ANH TIỀN TUYẾN EM HẬU PHƯƠNG.

Tô Văn Cấp

            Như thường lệ, mỗi khi nhận được tờ tạp chí mà tôi cộng tác là tôi phải đọc bài viết của mình trước để tìm ra những khuyết điểm hầu tránh tái phạm cho lần sau, rồi mới lướt qua các bài khác và dừng lại ở trang văn nghệ để đọc những lá thư em hậu phương gửi các anh ngoài tiền tuyến. Tôi rất tâm đắc với mục này, vì trước kia tôi đã từng phụ trách mục “Thư Tiền Tuyến Hậu Phương” trong bản tin của Binh Chủng. Tôi đóng vai em gái hậu phương “Kim Chi” để viết những lá thư tình gửi đến các anh ngoài tiền tuyến.

            Nhớ lại khi còn đi hành quân, tôi rất mê chương trình “Dạ Lan”, tiếng nói của em gái hậu phương trên làn sóng phát thanh Quân Đội, sáng kiến này do Đại Tá Trần Ngọc Huyến, cựu Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia lập ra. Chương trình “Dạ Lan” đã đem một sinh khí mới vào đời sống của lính, những người quanh năm nằm võng, ngủ hầm, nghe tiếng đại bác cùng AK chứ nào có nghe KH (ca hát) gì đâu! Vì thế sau khi bị loại khỏi vòng chiến, về phụ trách “tạp dịch” cho Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến, tôi đề nghị với Trưởng Phòng cho thêm vào bản tin tiết mục “Lá Thư Hậu Phương”.

            Khởi đầu chỉ nhằm mục đích cho bản tin bớt khô khan, ngoài những văn thư, thông cáo, tin chiến sự v.v.. thì bản tin cũng phải có lời hỏi thăm, an ủi những người cầm súng. Nhưng không ngờ chỉ một thời gian ngắn sau thì tôi nhận được rất nhiều thư của anh em ngoài chiến trường, những lá thư viết vội vàng trên mảnh giấy với “nét chữ không ngay”, bì thư dược dán bằng những hạt cơm, nhưng nội dung mộc mạc dễ thương, đôi khi cũng vui đùa, nghịch ngợm, hẹn gặp Kim Chi khi anh về phép.

            Nhận được những lá thư tình cảm của các anh, em “Kim Chi” cũng hồi âm với lời hứa khi nào anh về phép thì “em sẽ đưa anh dạo phố, để anh kể chuyện đời lính em nghe” và hậu quả là tôi đã gặp nhiều trường hợp các anh lính về phép đến thăm em Kim Chi nên tôi đành phải xin lỗi “rất tiếc cô Chi đi công tác”. Nhưng rồi có một anh tiền tuyến từ Quảng Trị về phép đến thăm và nhất định đòi gặp em Kim Chi cho bằng được, bởi vì anh chỉ được có 4 ngày phép, trong đó bao gồm 2 ngày đi và về giữa Quảng Trị -Sài Gòn –Quảng Trị. Anh về Saigon với ước nguyện gặp Kim Chi mà thôi, anh không có thân nhân nào ở Saigon cả. Tôi còn nhớ rất rõ người lính ấy là Trung Sĩ Nguyễn Văn Thanh thuộc Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 2/TQLC.

            Gặp trường hợp khó xử khá bất ngờ nhưng cũng rất tình tứ lãng mạng nên tôi kiếm cách hoãn binh, tôi trả lời Thanh là Kim Chi đi công tác đến chiều mới về. Nhưng Thanh nói chiều anh sẽ quay lại vì anh chỉ có bốn ngày phép thôi, kể cả 2 ngày đi đường!

            Từ một tấm chân tình, tôi nẩy ra ý định sẽ không làm Thanh thất vọng, tôi cầu cứu với chị Thiếu Tá Trưởng Phòng Xã Hội tiếp tay, nhân viên Phòng Xã Hội có nhiều cô xinh sắn, rất dễ thương và còn độc thân. Th/Tá Trưởng phòng Xã Hội nhận lời giúp tôi ngay, vỉ đây cũng là một công tác xã hội thiết thực. Cô Phương Thanh được giao nhiệm vụ đóng vai em Kim Chi để tiếp chuyện với anh lính tiền tuyến cũng tên Thanh.

Và họ đã gặp nhau, sau đó Phương Thanh kể lại câu chuyện giữa hai người cho chúng tôi nghe và nhờ cố vấn hộ, vì anh tiền tuyến nhất định mời em hậu phương dạo phố chiều nay sau giờ tan sở. Tôi hỏi Phương Thanh:

            -Thế cô có thể giúp tôi đóng cho trọn vai trò cô Kim Chi không?

            -Đã lỡ rồi, không nên làm thất vọng một tấm chân tình, vả lại anh ấy cũng dễ thương.

            Th/Tá Trưởng Phòng Xã Hội cho Phương Thanh 48 giờ phép, theo lời đề nghị của tôi, để cô ấy đi nghe Thanh kể chuyện đời lính.

            Hơn một năm sau, cả tôi và mấy nhân viên hai phòng Tâm Lý Chiến và Xã Hội nhận được thiệp mời dự tiệc cưới của Song Thanh. Hiện gia đình Song Thanh sống rất hạnh phúc cùng hai con, một trai một gái và bốn cháu nội ngoại ở Florida, thỉnh thoảng họ vẫn gửi cho tôi những trái bưởi thật ngon. Mỗi khi có dịp ghé Florida, tôi luôn luôn “phải” đến ở với các em Song Thanh để các cháu cám ơn bác “Kim Chi”.

            Nhớ lại những kỷ niệm hạnh phúc ấy nên tôi luôn theo dõi những lá thư hậu phương. Dù biết rằng đó chỉ là những lá thư sáng tác theo trí tưởng tượng, nhưng mỗi lá thư đều chứa đựng một tấm chân tình thương yêu đời lính thực sự, mà tôi lại là người đang cần những tấm chân tình như thế. Rồi một hôm tôi đọc được trên trang báo này lá thư gửi “Người Yêu Trâu Điên” của cô Phượng T..

            Nội dung lá thư kể lại câu chuyện một anh lính TQLC thuộc Tiểu Đoàn Trâu Điên về giải tỏa địch ở cư xá Phú Lâm A trong dịp tết Mậu Thân 1968, thân phụ Phượng T.. là nhiếp ảnh gia của phòng tin tức Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, đi theo cánh quân này và ông đã chụp một tấm hình với người lính TQLC, một tấm hình đẹp và oai hùng nên ông tặng cho cô con gái (Phượng T..) khi cô mới chỉ là một nữ sinh lớp Đệ Lục. Cô nữ sinh ép hình người lính trong cuốn nhật ký bé nhỏ.

 Chuyện đau lòng là không lâu sau đó, khi VC tấn công vào Saigòn đợt thứ hai (5/1968) thì thân phụ cô Phượng T.. bị VC sát hại. Thương nhớ cha, cô giữ mãi tấm hình người lính và rồi tấm hình đó cũng bị thất lạc cùng với cuốn nhật ký vào ngày 30/4/1975. Cuối lá thư, cô gái Phú Lâm A Chợ Lớn Saigon Mậu Thân 1968 viết:

            “Lá thư này em viết mà không bao giờ gửi, vì em đâu biết anh Trâu Điên đang ở nơi nào trên mảnh đất chiến tranh đầy thống khổ của dân tộc Việt Nam mình. Em viết lá thư này như một nhu cầu yêu thương dành cho anh Trâu Điên, người bạn trẻ của Ba. Hình ảnh Ba và anh Trâu Điên luôn gắn liền nhau trong lòng em. Với lòng mong mỏi người anh Trâu Điên vẫn còn sống sót đâu đó sau cơn hồng thủy, biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ tới anh Trâu Điên ngày xưa”

            Tôi không nhớ là đã đọc lá thư gửi “Người Yêu Trâu Điên” bao nhiêu lần rồi, tôi đọc đã gần như thuộc lòng nội dung vì nó trùng hợp với những diễn tiến của Đại Đội tôi khi tiến chiếm và giải tỏa VC tại cư xá Phú Lâm A vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

            Nhớ lại một buổi sáng tháng 1/68, Đại Đội 1/TĐ.2/TQLC của tôi tiến dọc theo đường Hậu Giang để vào mục tiêu cư xá Phú Lâm. Khi thấy một người phóng viên Cảnh Sát leo lên xe thiết giáp để theo đoàn quân và chụp hình thì tôi đã cho lệnh người cận vệ của tôi là Hạ Sĩ Đường kéo người phóng viên này xuống. Liền ngay sau khi anh phóng viên và Đường lăn xuống đất thì xe thiết giáp bị trúng đạn B40 của VC, những quân nhân trên xe tử trận, còn người phóng viên thì thoát chết trong “tích-tắc”. Kể từ đó người phóng viên, Phi và Đường kết thân với nhau, anh phóng viên đưa Phi về nhà giới thiệu với chị ấy và các con anh. Chị ấy phúc hậu hiền lành còn mấy cô con gái thì xinh sắn nhí nhảnh dễ thương, thấy bố ngồi nói chuyện với các chú lính, các cô có vẻ tò mò, thập thò bên song cửa nhìn huy hiệu Trâu Điên trên vai áo trận của Phi và Đường rồi cười khúc khích.

            Sẵn máy ảnh trong tay, anh phóng viên chụp cho lính những tấm hình kỷ niệm, và một trong số các cháu gái đã chụp cho bố và 2 chú lính một tấm hình chung. Họ kết thân với nhau chưa được bao lâu thì  VC tấn công đợt 2 vào tháng 5/1968, đơn vị của Phi phải liên tục tham dự các mặt trận khắp Saigon và ngoại ô nên không có dịp gặp lại người anh phóng viên nữa.

Cuối năm 1968, sau khi thành phố Saigon Chợ Lớn trở lại thanh bình, Tiểu Đoàn Trâu Điên di chuyển lên Tây Ninh hành quân vào mật khu Hố Bò, trước khi đi, Đường trở lại thăm người anh phóng viên thì mới hay Anh đã hy sinh vì công vụ ngay những ngày đầu VC tấn công đợt 2! Và oái oăm thay Đường cũng lại hy sinh sau đó trong cuộc hành quân vào Hố Bò! Tấm hình 3 anh em chụp chung thì chưa đầy một năm sau  hai người đã ra đi vĩnh viễn! Dù không tin dị doan nhưng mỗi khi nhớ đến tấm hình, Phi cũng cảm thấy bất an. Và chuyện không vui cũng đến, Phi bị trọng thương ở chiến trường Chương Thiện, bị loại khỏi cuộc chiến !

Bốn mươi năm sau, những kỷ niệm đau thương ấy được nhắc lại qua bài viết “Người Yêu Trâu Điên” khiến Phi bồi hồi xúc động, anh vội liên lạc với tác giả qua địa chỉ điện thư thì được biết cô chính là ái nữ của người phóng viên năm xưa, bạn của Phi và Đường, vì thế Phi giữ kỹ tờ báo có đăng bài viết như một kỷ niệm quý giá, và cũng kể từ đó mỗi khi mở trang báo ra thì mắt Phi dừng lại ở tấm ảnh tác giả lâu hơn, ngắm kỹ hơn và tự hỏi “không lẽ đây là cô bé năm xưa”.

 Trước mắt Phi là hình một phụ nữ mặc áo dài trắng tóc xõa hai bờ vai với nét mặt phúc hậu, duyên dáng nhưng thoáng buồn. Cô ngồi trước bàn viết, tay trái vòng che trước ngực, đè lên xấp giấy và những bì thư, chống khuỷu tay phải lên mặt bàn còn ngón trỏ chấm nhẹ lên thái dương, nghiêng đầu đăm chiêu nghĩ về dĩ vãng. Nhưng cũng có lúc Phi thấy tấm hình đó là một cô bé nữ sinh hồn nhiên xinh xắn dễ thương 40 năm về trước, hình ảnh cô nữ sinh trường Gia Long đứng sau rèm nghe cha nói chuyện với những anh lính Trâu Điên khiến Phi nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn năm xưa.

            Bài viết và hình tác giả cứ luẩn quẩn trong đầu khiến Phi mất ngủ nhiều đêm rồi anh tự trách mình sao quá mơ mộng! Một bài viết trên trang “Thư tiền tuyến thư hậu phương” thường là những “sản phẩm” tưởng tượng để ủi an người lính chiến, còn hình tác giả thì cũng có thể là giả mà thôi như Phi đã từng làm. Phi cố lý luận như thế để quên đi “Người Yêu Trâu Điên” nhưng không quên được, bài viết có quá nhiều tình tiết và những kỷ niệm của đơn vị anh trong thời gian hành quân giải tỏa lực lượng VC tại Saigon, nhất là lời cuối lá thư của cô Phượng T viết:

_“.. Anh nên biết rằng vẫn còn có một người nhớ đến anh Trâu Điên ngày xưa”

            “Anh Trâu Điên” ngày xưa trong tấm hình mà tác giả Phượng T..hy vọng vẫn còn sống sót là Phi hay Đường? Người trong hình mà tác giả vẫn còn nhớ đến là Phi hay Đường? Vì tấm hình mà thân phụ tặng cho cô đã mất nên Phi và cả Phượng T. cũng không thể  biết người ấy là ai. Nếu người ấy là Bùi Ngọc Đường thì Đường đã tử trận rồi, Đường đã hy sinh sau cái chết của cha cô! Còn nếu là Phi thì Phi vẫn còn sống sót và đang cộng tác với cùng một tờ báo mà cô phụ trách trang Văn Nghệ, họ đã là người “cùng một nhà” !

            Tuy cùng một nhà (báo) nhưng làm việc trên computeur nên chưa bao giờ họ biết nhau, gặp nhau và nói chuyện với nhau dù bằng điện thoại. Phương tiện duy nhất để trao đổi tin tức là bằng điện thư. Qua tấm hình trên trang “thư tín” Phi có thể biết cô bé cư xá Phú Lâm năm xưa nay đã là một phụ nữ rất duyên dáng đầy sức sống, đọc giả khó mà không khen một tiếng “đẹp”, và chắc cũng đã có nhiều anh lính năm xưa mơ mộng và yêu “tấm hình”, trong đó có Phi.

            Đã nhiều lần Phi gửi email cho Phượng T. ngỏ ý mong được gặp lại cô bé năm xưa nhưng rồi cuối cùng thì Phi cũng lại đành phải “delete” những thư ấy đi. Đã nhiều lần Phi đến tòa soạn nơi Phượng T. làm việc với một cuốn sách trên tay hay một gói kẹo cam thảo, thứ kẹo mà cô bé Phú Lâm năm xưa vẫn thích, để tặng cho tác giả bài viết “Người Yêu Trâu Điên”, nhưng anh không có can đảm như Thanh nhất định đòi gặp em Kim Chi nên Phi đành quay lui.!

            Có một điều gì đó ngăn cách khiến Phi ngập ngừng bước tới,“Nếu không có cái dậu mùng tơi thì tôi nhất định sang chơi nhà nàng”, cái “dậu mùng tơi” ngăn cản Phi không phải là 40 năm xa cách, vì “Càng đi xa anh càng nhớ em”, càng xa cách lâu ngày càng mong gặp lại, mà chính là anh Trâu Điên Mậu Thân năm xưa đã không còn nữa, chỉ còn một con trâu già, con trâu già sau bao năm chiến tranh và khổ sai trong lao tù CS, con trâu già bị bắt buộc phải buông vũ khí nên ngày nay chỉ còn những kỷ niệm để nhai lại như những con trâu già nằm nhai lại những mớ cỏ khô khi không còn sức cày bừa, nhìn những cánh đồng cỏ non mà thở dài !

            “Người Yêu Trâu Điên”..  thân mến.

            Hình ảnh oai hùng và đáng yêu của những người lính Trâu Điên 40 năm về trước vẫn luôn luôn gắn liền với hình ảnh người cha thân yêu trong lòng em, người cha thân yêu đã sống trong tay người lính TQLC và đã chết dưới họng súng và lưỡi lê của VC nên không ai có thể làm mờ đi những hình ảnh đẹp và đáng quý này của em, dù người ấy là Phi. Phi Trâu Điên cũng đã chết rồi, chỉ còn Phi già cỗi trong đầu với những suy nghĩ phi lý về chiến tranh nhưng hữu lý về tình yêu, Phi đã yêu Phượng T. rồi nhưng anh biết dừng lại đúng lúc. Phi và Phượng T.. tiếp tục đóng vai trò “má con Tý” và “ba thằng Tèo” để trao đổi những nhớ và thương trên trang thư hậu phương tiền tuyến của cùng một tờ báo: “Ba thằng Tèo nhớ má con Tý nhiều lắm”./.