Anh Tư Kiên

Vưu Văn Tâm

Anh Tư Kiên nằm bất động trên chiếc giường tre cũ kỹ. Đó là nơi tựa lưng giữa ban trưa nóng bỏng và cũng là chỗ ngủ của anh mỗi khi chiều xuống hay lúc đêm về. Nhà anh là cái chòi lá trống không, tạm che mưa đỡ nắng, nằm khép nép sau hàng mù u mà chòm xóm đã góp công dựng hững hờ trên một nền đất cũ. Nhiều năm nay, cơn tai biến ập đến khiến sinh hoạt của anh vốn đã giới hạn lại thêm phần khó khăn. Anh sống nhờ vào sự giúp đỡ của hàng xóm gần xa, chén cháo của chị Hai, hột cơm của chú Bảy. Họ tuy là dân lao động nghèo xác xơ nhưng có tấm lòng nhân ái dạt dào.

Đôi mắt anh hướng ra khung cửa và đăm chiêu nhìn những tàu chuối nhẹ bay trong gió chướng. Mùa gió nóng ran báo tin xuân về, tết đến làm cho ruộng đồng khô hạn nứt nẻ nhiều hơn. Anh hồi tưởng lại những trang đời đã trôi qua vội vã, vội vàng hơn cả bóng thời gian. Ngày đó, trên bước đường hành quân gian khổ, thấy nhánh mai rừng trổ hoa vàng giữa lưng chừng vách núi, anh cùng đồng đội nhắc nhở nhau năm cũ sắp đi qua. Anh em lại sống thêm một cái tết xa nhà, ai nấy cũng còn quá trẻ và chưa có người yêu, lòng bồn chồn nhớ mẹ cha, nhớ những con đường Sài-Gòn, đèn ngọn xanh ngọn đỏ. Nếu không có chiến tranh, có lẽ cuộc đời anh đã rẽ sang một trang khác, nghĩa là anh cũng có gia đình như bao trai tráng cùng trang lứa, thêm con thêm cháu, đến khi về già được vui thú điền viên và ngâm nga vài ba câu vọng cổ.

Tuổi đời đôi chín, anh rời trường lớp với mảnh bằng tú tài đệ nhất cấp. Không giống như các bạn cùng trang lứa, lựa chọn và thi vào những ngôi trường đại học tiếng tăm ở Sài-Gòn, chí làm trai giữa thời loạn lạc đã khiến anh lặng lẽ nộp đơn vào quân ngũ, lên đường bảo vệ non sông. Ngày tái chiếm cổ thành Quảng-Trị cũng là ngày anh để lại một phần thân thể giữa chiến trường còn nồng tanh mùi máu lẫn trong khói súng hận thù.

Sau ngày miền Nam thất thủ, trong cái rủi anh cũng gặp điều may, được miễn đi tù vì thân thể không còn nguyên vẹn. Với một bên nạng gỗ, cuộc sống chống chèo đã cuốn dạt anh về Mỹ-Thuận, độ nhật với lời ca tiếng đờn và xấp vé số trên tay. Bà con qua phà hay kẹt bắc thấy anh thương binh có gương mặt hiền lành như hột lúa củ khoai, với giọng ca buồn thiu mà ngọt lịm nên kẻ ít người nhiều đã giúp đỡ anh từng tờ vé số cũng như chén gạo, đồng tiền. Vợ con chưa có, họ hàng thân thích cũng không còn, anh Tư luôn mang một bề ngoài tư lự. Anh lặng lẽ sống và ngày từng ngày trải tâm sự mình cùng bốn bề sông nước. Anh thường chỉ mĩm cười cho qua chuyện và rất kiệm lời, mặc dù trong lòng anh vẫn đâu đáu những ngày cùng đồng đội vào sanh ra tử, một thời lẫy lừng đuối giặc nơi tuyến đầu khói lửa.

Mấy chục năm lặng lẽ đi qua, những tưởng cuộc sống cứ âm thầm như những chuyến phà xuôi ngược hay những dề lục bình bềnh bồng trôi trên mặt sông đầy. Ngày kia, chiếc cầu Mỹ-Thuận bắc ngang hai bờ sông Tiền đã khiến cho đời sống của anh và người dân nơi đó bước vào khúc quanh mới, nghiệt ngã hơn. May mắn thay, anh vẫn sống trong sự đùm bọc của bà con lối xóm, cùng chung một kiếp khổ nghèo. Nhờ ơn trời, gian nan mấy anh cũng vượt qua, hoạn nạn đến đâu cũng có người giúp đỡ.

Mấy năm nay, nhà thờ Chúa cứu thế Kỳ Đồng đã tổ chức những cuộc gặp gỡ và giúp đỡ nhằm âm thầm tri ân những người lính đã một thời sống còn cho quê cha, đất mẹ. Anh Tư được may mắn gặp lại những người bạn chiến đấu năm xưa, dẫu không cùng binh chủng, nhưng ít ra cũng một thời đồng chung chí hướng, chống giặc xâm lăng phương bắc và giương cao ngọn cờ tự do, bảo vệ chính thể cộng hòa. Những món quà nho nhỏ, tượng trưng nhưng đối với anh mênh mông như sông dài, biển rộng. Thân tàn nhưng danh không phế, anh và các chiến hữu vẫn còn hiện diện đâu đó trong lòng người miền Nam yêu chuộng tự do và chính nghĩa. Tinh thần các anh được ủi an ít nhiều với những ân cần, quan tâm của một thiểu số trong cái xã hội đã quá nhiễu nhương này.

Các cuộc săn đuổi và cấm đoán những chương trình tri ân thương phế binh Việt-Nam Cộng Hòa từ hai năm nay đã làm mọi điều tan tác đến ngỡ ngàng. Một chút sớt chia, một chút nghĩa tình cho những người có số phận không may mắn đã bị ngăn trở. Hơn sáu vạn thương binh của chế độ trước bị ngấm ngầm trả thù trong cuộc chiến mới không tên, không đạn bom nhưng lại vô cùng tàn nhẫn, thiếu hẳn tình người. Hòa bình của một đất nước sánh đôi với lòng hận thù và sân si ngút trời của đám người chiến thắng cho dù đã bốn mươi lăm năm dâu biển. Vạt nắng cuối chiều còn vương vấn trên những mái đầu trắng xóa và đâu đó trên một quê hương tan tác, lầm than.

22.02.2020