Ba Chàng “Ngự Lâm…”

Tô Văn Cấp

Trong thời gian bị tù VC, tôi ở chung với nhiều đồng khóa, đồng môn, tuy có một vài “con sâu”, nhưng tuyệt đại đa số đều là những tấm gương sáng để cho tôi soi, trong số đó có 3 người mà tôi hãnh diện được tôn các anh lên bậc “Thầy”, tôi gọi đùa là “Ba Chàng Ngự Lâm”, đó là Thầy Trần Toán, Phan Bát Giác K18 và Võ Văn Ðê K22.

Từ ngày ra tù, tôi đã mong ước được gặp lại các anh để đứng nghiêm chào, nhưng vẫn không biết hai Thầy Trần Toán và Phan Bác Giác ở đâu, nay bất ngờ nghe tin Thầy Trần Toán đã về cõi phúc!

Tôi thành kính chia buồn cùng tang quyến và các Niên Trưởng K18. Xin kính chúc ông Thầy Trần Toán thảnh thơi trên Thiên Quốc.

Thầy Trần Toán và tôi cùng ở chung đội tù 12 trại Vĩnh Quang A mà đội trưởng là tên Ngạ… lùn, một đội trưởng hắc ám với đồng tù, nhưng mẫn cán cán bộ tên Tính. Thầy Toán có những đức tính của “người trên”, không những đối với đồng tù và ngay cả với cai tù. Cai tù thấy uy tín và ảnh hưởng của Thầy đối với đồng tù nên có ý lợi dụng để làm khó tù nhân, nhưng trước những lý luận tình người, tính cương quyết nhưng không chống đối khiến cai tù không tìm ra bất cứ lý do gì để hại Thầy và anh em tù nên đành cúi đầu chịu thua.

Chúng tôi, những đứa em hãnh diện có một đàn anh như thế, mong ngày ra tù được gặp anh, nhưng đã hơn 30 năm không biết anh ở đâu? Nay nghe tin anh giã từ gia đình và đồng khóa, từ xa xôi, tôi xin cúi đầu vĩnh biệt Thầy:

Ông Thầy Trần Toán K18 Trường VBQGVN.

* * *

Khác với Thầy Trần Toán, Thầy Phan Bát Giác thì lại có nhiều “góc cạnh” đáng nể, tôi gọi Thầy là “Tám Cạnh”. Một buổi sáng năm 1977 tại trại tù Yên Bái, khi chúng tôi vừa từ trong Nam chuyển ra cái cốc này, tù được lệnh lên núi chặt cây để làm hàng rào nhốt mình, chặt nứa để làm nhà, các tù đang chặt nứa* trên núi, tôi bỗng nghe tiếng tên bộ đội la lớn rồi tiếng kéo cơ bẩm súng AK47 nghe cái “rẹc”. Tôi liếc nhìn xem chuyện gì thì thấy Thầy “Tám Cạnh” hai chân dạng háng, tay phanh áo ngực thách thức:

– Mày bắn đi, tao muốn mày bắn.

Mũi súng AK đang nhắm vào Thầy Giác, hai bên im lặng gườm nhau, tình thế căng thẳng tột độ, chỉ cần ngón trỏ của tên bộ đội xê dịch ½ cm là anh Giác trở thành “chiến sĩ vô danh trong chốn rừng sâu Bắc Việt”! Nhưng chừng hơn phút sau, lưỡi lê AK đầu súng hạ xuống, tên bộ đội quay đi: “Ðại nghĩa đã thắng hung tàn”.

Thầy Giác phản đối quyết liệt là vì tên bộ đội chỉ có nhiệm vụ xách súng đi theo canh chừng tù, còn chỉ tiêu chặt bao nhiêu là do trại, do cai tù (cán bộ quản giáo), nhưng tên bộ đội này bắt tù chặt 2 bó nứa*, thay vì một bó theo chỉ tiêu trại quy định, hắn lợi dụng bắt tù làm thêm 1 bó nữa để giao cho gia đình nó.

(* nứa là một loại tre nhỏ thẳng, dài chừng 5m, đập dập ra, cài sát vào nhau để lợp mái nhà hay làm phên, làm vách che, mỗi bó 25 cây, khá nặng)

Tuy cùng tổ nhưng vì mới “biên chế” nên chúng tôi chưa biết gốc gác của nhau, nhưng khâm phục thái độ không sợ chết trước AK uy hiếp nên tôi mon men đến xin làm quen “cây tùng trước bão” này.

– Xin lỗi anh, trước đây anh ở đơn vị nào?

Anh nhìn tôi có vẻ nghi ngờ rồi trả lời cộc lốc:

– Ở TQLC.

Nghe anh Giác nói ở TQLC tôi không tin, vì với thành phần bị chuyển ra Bắc thì trong phạm vi TQLC, chúng tôi biết nhau hết nên hỏi thêm tí nữa:

– Anh học quân trường nào và ở tiểu đoàn TQLC mấy?

Tám Cạnh trừng mắt nhìn tôi:

– Hỏi làm gì lắm thế, muốn điều tra hả?

– Xin lỗi anh, đường đột làm quen, vì nhờ anh mà tôi khỏi phải chặt 2 bó…

– Tôi Khóa 18 VB, nhưng bị “sọoc-ti-lát”, về TÐ4/TQLC, được vài chuyến hành quân, trong trận Bình Giả 31/12/1964 thì “chống nạng cày bừa”, nhưng không giải ngũ…

Phải nói thật là ngay lúc đó tim tôi đập loạn nhịp, một đàn anh VB, một đồng đội TQLC và là một tượng đài ngay trước mặt mà tôi không biết, tôi đứng nghiêm, đưa tay chào và nói nhỏ:

– Tân Khóa Sinh… Khóa… và cũng là TQLC trình diện niên trưởng.

– Làm việc đi, không tụi nó quay lại bắn cả hai bây giờ, tối về lán nói chuyện sau.

Khi K18 VB tốt nghiệp thiếu úy, được phân phối đi khắp các quân binh chủng nên Binh Chủng TQLC không tuyển mộ được ai, ngoại trừ anh Giác là trường hợp đặc biệt. Vả lại do khác tiểu đoàn nên chúng tôi không biết nhau, nay đã là anh em một nhà, một trường giữa chốn ngục tù thì dựa lưng vào nhau mà sống.

Trong đội này còn có các anh Trần Ðình Ðàng K13, Trần Công Ðài K16, Ðinh Xuân Lãm, Lê Văn Huyền K17, nhưng vì hợp tính “ẩu” nên anh Giác và tôi là cặp “bài trùng”. Chúng tôi chung tổ, chung đội từ cốc Yên Bái rồi sang Trại 8 Hoàng Liên Sơn, mỗi khi đi rừng leo núi là chúng tôi theo nhau.

Năm 1979, khi Tiểu Bình dạy cho “Ba-ác Hồ” một bài học thì tù chuyển từ quân đội sang cho bò vàng (Công An) săn sóc, chúng tôi từ Hoàng Liên Sơn về trại Vĩnh Quang A nhưng bị phân tán, anh Giác đội 14 cuối dãy, tôi đội 12 đầu dãy nên 2 đội cách xa nhau một cái sân khá dài. Sau giờ lao động thì đội nào ở riêng đội đó, bị cấm tuyệt đối đi ra ngoài sân, cấm “quan hệ linh tinh”, vi phạm là cùm.

Một sáng Chúa Nhật, nghỉ lao động, trong khi những nhà “tư bản” thì ca-cóng, nấu nướng, còn tôi đang học tiếng Anh chống đói. Cai tù bảo rằng học tiếng Anh thì được nhưng tuyệt đối cấm học tiếng Mỹ, thì nghe có ai gọi, ngó ra cửa thấy “ông nội” Phan Bát Giác vẫy tay. Tôi vội chạy ra, chưa kịp hỏi chuyện gì thì anh nắm tay tôi kéo đi:

– Qua tau ăn chè.

– Anh ẩu quá, nó cùm cả hai bây giờ.

“Tù trong tù”, trong tù mà còn bị cùm thì còn gì khổ cực hơn, nhưng ai đã từng đói trong tù thì biết vị ngọt, vị béo nó quý như thế nào, nó là thần dược, là nấm linh chi đông trùng hạ thảo, phục hồi sức khỏe cho những bộ xương biết đi. Tôi sợ bị cùm, nhưng nghĩ tới chén chè thì nước miếng cứ ứa ra, miệng “em chả, em chả”, mà chân tôi thì chạy nhanh hơn anh Giác.

Giữa đội 14 của anh Giác và đội 12 của tôi cách nhau một cái sân trống dài chừng 200m. Ðây là vùng cấm tù không được đi lại, lúc nào cai tù và trật tự cũng rình để bắt nhốt những tù nào dám vi phạm đi lang thang, muốn đi từ buồng này sang buồng khác. Ðây là đoạn đường chiến binh mà chướng ngại vật không phải là kẽm gai, mìn giả mà là đạn thật AK và còng số 8, vậy mà anh em tôi nhắm mắt làm liều thì kể cũng ẩu thật.

Lách mình chui qua cánh cửa hẹp của đội 14 mà cửa lúc nào cũng đóng, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Anh em tôi ngồi bệt xuống đất, trên miếng giấy “cement” có hai cái bát và một xoong chè “bà cốt”. Chè “bà cốt” là chè nấu bằng gạo nếp với đường đen (nâu) nêm thêm miếng gừng là thành chè “bà cốt”, chè này ít thông dụng với những ai có đời sống trưởng giả, có đồ ăn đồ để v.v… chè bà cốt chỉ để cúng cô hồn, ma đói vào ngày rằm tháng 7 hằng năm.

Anh Giác và tôi cùng bao nhiêu tù nhân chính trị khác đang là những “ma đói, cô hồn” năm này qua năm khác trong các trại giam, ngục tù CS, nên khi vừa nhận được gói quà có bọc đường đen móng trâu và kí nếp, hai báu vật trong tù, anh Giác thanh toán ngay thành nồi chè. Chén anh chén tôi, loáng một cái là đáy nồi chè sạch như lau, nhìn nhau thầm tiếc, giá chưa ăn thì còn nồi chè để mà ngắm.

Trong tù có nhiều cảnh cười ra nước mắt, “cám treo heo nhịn đói”, tù lãnh chén cơm độn thóc xong, chưa vội ăn ngay mà cứ ngồi nhặt từng hạt thóc cắn lấy cái nhân gạo để kéo dài bữa ăn cả tiếng đồng hồ, thực ra ăn hay không ăn vẫn đói như nhau nên mới bày ra trò ăn bằng mắt cho nó sướng, tự dối lòng rằng mình có của ăn của để.

Ðang tiếc nồi chè vừa ăn xong thì Tám Cạnh lôi ra cái điếu cày, anh em mỗi người làm một bi thuốc lào hiệu ba số 8 (888), rít một hơi dài, ngậm miệng ém khói, khói tìm đường thoát ra bằng lỗ mũi, chân tay tê-mê, đầu gật gù rồi chúi nhũi xuống thế là “người tình khói sương” làm tù sướng tận cung mây.

Tỉnh cơn say, tôi đang lo lắng tìm cách nào có thể vượt đoạn đường dài để trở về đội của mình thì anh Giác hiểu ý bèn nhét vào túi tôi 2 tán đường móng trâu và bảo:

– Ðừng có lo, thằng Ng… trật tự nó sẽ đến dẫn mi về, hắn tới rồi kia kìa.

Vừa lúc đó thì trật tự Nguyễn Ðình Ng…, bạn ta, cũng vừa đến. Hắn liếc mắt qua chỗ tôi và anh Giác ngồi rồi đi một vòng quanh đội 14 giả vờ gõ các chấn song sắt như để kiểm tra có ai cắt không, rồi hắn đi ra khỏi đội 14, thế là tôi bám liền theo sau hắn mà chẳng chào hỏi gì nhau.

Hai tên đồng môn, đồng khóa mà như hai kẻ xa lạ, không nói với nhau nửa lời, Ng… cứ thủng thỉnh bước tới, coi như không biết có ai theo sau, nhưng những con mắt cú vọ của thần chết VC thấy trật tự Ng… đi trước, tù tôi theo sau thì chúng lại tưởng trật tự dẫn tù đi “làm việc” với quản giáo. Còn anh em tôi hiểu rằng Ng… làm bình phong cho tù tôi trở về buồng 12 trong trạng thái thơ thới với tình huynh đệ giữa anh Giác, Ng… và tôi.

Miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời, chuyện tôi tôn “Tám Cạnh” là thầy không phải do chén chè mà từ trước lâu rồi anh là “cây tùng trước bão”. Với Ng…, tuy bị mang tiếng là trật tự nhưng Ng… không chỉ bao che cho một đồng khóa mà còn bao che rất nhiều những chàng tù khác nữa. Họ đã “vi phạm” quy định nhà tù nhưng được Ng..chống đỡ một cách rất kín đáo, đôi khi người nhận ơn không nhìn ra. Rất tiếc có những trường hợp “làm ơn mắc oán”, có anh vi phạm nội quy, gây ra những lỗi mà Ng… hết “đường binh” nên phao tin đồn nhảm, oán trách Ng…

Trong thời gian đi tù, ai mà bị (được) trại chỉ định làm đội trưởng hay trật tự thì thường bị đứng giữa hai lằn đạn, bạn và thù. Quản giáo bắt phải làm, nếu làm xuất sắc thì đồng tù chụp cho cái mũ gian ác. Ðiều đó không sai, cũng có vài tên gian ác thật, nhưng không phải tất cả, mà có những đội trưởng và trật tự biết việc phải làm và biết làm sao không hại đồng tù mà xong chuyện trại giao phó, các anh xứng đáng nhận được thiện cảm của đa số anh em.

Ngược lại cũng không ít “ông” tù thuộc dạng “thần nước mặn”, núp trong đám đông, dựa vào đám đông để tránh nặng tìm nhẹ khiến cả đội phải chịu ảnh hưởng tai hại. Vì họ mà cả đội không được tắm sau một ngày làm việc cực khổ trên rừng, tối đến, thay vì được nghỉ ngơi thì lại bị ngồi học tập, phê bình rút ưu khuyết điểm! Họ là một tên ích kỷ, chính họ mới là người đáng trách, nhưng sau này ra khỏi tù, ở hải ngoại họ lại là những người vỗ ngực xưng hùng và đổ lên các đội trưởng và trật tự những chuyện tưởng tượng. Mới đây, ông Trần Nọ vỗ ngực xưng là Ph.D* viết email đưa lên internet tố cáo ông Trần Kia khi làm trật tự đã ra trại “gia binh” giặt quần cho vợ cán bộ quản giáo!

Thưa ông Trần Nọ, có thật ông thấy không, và làm sao ông nhận ra cái quần mà ông Trần Kia giặt là quần của vợ cán bộ? Trừ khi ông đã thấy và đã làm. Có thể là quần, nhưng chắc gì là quần vợ quản giáo. Phịa vừa thôi ông, ngậm máu phun người thì miệng ai tanh trước? Cái bằng Ph.D của ông không phải là tiến sĩ như ông khoe mà là “Pizza H… Delivery”.

“Thế gian hơn áo hơn quần, giả thử lột trần… ai.”

Không phải giả thử mà tất cả quân, cán, chính vào tù CS đã bị chúng lột trần thực sự, lột truồng cho tới khi không còn gì thì tù mới nhận ra baác* nên bản chất thật sự mỗi tù nhân cũng bị lộ rõ hỉ, nộ, ái, ố, dục, nhục… nên khó che giấu được ai và nay thì ai-ai cũng chẳng muốn nhắc tới nỗi đau dĩ vãng của người xưa, vì vậy ước mong ai đó đừng làm “người bắn cung” (nổ) mà quên dĩ vãng. (* Baác = ba-ác, cầu chứng tại tòa.)

Trở về chuyện “Ba Chàng Ngự Lâm”. Thầy Trần Toán thì đã an bình trên Thiên Quốc, Trật Tự Ng… cũng thế, nhưng Thầy Tám Cạnh Phan Bát Giác thì “giờ này anh ở đâu?” Các anh không chỉ là niên trưởng K18 mà còn là bậc “thầy” của tôi. Xin dâng nén nhang lên hương linh Thầy Trần Toán, xin kính gửi lời chào và chúc sức khỏe Thầy Phan Bát Giác, mong có dịp gặp lại. Tôi biết Thầy Tám Góc hiện đang định cư ở San José.

Ông “thầy” thứ ba tôi xin nhắc tới là một tay vô cùng ngoan cố, chuyên “phá hoại” tài sản và hoa màu của “nhà lước XHCN”, đó là Võ Văn Ð… tự là “Ð.. Cống”. Ð với tôi cùng tổ từ trại 8 Hoàng Liên Sơn rồi lại cùng tổ, cùng đội 12 tại trại Vĩnh Quang A, Vĩnh Phú. Chàng gốc Nhảy Dù, giàu kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm nên không bao giờ đói.

Cụ Phan nói rằng: “Khi đói thì bới đất cuốc cỏ mà nhét cho đầy bụng đói”, nhưng với Ð. Cống thì không ăn cỏ mà cứ bắp non, sắn non, bí rợ mà nhét cho đầy bụng đói. Ð. Cống to con, khỏe như voi, mưu sinh giỏi nên tôi theo voi ăn bã mía cũng vững dạ.

Khi cây sắn (mì) vừa cao ngang ngực mà mặt đất gần gốc có vết nứt là hắn biết sắn có củ non, Ð. Cống dùng thanh tre vót sắc như cái đục, nhấn mạnh xuống, kéo lên một củ mì non cỡ ngón tay cái, ngon ngọt vô cùng, còn cây sắn thì vẫn cứ tươi tốt mọc cao còn củ thì… Ð. đã móc đi rồi, vùi đất lại đố ai biết.

Nhưng đi đêm thì có ngày gặp… sóc. Mùa hái bắp, Ð. và tôi giấu vào hang đá hơn trăm trái để phòng đói những tháng ngày “giáp hạt”, nào ngờ bọn sóc phá hoại, chúng moi ra, gặm nham nhở rồi tha đi khắp nơi khiến chúng tôi tiếc hùi hụi! “Mưu sự tại nhân, thành sự tại con sóc.”

Một lần Ð. chôm được ở đâu một nải chuối thật to, chàng giấu ngay sau cánh liếp, nơi cửa ra vào mà không ai biết. Khi chuối ửng vàng sắp tới ngày ăn quả thì bị một tên “cần câu” nào đó “mét bu” với quản giáo Môn. Môn kêu Ð trình diện và buộc tội, nhưng Ð. cương quyết chối. Nhờ không bắt được tận tay, không bằng chứng cụ thể nên Ð. không bị quản giáo Môn nhốt. Ð. truyền kinh nghiệm cho tôi:

– Ðừng bao giờ tự giác nhận tội, dù có bị bắt tại trận. Nắm được tay, day tận tóc thì cũng cứ giật tay ra mà chối, cóc có việc gì mà phải nhận tội khi phá tài sản XHCN.

Không có nhân chứng nên quản giáo Môn, (Môn người miền Nam có vẻ dễ tính) thâu hồi vật chứng và không kết án được Ð., nhưng Ð. thì kết tội tên Gia Tôn Tẫn, vì nghi Tôn Tẫn tố cáo với quản giáo Môn, nên Ð. tính trùm mền bẻ giò Tôn Tẫn khiến tôi phải vất vả cản ngăn. Một mất mười ngờ, anh em đồng tù cứ lục đục nhau trong cảnh túng thiếu khiến trúng kế cai tù.

Võ Văn Ð. thuộc dạng “dài lưng tốn vải” nên còn có tục danh Ð. Cống hay Ð. Cồ. Cồ làm biếng tổ mẹ, nên thường bị đội trưởng Ngạ… lùn cự nự và đòi mét-bu quản giáo, Ð. Cồ chỉ mỉm cười.

Rồi một sáng Chúa Nhật mùa Ðông lạnh lẽo, anh em đội 12 thấy đội trưởng Ngạ… lùn mang mùng mền chăn chiếu đi giặt, vì đêm qua có ai bỏ “caca” vào màn khiến chàng đội trưởng nằm đè lên, cả phòng than phiền mùi xú uế do Ngạ… lùn đủn-ìa, trong khi Ð. cười mím chi. Ðúng Ð. là thủ phạm, là “đức cống”. Từ đó đội trưởng ít bép xép hơn. Ðội trưởng biết thủ phạm là ai nhưng đành cắn răng ngậm bồ hòn làm ngọt, vì Ðê-Ngạ cùng là “anh em với nhau”, cùng ở đơn vị cũ cả mà.

Ð. chọc quê mấy anh đội trưởng, tổ trưởng mẫn cán là “chuyện thường ngày ở huyện”. Ð. còn cố tình chọc quê bộ đội và quản giáo. Khi quản giáo ra chỉ thị hay phát biểu điều gì xong là Ð. đều xin có ý kiến, mà toàn những ý kiến “giả khờ ăn tiền”. Ðang cuốc lỗ để trồng sắn, thấy quản giáo lảng vảng kiểm soát, Ð. đưa tay nói trống không:

– Xin có ý kiến.

Quản giáo đến:

– Cái rì thế anh Ð..?

Ð. ra điều chú tâm tìm hiểu canh tác, phát huy năng xuất cây trồng theo chỉ thị của trại nên Ð. hỏi quản giáo lý do tại sao phải đào hố rồi mới bỏ hom sắn xuống, bỏ như thế nào có năng xuất cao v.v… Ð. hỏi linh tinh chuyện trên trời dưới đất còn quản giáo tưởng thật nên cũng giảng giải từ đất lên trời. Thấy Ð. chống cuốc đứng đàm đạo với quản giáo là anh em tù cũng chống cuốc nghe theo. Thế là phe ta nghỉ khỏe ít ra cũng 15 – 20 phút.

Ði lao động ngoài đồng, luôn có bộ đội cầm súng đi theo canh chừng, quản giáo và bộ đội ra lệnh ai muốn “đi ngoài” thì phải báo cáo cho “cán bộ nắm”. Thế là Ð. có lý do đi ngoài liên miên, khi thì đi tiểu, khi thì đi đại, nhưng ai để ý thì mới biết Ð. đểu, xỏ ngọt cai tù. Ð. nói to:

– Báo cáo, tôi xin đi ỉa để cán bộ nắm…

– Ðược. (Bộ đội chỉ trả lời một chữ “được”.)

Thế là Ð. tủm tỉm cười vì 4 tiếng: “để cán bộ nắm”.

Lát sau Ð. lại lớn tiếng:

– Báo cáo…, tôi xin đi đái, để cán bộ nắm.

Mới cuốc được vài hố mà Ð. bắt cai tù nắm hết cái nọ đến cái kia, Ð. đi tiêu còn có cái gì đó để cán bộ nắm chứ Ð. đi tiểu thì cán bộ nắm được cái gì, không lẽ “nắm nước” nên cai tù bực mình nói ngọng:

– Anh Ð. làm cái rì mà đi ỉa “nắm” thế?

– Thưa cán bộ tôi mới ăn nửa cân thịt bò.

– Anh nói cái rì? Bò bê ở đâu có mà anh ăn?

– Thưa cán bộ, quản giáo Môn dưới làng nói rằng 3 cân lá sắn bổ bằng 1 kg thịt bò, tôi mới ăn cân rưỡi lá sắn…

Vài hàng kỷ niệm vui buồn với các thầy trong những ngày tù tội, Thầy Toán, Thầy Giác là biểu tượng của những “cây tùng trước bão”, nhưng với Thầy Ð. có một lối chống đối, phá thối “chính sách khoan hồng nhân đạo” rất là “hết ý”, làm ít, cãi nhiều nên tôi phải thêm một chữ thầy nữa cho đúng với tài năng ứng biến của Ð: “thầy cãi”./.