt bàn. Trong khi chờ chú pha trà, tôi ngồi quan sát mảnh vườn nhỏ ở sân sau. Vài cây ớt hiểm, bụi xả, vạt rau dấp cá, vài dây mồng tơi, bụi lá mơ, vài gốc riềng v.v.. tất cả đang khô héo dần như chú tôi, vì thiếu nước, thiếu bàn tay săn sóc của dì tôi.

Mảnh vườn này thật xanh tươi khi dì tôi còn sống, những cây rau bà trồng là thú vui và đôi khi cũng giúp ông bà chuyện bếp núc. Đôi lần tôi thấy bà tỉa mấy lá mồng tơi cũng đủ cho hai ông bà một tô canh thơm ngọt, nay thì những sợi mồng tơi ấy cằn cỗi, lá nhỏ xíu mà nhiều trái, trái mồng tơi màu tím thì vô tích sự, ăn không được, dẫu có hòa với nước làm mực thì cũng không đủ tím đậm để viết thư tình, chỉ đủ vẩy bẩn lên áo trắng cô nữ sinh ngồi ghế phía trước.

Từ ngày dì tôi mất, chú Tâm đưa tôi một chìa khóa để tự do tới lui nên tôi thường xuyên đến thăm ông nhiều hơn, dường như mỗi ngày, vì ở cùng xóm, đi bộ dăm ba phút là tới. Tuy vai vế là chú cháu nhưng tuổi tác không chênh lệch lắm và cùng là dân gốc huynh đệ chi binh nên chú Tâm và tôi ý đầu tâm hợp, có nhiều kỷ niệm vui buồn đời lính. Bữa nay tôi đến sớm hơn thường lệ vì muốn mang đến cho ông một tin vui trên báo.

Tờ báo đưa tin Tháng Tư năm 2012, ở ấp Chợ, xã Phú Phụng, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre có cụ bà Bùi Thị Vinh và cụ ông Nguyễn Văn Tươi, cả hai đã đều 91 tuổi, vừa chính thức kết hôn và quyết chung sống hạnh phúc với nhau cho tới khi “đầu bạc răng long”.

Bốn chữ “đầu bạc răng long” dùng để chúc mừng những cặp tân lang và giai nhân kết hôn ở tuổi mười tám đôi mươi, chứ còn chúc mừng hai cụ Vinh Tươi ở tuổi trên 90 như thế thì không ổn mà phải chúc hai cụ hạnh phúc tới mãn đời và mãi mãi cả đời sau ở chốn vĩnh hằng.

Hai cụ đã từng mong ước hôn lễ được cử hành theo nghi thức tôn giáo ở nhà thờ và muốn nhà cầm quyền sở tại công nhận, cấp hôn thú đàng hoàng, nhưng ước nguyện đó không thành vì các con chống đối, nay thì chúng “OK”. Cụ ông nói:

– Không lẽ tự nhiên đến ở với nhau thì bà con làng xóm người ta coi mình ra gì! Nhưng bây giờ cả hai chuyện ấy chẳng còn quan trọng nữa, miễn là tụi nhỏ (các con riêng của hai ông bà) nó chịu hai ông bà ở chung là được rồi. Bà con hàng xóm bây giờ hiểu chuyện của tụi tui nên họ cũng chịu lắm.

Lời nói chân phương mộc mạc nhưng chứa đầy tình cảm và hạnh phúc của cụ Tươi khi đã được các con “cho phép” kết hôn. Xin chúc mừng hai cụ Vinh-Tươi đời đời bên nhau, tối lửa tắt đèn có nhau, chẳng dám chúc hai cụ sớm có “tin vui” mà chỉ hy vọng sẽ có nhiều cặp theo gương sáng của hai cụ cho đời thêm vui. Một trong những người hạnh phúc theo gương hai cụ Vinh Tươi là ông thầy Lạng Sơn của tôi.

“Súng là vợ, đạn là con”, mấy anh lính chiến chúng tôi thích ca vọng cổ như thế, ông thầy Lạng Sơn, cấp chỉ huy của Binh Chủng tôi thì có cả ngàn cây súng, nhiều đạn vô cùng nhưng ông mới chỉ có vài mảnh tình vắt vai cho vui đời lính chiến mà chưa bao giờ lập gia đình. Mải mê chiến trận, tuổi Xuân qua đi nhanh quá, cuộc chiến tàn, ngó lại chỉ còn những chiều cuối Đông đang ầm ập tới, ông bỗng cảm thấy như cô đơn, sớm hôm chiều tối chỉ nhìn “hình ta trên vách”, nhìn tô phở mà chú nhỏ hàng xóm mua hộ buổi sáng đã lạnh tanh, bụng không dạ trống mà nuốt không trôi, chán phở, nghĩ tới chén cơm nguội chan nước dưa chua mà ứa nước miếng, nhưng tìm đâu ra? Phải chi có bà ấy nhỉ. Ông tưởng tượng:

– Bà ơi, mùi nước dưa chua của bà thơm quá, bà còn cơm nguội không?

– Ông khéo vẽ chuyện, phở thì khó chứ cơm nguội thì lúc nào nhà cũng có. Nếu ông muốn cơm nguội thì tôi dọn cho.

Cầu được ước thấy, ông thầy Lạng Sơn của tôi bất ngờ gặp lại cố nhân. Anh Cọp Biển độc thân gặp lại em Trưng Vương không vương “phu-nhi”, tình yêu tuổi đôi mươi, tuổi mùa Xuân sống lại, bùng nổ vào chiều cuối Đông, mùa của những lễ hội, Tết Tây và Tết Ta. Thế là một đám cưới vui như Tết cho thỏa lòng ước mong, cho con tim vui trở lại.

Tôi không chúc anh chị Lạng Sơn hạnh phúc tới đầu bạc răng long mà chúc anh chị hạnh phúc đến mãn đời, nhà đầy tiếng cười, không phải tiếng cười của trẻ thơ mà là của tuổi già bên nhau:

– Em đâu rồi?

– Em đây, anh cần gì thế?

– Xích lại gần anh tí nữa đi em, để anh nghe tiếng em cười, hồi này anh hơi lãng tai.

Hạnh phúc quá đi thôi, tình yêu tuổi 80 nồng ấm cứ như 20, và đáng quý hơn nữa là không cần động lực nào thúc đẩy, không do chức tước tiền bạc mà chỉ do tình yêu thuở ban đầu, tình đầu cũng là tình cuối thì còn gì hạnh phúc hơn.

Thông thường trước đây thì cha mẹ cho phép các con lập gia đình, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, nhưng nay chuyện đó đã xưa rồi, nhất là trong cộng đồng người Việt sống xa quê hương thì chuyện yêu đương, chọn lựa bạn trăm năm là quyền tự do của con cái, cha mẹ dẫu ưng hay không cũng đành chép miệng cho xong. Quan niệm về hôn nhân ở tuổi trẻ đã thay đổi thì cũng nên thay đổi, cần cởi mở hơn khi hai người già độc thân cần đến với nhau.

Chú dì Tâm tôi có 10 người con, ông bà đã đem được toàn bộ gia đình ra hải ngoại. Khi các con khôn lớn, thành tài và lập gia đình thì họ đi ở riêng hết, cái tổ ấm chỉ còn lại hai ông bà già bên nhau. Sống với nhau đã có 10 mặt con nên chú dì tôi yêu thương nhau lắm, luôn bên nhau, nhưng mỗi người có thú tiêu khiển riêng, không ai cằn nhằn ai. Ông quẩn quanh quét dọn, đọc báo, nghe radio, viết lách, bà thì săn sóc mảnh vườn, bụi xả, cây ớt, một nắm mồng tơi, quả mướp là có tô canh rau ông chan bà húp. Xong bữa, ông đưa bà cái tăm, bà cười:

– Răng đâu mà xỉa?

Ông bảo:

-Thì ngậm tăm cho nhớ là chúng mình đã ăn cơm để còn uống thuốc.

Thế rồi ông đi lấy thuốc áp huyết, thuốc cao máu, thuốc tiểu đường v.v… với ly nước:

– Thuốc đây, bà uống đi, nhớ uống từ từ thôi kẻo uống vội bà mà bị sặc nước là tôi lo lắm.

Hạnh phúc như thế đấy, nên khi dì tôi “đi” rồi thì chú Tâm buồn lắm. Radio, sách báo chẳng còn ích gì cho buổi ấy, ông không tha thiết gì nữa mà thẫn thờ ngồi nhìn mảnh vườn tàn dần theo người vợ quá cố và mỗi cuối tuần lại lần mò ra thăm mộ dì tôi ở vườn Vĩnh Cửu, góc Bolsa và Hoover, kế bên Peek Family. Một bữa sang chơi, tôi thấy chú Tâm hái một nắm lá mồng tơi, vài quả ớt, một quả mướp đắng, chú gói cẩn thận vào một miếng giấy rồi cho vào bịch nylon, tôi hỏi đùa:

– Chú hái rau của dì con đem cho bà nào vậy?

– Bà nào đâu, đêm qua chú nằm mơ thấy dì nói thèm canh rau mồng tơi nên sáng nay chú gom một mớ đem cho bà ấy, cháu có rảnh đưa chú đi thăm dì được không?

– Đem hoa viếng mộ chứ ai đem rau bao giờ, người ta thấy cười chết.

– Dì cháu đẹp hơn, thơm hơn các loại hoa, bả không cần hoa, rau ớt này bả săn sóc vun trồng, nay bả “đi rồi” mà vẫn còn vương vấn với vườn rau.

– Và vương vấn với chú Tâm nữa.

Nghe tôi nói thế ông mỉm cười hạnh phúc như khi dì tôi còn sống. Nhưng đó chỉ là phút chốc thoáng qua, nếu không thay đổi lối sống, sớm muộn gì chú Tâm cũng bị bệnh trầm cảm, một cụ già khen vợ quá cố đẹp hơn các loài hoa nên không đem hoa viếng mộ mà lại là một mớ rau mồng tơi thì có vẻ như một dấu hiệu không bình thường nên tôi nói chuyện với các con của chú tìm cách giải quyết, tuổi già sống đơn côi thì không tiện.

Tuy là anh em con bá con dì nhưng các con chú dì Tâm coi tôi như anh cả trong gia đình. Họ thường hỏi ý kiến tôi về chú Tâm và nhờ tôi giúp đỡ, vì tôi ở gần và cũng hưu rồi. Có lần tôi đề nghị giải pháp đưa ông vào trại dưỡng lão thì ông bảo:

– Cả đời tao sống với trại, hết trại lính tới trại tù, đừng nhắc đến chữ “trại” với tao nữa.

Tôi lại đề nghị các con chú đóng góp thêm để một trong 10 đứa đưa bố về sống chung hay thay phiên nhau mỗi đứa “nuôi” bố một tháng, như vậy một năm mỗi đứa mới tới phiên nuôi bố một lần. Chúng đồng ý, nhưng mỗi khi đề cập đến chuyện này là chú Tâm lắc đầu:

– Bố không muốn phiền đến các con, bố muốn ở nhà này vì hình bóng của mẹ vẫn còn đây.

Bố già khó tính nên các con cũng “khó tính”, không biết tính sao cho vẹn chữ hiếu. Tuy ông trả lời vắn tắt nhưng với thái độ cương quyết, vì ông không muốn rời xa căn nhà đầy hình ảnh và hương hoa của dì tôi, dù bà đã đi xa hơn ba năm rồi, thỉnh thoảng ông lại dở hơi, “dở chồng kỷ niệm cũ để tìm hơi”.

Tôi hiểu và thông cảm với tính dễ dãi nhưng lại rất “khó tính” của mấy ông già, ngại ngùng về ở chung với các con vì e ngại luộm thuộm trong vấn đề vệ sinh cá nhân, không phù hợp với nhà cao cửa rộng của các con. Con đã vậy, còn dâu rể thì sao? Chỉ một cử chỉ thở dài của các con, dù vô tình cũng khiến bố già áy náy, phiền muộn nên các ông già muốn có một thế giới riêng. Có lần tôi nửa đùa nửa thật:

– Hay là chú cứ ở đây, nhưng các em mướn một bà vú săn sóc chú 24/24.

Đám con trai, con rể thì cười hô-hố ra điều ủng hộ, còn mấy cô con gái thì phản đối:

– Rước về để gãi lưng à?

Thế rồi chuyện ông “Vũ Như Cẫn” vẫn như cũ, chú tôi lủi thủi ra vào một mình. Tôi áy náy khi thấy ông buồn nên rủ ông đến sinh hoạt với hội cao niên Westminster ở góc đường số 13 và Hoover, nơi đó có rất nhiều điều thú vị và bổ ích mà tôi đã sinh hoạt từ lâu.

Trước lạ sau quen, chú gặp một vài ông cựu quân nhân thế là chuyện đơn vị cũ chiến trường xưa nổ như pháo, một vài đối thủ bên bàn cớ tướng “gặp nước pháo nổ đùng ra chiếu” v.v… Từ đó chú Tâm có vẻ linh hoạt hẳn lên, nhất là lúc sau này tôi thường thấy chú hay rù-rì với cô Tâm, cũng lại tên Tâm.

Cô Tâm là một nữ lưu ở độ tuổi sắp “cổ lai hy”, nhưng rất linh hoạt, lịch thiệp và đẹp lão, tứ thời khăn “voan” mỏng quấn cổ, hững hờ che chuỗi hạt trai màu lá chuối non, áo lụa Hà Đông màu mỡ gà, bên ngoài khoác áo nhung màu huyết dụ, trông dáng thật sang trọng. Nhưng tôi “mê” nhất là khi cô luyến láy dân ca quan họ Bắc Ninh, những ca khúc “Bèo Dạt Mây Trôi”, “Người Ở Đừng Về”, “Tìm Trong Chiều Hội Lim”:

“Bâng khuâng, bâng khuâng trong gió chiều Hội Lim.

Em ở đâu, ở đâu để anh mãi đi tìm…là em ở đâu?”

Cho dù ai sắt đá đến đâu cũng phải ngẩn ngơ khi nghe cô Tâm ngân nga:

Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi,

Anh ơi, em vẫn đợi bèo dạt

Mây trôi, chim ca, tang tính tình,

Cá lội

Ngậm một tin trông…

Hai tin đợi… ba, bốn tin chờ…

Sao chẳng thấy anh!

Một mảnh trăng treo suốt năm canh.. ….

Đêm sắp tàn, trăng tàn, em vẫn chờ sao chẳng thấy đâu?

………

Người đi xa, có nhớ, là nhớ ai ngồi trông cánh chim trời

Sao chẳng thấy anh!”

Nhớ lại lúc tôi nghe cô Tâm ngân nga điệu dân ca quan họ Bắc Ninh: “Sao chẳng thấy anh?” Trong lúc ngồi chờ chú Tâm pha trà, tôi gõ nhịp mấy ngón tay lên mặt bàn, thả hồn theo “bèo dạt mây trôi”, nhớ về những buổi chiều trên đồi Cô-Rốc, động Ông Đô ở địa đầu giới tuyến Quảng Trị, nhìn nắng quái chiều hôm khuất dần sau dẫy Trường Sơn, tai lắng nghe tiếng depart pháo địch, khi nghe ục-ục thì nhảy nhanh xuống hố. Vậy mà vẫn có người không kịp xuống hố nên đành xuống “mồ” và rồi ở nơi xa xôi, người vợ, người tình vẫn ngóng cổ trông: “Chốn xa xôi, em vẫn đợi, sao chẳng thấy anh về!”

Chú Tâm mang bình trà và hai cái chén hột mít đặt lên bàn, chú hỏi:

– Nghĩ gì mà ngồi thừ ra vậy?

– Nhớ về đồi Cô-Rốc Quảng Trị, nghĩ đến cô “bèo dạt mây trôi”.

Chú im lặng, tráng chén rồi rót nước, màu xanh vàng óng ánh, mùi thơm đậm, tôi cũng im lặng, bẻ chiếc bánh bía ra làm hai. Đôi khi những người đàn ông ngồi bên nhau cùng nhâm nhi ly trà, cùng nhiều bầu tâm sự nhưng lại lặng thinh, bữa nay tôi linh cảm hình như chú muốn tâm sự điều gì nên tôi đưa nửa miếng bánh ngọt cho chú Tâm rồi gợi chuyện:

– Cháu quen rất thân với cô Tâm từ lâu rồi nên thấy nhiều lão mê “bèo dạt hoa khôi” này lắm đấy, nhưng họ vẫn phải “kính nhi viễn chi”, chú là người đến sau mà lại khiến con tim cô Tâm rung ngay thì chú tài thật! Hồi nãy cháu bấm chuông “kính coong” cũng là để đề phòng trường hợp “bèo dạt hoa khôi” trôi về đây đấy. Chuyện giữa chú và cô Tâm thì tụi con chú và cháu biết rồi, nhưng hôm nay cháu muốn tìm hiểu thêm về cách thu phục “nhân Tâm” của chú hay do tiếng sét ái tình.

– Thu phục nhân tâm gì đâu, cũng vì trùng tên Tâm mà ra. Để chú kể qua cho Cấp nghe, chắc cháu còn nhớ bữa bà Tâm hát cho chú cháu mình nghe bài “người ơi người ở đừng về”. Thấy bà ấy “hay hay” và cũng dễ thương nên chú nói đùa:

– Tâm bảo Tâm đừng về thì Tâm đừng về.

Bà ấy cười rồi dần dà nên quen. Sau đó chú bạo phổi hỏi thêm đôi điều về dĩ vãng thì bà ấy cũng vui với tâm sự:

– Tôi là gái làng Vạn, tỉnh Bắc Ninh nên yêu dân ca quan họ Bắc Ninh, vì bố tôi dạy học ở trường trung học Ngô Quyền và Trí Tri Hải Phòng nên gia đình tôi dọn về đấy.

Nghe bà ấy nhắc đến Hải Phòng là chú vội cướp lời ngay:

– Tôi cũng là dân Hải Phòng, học trường Ngô Quyền với thầy Hưng, sau đó thì tôi bỏ ngang, vào học trường Bảo Chính Đoàn bên Bính Động.

– Thầy Hưng là bố tôi, còn trường sĩ quan Bảo Chính Đoàn thì ở bên Thủy Nguyên chứ không phải Bính Động, phải đi qua đò Bính mới tới được.

Nghe bà Tâm nói thế, chú cảm thấy hồi hộp nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh để hỏi thêm:

– Sao bà biết rành đường đi nước bước về trường Bảo Chính Đoàn quá vậy. Có quen ai không?

– Mẹ tôi có cửa hàng xén ở Chợ Sắt. Sau giờ học, tôi ra bán thay bà cụ, có mấy ông sinh viên sĩ quan Bảo Chính Đoàn mang Alfa trên cầu vai học ở bên ấy, cuối tuần thường hay la cà đến cửa hàng xén của mẹ tôi để mua kim chỉ. Mấy ông ấy bảo là đem về vá quần áo vì chưa có vợ.

Nghe bà Tâm nói về dĩ vãng của bà mà sao nó gần như trùng với dĩ vãng của chú nên chú đưa đẩy một câu lả lơi với chủ ý thăm dò:

– Bà tên Tâm, tôi cũng Tâm, gốc Hải Phòng, chung một cha (thầy Hưng) có khi chúng mình là… “anh em”.

– Tâm là tên chồng tôi, ông ấy mất lâu rồi, còn tên tôi là Ngọc, Ngọc Anh.

Nghe bà Tâm nói tên riêng của bà ấy là Ngọc Anh khiến chú rúng động, tên Ngọc thì có nhiều, nhưng Ngọc Anh bán hàng xén ở chợ Sắt Hải Phòng thì chỉ có một, đích thị là cô ấy rồi. Chú muốn la to lên nhưng cố hỏi thêm một câu như để tự giới thiệu mình:

– Có phải là Ngọc Anh ở số nhà 28, ngõ Hải Dương, phía sau nhà thờ Phố Dinh, Hải Phòng không?

Bà Tâm nhìn chú trân trân, rồi như quá ngạc nhiên, giọng xúc động, bà ấy buột miệng hỏi:

– Sao ông biết?

– Anh là SVSQ Bảo Chính Đoàn ngày ấy đây, mỗi cuối tuần được cô Ngọc mời về nhà cho ăn canh bánh đa riêu cua với rau rút mà.

– Ông, ông là Tâm thật đây sao? Tôi tưởng ông đã…

Chú vội vàng xua tay ra hiệu ngắt lời để bà ấy đừng nói thêm chữ “chết”, và rồi chuyện gì xảy ra sau đó giữa Ngọc và chú thì cháu đã biết rồi, không phải tiếng sét ái tình mà là mối tình rỉ sét gần 60 năm rồi. Hôm nay chú kể tiếp đầu đuôi cho cháu nghe:

– Lúc đó chú và Ngọc yêu nhau và hai bên đã hứa hẹn trăm năm, nhưng xảy ra di cư 1954, chú theo trường sĩ quan Bảo Chính Đoàn vào Nam và biệt tin Ngọc từ đó. Không biết cô ấy có di cư vào Nam hay không, nay bất ngờ gặp lại nhau trên đất tị nạn, xa quê hương vạn dậm thật là mừng-mừng tủi-tủi, vả lại cả hai cùng cô đơn, không ai bị ràng buộc chuyện gia đình nên mối tình đầu trở thành tình cuối, hai người kín đáo nối lại duyên xưa.

– Tình cũ không rủ cũng đến, bây giờ chú tính sao?

– Chú đã dọ ý các em rồi, mấy thằng con trai, con rể thì chúng không có ý kiến, nhưng mấy đứa con gái thì không bằng lòng chú nối lại với bà Tâm! Kể ra cũng buồn, nhưng thôi, đã hy sinh cho con cháu tới giờ này thì hy sinh cho trót. Cho tụi nhỏ nó vui, vả lại mình cũng già rồi!

Biết ý ông muốn nói điều gì, tôi mở tờ báo ra đọc bản tin đám cưới của hai cụ Vinh-Tươi 91 tuổi cho ông nghe rồi nói:

– Chú à, tình yêu không có tuổi, nhỏ yêu cha mẹ, lớn yêu người tình, già yêu con cháu và sau cùng là yêu “đất” nước. Vả lại xã hội Mỹ không được phép kỳ thị tuổi già, biết bao người trên thế giới muốn đến Mỹ, trong khi mình đang sống trên đất Mỹ thì cứ từ chối tuổi trẻ, luôn miệng kêu “già rồi” là sao? Chú không rượu chè, không gái-gú, không cờ bạc, bỏ hút, rồi vẫn cày để lo cho gia đình, chú chung tình với dì, chú là người cha hiếm có với con. Nay dì đã đi xa, tụi nó ra ở riêng, chú còn gì để hy sinh thêm cho họ nữa? Cháu sẽ thuyết phục mấy “bà chằng” này cho.

– Thôi đừng, không khéo tụi nó lại tưởng chú ham vợ nên nhờ cháu nói giùm.

– Chú đừng lo, cháu biết phải làm gì.

Tuy hứa với chú Tâm như thế, nhưng thực tế tôi chưa biết phải làm gì là “làm gì” trong hoàn cảnh có nhiều điều tế nhị khó nói. Tuổi trẻ hiện nay khi lập gia đình đều muốn ra riêng, không ở chung với bố mẹ, vì sợ người già khó tính, nói nhiều, bắt theo các phép tắc. Trong khi đó thì người già là một bệnh viện, nhận đủ thứ bệnh, việc săn sóc người già không phải dễ, và thực tế, sinh kế của tuổi trẻ là điều quan trọng hơn cả. Rắc rối đa, nhưng từ từ rồi tính.

Bữa sau, tôi mang hai tô hủ tíu Mỹ Tho đến, loại hủ tíu dai, khô (nhưng có nước), mà ông thích. Tôi trông thấy ông ngồi coi TV nhưng trên trán dán miếng “bandage”.

– Trán chú làm sao vậy?

– Hôm qua chú lập cập đập trán vào cánh cửa tủ, mở tủ ra lấy trà mà quên đóng vào.

Mở cửa tủ ra để lấy cái gì đó rồi quên đóng vào là cái tật hay quên “dễ thương” của người cao niên, nhưng vết thương trên trán của chú Tâm làm tôi nhớ đến một chuyện:

Tôi nhớ lại nhạc phụ của tôi đi tè rồi bị té u đầu trong lúc con cháu vắng nhà. Vì không được cấp cứu kịp thời nên cụ hôn mê, sau ba tháng là cụ đi luôn! Trong trường hợp này nếu có người bên cạnh, gọi 911 đúng lúc thì bớt nguy hiểm. (Có một dụng cụ y khoa đeo vào cổ tay, mà tôi thấy quảng cáo trên TV, khi người già ở nhà một mình mà bị té thì chỉ việc bấm một cái là nơi cấp cứu họ biết ngay.)

Khi thấy ông, bà, bố, mẹ già bị té thì các con cháu nóng ruột thường gắt:

– Đã bảo mà… Đã nói bao nhiêu lần rồi là bố (mẹ) phải đi đứng cho cẩn thận, cứ hấp tấp.

Đã té đau, lại bị con cháu rầy la, dù la kiểu “thương cho roi cho vọt” thì thân già đành nuốt nước mắt tự trách thầm: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!”

Nhưng điều quan trọng là chính các cụ và con cháu không hiểu nguyên nhân tuổi già hay bị té là do đâu, nhất là những cụ bị cao máu, mà cứ tưởng là các cụ không cẩn thận, vô ý v.v…Tôi hỏi Bác Sĩ Phạm Vũ Bằng thì ông giải thích rằng:

– Người già thì mạch máu đóng mỡ, bị giòn, dễ bể, dễ gãy, bỗng dưng thấy ở bắp vế, cánh tay hay bẹn có một vết bầm, dù không đụng chạm đâu cả. Đó là do mạch máu chỗ đó bị bể, máu lan ra làm thâm tím xung quanh, chỉ vài bữa là nó tiêu đi, nhưng nếu đó là mạch máu trong não, dù là mạch máu li-ti cũng sẽ làm người ta mất thăng bằng và té, cấp cứu kịp thời thì không sao nhưng chậm trễ là nguy hiểm.

Từ giải thích này của Bác Sĩ Bằng khiến tôi nghĩ ngay đến trường hợp của nhạc phụ tôi và nghĩ đến chú Tâm, phải tìm cách gỡ rối tơ lòng. Tôi nói nhỏ với chú vào giường nằm và dặn kỹ ông vài điều: “Chú cứ thế, cứ thế, mọi chuyện khác để cháu lo.”

Tôi gọi điện thoại cho các con chú Tâm, báo cho họ biết chú bị té, ai ở gần thì phải đến thăm ông ngay.

Khi họ đến đầy đủ thì ông đã nằm thiêm thiếp ngủ trong phòng, các con nhìn trán ông dán băng tỏ vẻ lo lắng, tôi ra dấu cho họ để ông ngủ và ra ngoài tôi bàn chuyện. Sau khi giải thích cho họ vì sao người già hay bị té và nguy hiểm như thế nào khi không cấp cứu kịp thời, tôi nói tiếp:

– Các em thấy đó, ông nhạc anh vì té rồi hôn mê mà đi luôn, nếu hôm nay chú bị té mà không ai gọi 911 rồi chú hôn mê luôn như đang nằm kia thì các cô chú tính sao? Đưa chú vào bệnh viện rồi chờ nhận tin không vui hay sao? Nếu tai qua nạn khỏi nhưng bị liệt chân tay thì đưa chú vào trại dưỡng lão hay đưa chú về ở chung với các em, hoặc các em thay nhau đến đây để canh chừng bố, trực 24/24 để săn sóc bố?

Tất cả các con trai, gái, dâu, rể nghe tôi hỏi mà không ai nói được điều gì, tất cả đăm chiêu lo lắng suy nghĩ, thấy vậy tôi tố thêm:

– Ngày xưa, muốn con người có gia đình, sinh con đẻ cái, xã hội phát triển thì Chúa phán: “Người nam không được ở một mình, mà phải kết hợp với người nữ.” Nay sống trên đất Mỹ thì người cao niên độc thân không nên ở một mình, mà nên kết hợp với một người nữ, nếu thấy hợp tính hợp nết, để săn sóc nhau, để gọi 911. “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.” Nếu bố già nằm thiêm thiếp đó rồi đi luôn thì mới sáng mắt ra, mới sụt-sà sụt-sịt, nước mắt ngắn dài. Tại sao có người tình nguyện săn sóc chú, cô Tâm muốn săn sóc chú thì các em lại ngăn cản?

Tất cả các con chú Tâm vẫn im lặng, ra chiều suy nghĩ…

Thế rồi khoảng một tháng sau, các con tổ chức một bữa cơm đại gia đình với lời chúc:

– Một túp lều mô-bô-hôm, Song Tâm hạnh phúc.

Thông thường chúng ta thấy một cặp vợ chồng già đi chung đường thì người nam luôn đi trước còn người nữ lẽo đẽo theo sau, nhưng nếu đọc giả nào thấy hai ông bà thủ thỉ cầm tay, sánh bước bên nhau đến nhà thờ Westminster, mỗi sáng đi bộ quanh khu tượng đài Việt Mỹ thì đó chính là ông bà Song Tâm. Cả hai đều có tấm lòng như nhau và hai quả tim đã “yêu trở lại”.

Giới cao niên Việt Nam sống trên đất Mỹ có nhiều cái thừa, thừa ăn, thừa mặc, thừa thuốc men, thừa mứa, nhưng có hai cái thiếu khiến người già mau già thêm, đó là thiếu vận động và thiếu bạn.

Ông có cái computer hay 52 lá, bà thì có cái DVD, CD, Ipad để xem phim Hàn Quốc, xem tài tử “Choi Xong Jong” đóng phim “Chơi Xong Giông” cảm động quá khiến bà khóc! Còn các ông nằm nhiều hơn ngồi, ngồi nhiều hơn đứng, đứng nhiều hơn đi. Theo nguyên tắc “use it or lose it”, cái gì ít dùng thì teo.

Vậy thì xin quý lão nên đi bộ hằng ngày, đi đều đặn cho tới khi nào không đi bộ thì thấy nhớ, ấy là lúc sức khỏe điều hòa.

Cái thiếu thứ hai khá buồn hơn, đó là thiếu bạn.

Bè thì nhiều nhưng bạn tâm giao thì hiếm. Những buổi tiệc nho nhỏ “hấp hôn” kỷ niệm 30 năm, 40, 50 năm, và 60 năm, quả thật là món quà hạnh phúc trời cho, xin hãy nâng niu và giữ gìn. Nếu nửa đường gãy gánh, một lão niên nào đó đang cô đơn mà tìm được người bạn ý hợp tâm đầu thì tại sao lại khắt khe khi họ mong ước tìm đến nhau? Họ chỉ mong góp gạo thổi cơm chung, chung mái nhà, chung phòng thì có sao đâu? Chung giường ư? Đó là hạnh phúc trời cho, ít ra cũng có được cái bàn tay biết gãi lưng đúng chỗ ngứa thay cho cái bàn tay làm bằng tre bằng gỗ. Nếu một khi “không kham nổi đoạn đường” thì khác giường càng dễ ngủ, nhưng vẫn chung một mái ấm.

Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông,

Con cháu đông không bằng ông nuôi bà…

Là điều hạnh phúc.

Điều cuối cùng muốn nói với quý độc giả là những người già, dù cho còn đủ cả vợ chồng, cũng không nên ở riêng rẽ một nơi vắng vẻ, sẽ rất nguy hiểm khi bị té ngã, áp huyết tăng lên cao, nếu không có người gọi 911 ngay thì sẽ mang tai họa.

(Zô đi bà. Một hai ba, zô, zô, zô.)./.