Lời tác giả:

Trích đoạn tiểu thuyết nầy của tôi được chính tôi phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ, không sử dụng bất cứ trợ sức nào của công cụ trí tuệ nhân tạo AI theo nguyên tắc sáng tác của tôi:

“Nói không với AI, không ẩn giấu tông tích, không dùng bút danh khác giới tính, không sử dụng ảnh chân dung giả.”

Trân trọng.

*

Năm tháng dần trôi. Ngôi nhà nguyện lợp lá chằm, vách ván dần dần được sửa sang và tân trang lại. Khuya nọ, Cha Bốn chiêm bao thấy một ngôi thánh đường với đường lối kiến trúc mới lạ, ông chưa từng thấy trước đó. Sáng hôm sau, ông phác họa hình ảnh trong mơ lên giấy, đưa cho Thầy Thông coi, và hỏi có cách nào xây cất một ngôi thánh đường tương tự vậy không? Cho tới bây giờ, Thầy Thông chưa biết ai nơi đây là người đã từng theo học ngành kiến trúc. Thầy sẽ tìm cách hỏi lại nhà sư trú trì, ai là người đứng ra xây chùa Pháp Hoa.

Bản phác họa của Cha Bốn, với vòm mái cong, lắp máng xối nhấp nhô, đậm dấu kỹ thuật kiến trúc Đông Nam á. Chỉ mỗi hai tháp chuông sừng sững hai bên ngôi chính tòa có gắn cây thập tự được xây theo kiểu kiến trúc cầu kỳ Ba-rốc, trông lạc lõng như thể lắp ráp.

Anh Hạo lập tức được gọi tới, xem xét mẫu phác họa. Sau khi ngắm nghía kỹ lưỡng và không ngớt gật gù tán dương năng khiếu hội họa của Cha Bốn, anh được ông giao cho nhiệm vụ vẽ lại họa đồ kiến trúc cho việc xây cất. Lần nầy anh Hạo mới đủ tự tin, lên tiếng hỏi giáo sĩ tiền thù lao.

“Anh nghĩ là bao nhiêu?”, Cha Bốn cất giọng bối rối.

“Tui vẽ giúp ngài không tính tiền, thưa ngài”, anh Hạo đáp không ngần ngại. “Nhưng với điều kiện, sau đó ngài nhận và trả lương cho tui lúc xây cất.”

“Dễ thôi”, Cha Bốn nhoẻn cười. “Bây giờ anh nói cho tôi biết, ai trong vùng nầy có thể được coi là kiến trúc sư!”

“Là gì?”

“Là thợ chuyên môn lo việc xây dựng, để ta nhờ họ xây ngôi nhà thờ giống như bản vẽ nầy.”

“Tui biết một người. Ổng là người hướng dẫn xây chùa làng. Hiện giờ ổng ở một nơi xa lắm”, anh Hạo giơ tay ra dấu ám chỉ một quãng xa dịu vợi.

“Bao xa?Nói!”, Cha Bốn mất kiên nhẫn.

“Ổng đã dọn ra đảo Người Cùi rồi, thưa ngài.”

“Đừng nói là ông ta cũng mắc phải căn bệnh quái ác nầy.”

“Ổng không bị, mà vợ ổng”, anh Hạo đáp khẽ, cúi đầu buồn bã, như thể đang nói về chính mình.

Cha Bốn không thốt nên lời. Đã nhiều phen ông nghe kể về hòn đảo nầy. Ông dự định trong đầu, sẽ tới đó một lần cho biết, để thăm viếng những kẻ bị xã hội xa lánh và cũng để truyền bá giáo điều Thiên Chúa, nhưng công việc và tình trạng tâm lý bất an của ông không cho phép. Ông nhớ tới câu chuyện trong Cựu Ước kể lại việc Chúa Giê-su chữa trị một cách kỳ diệu những người vướng bệnh cùi. Ông đã từng tin rằng, đấng thiên sứ trời ban xuống trần chỉ cần đặt tay lên đầu bệnh nhân, họ sẽ khỏi bệnh tức thì. Giờ đây, sau vài thập niên sống tại đây, hoài nghi trong ông dấy mầm. Những gì ông tận mắt thấy trong cuộc sống nơi đây đã bôi xóa ngàn trang phúc âm. Ông xót xa nhận ra những dằn vặt, ngờ vực và bất an trong lòng khiến ông hoài nghi, rằng những điều truyền tải của thượng đế có lẽ nào chỉ là những ước nguyện của một người có đầu óc lý tưởng. ‘Chính tôi cũng là một kẻ lý tưởng’, ông nhủ thầm.

“Nhà người có thể kể cho ta nghe nhiều hơn về ông ấy được không?”, giáo sĩ cất tiếng hỏi, đưa mắt ngó anh Hạo đứng gầm mặt nãy giờ.

Anh con trai ngước mắt, hết nhìn giáo sĩ tới Thầy Thông. Nét mặt anh đượm nét lo âu. Thầy Thông gật đầu khuyến khích.

“Tui… tui… chỉ biết những gì thiên hạ kể. Ông ta được mọi người kêu là Ông Kỹ Sư. Họ kể là ông học cách xây nhà từ người thợ chính xây điện vua ở Huế và trôi giạt tới đây theo gia đình vợ. Thiên hạ còn nói ông là kẻ không tin ở thần thánh, nhưng bà vợ của ông, một Phật tử thuần thành, đã giúp ông có được niềm tin ở Phật pháp. Lẽ đó mà ông được sư ông Tuệ Hải giao cho việc xây cất một ngôi chùa mới. Ít lâu, sau lễ khánh thành chùa mới, bỗng dưng ông và người vợ lánh mặt mọi người. Thiên hạ đồn đãi, vì vấn đề sức khỏe của người vợ. Ngày nọ, người ta được tin vợ chồng ông dọn nhà ra hòn đảo, chỗ những người mắc bệnh cùi sinh sống. Lời đồn về bệnh tình của người vợ coi như được kiểm chứng. Tui chưa từng thấy người đàn bà nào dễ mến và có ăn học như bả! Cớ sao ông trời bất công vậy không biết!”, anh Hạo ngưng lời, thờ dài thườn thượt.

“Anh có biết đường ra đảo không vậy?”, Cha Bốn hỏi.

“Biết, mấy người đánh cá, ai cũng biết”, anh Hạo đáp, đưa mắt ngó giáo sĩ dò xét một lát rồi tiếp lời: “Đi bằng thuyền chài mất chừng nửa ngày trời. Dân chài lưới ra đó thường xuyên, để tìm mua tổ yến. Ông biết mà, giống chim nầy dùng nước miếng để xây tổ. Theo y học An-nam, tổ của chúng là loại thuốc thần kỳ trị dứt mấy chứng bệnh phổi, cũng là thuốc tráng dương. Vì vậy tổ của chúng bán rất được giá. Con cái của đám người cùi leo vách đá, gỡ tổ giỏi có tiếng. Ông tính đi ra đó thiệt hả, thưa ngài?”

“Chắc vậy. Ta đang cần một người thợ chuyên môn cho việc xây cất, có kiến thức về kiến trúc á đông. Ngoài ra, ta cũng muốn nhân dịp nầy đi thăm những người bị xã hội ruồng bỏ. Biết đâu chừng ta có thể giúp đỡ họ, một cách nhân đạo vậy thôi”, ông đáp với cảm xúc phiêu lưu thuở trai trẻ dấy động xôn xao trong huyết mạch. “Nếu được nhà ngươi đồng hành cùng ta ra đó thì tốt biết mấy.”

*

Ít lâu sau, Cha Bốn và Thầy Thông tìm được hai anh em ngư phủ đồng ý hướng dẫn họ ra đảo Người Cùi.

Hai người nầy cũng là con cái của cư dân gốc Hoa theo đường biển tới đây định cư từ nhiều thế kỷ trước. Chuyện kể, chỉ sau một đêm, dân bản xứ thấy ba chiếc thuyền buồm thấp thoáng ngoài khơi vịnh biển Đông Nam, chở đầy người cùng mớ tư trang ít ỏi. Thoạt tiên ai cũng thấp thỏm lo âu, tưởng đó là ba chiếc tàu chiến của quân Trung Hoa xua quân xâm lược. Sau, mới vỡ lẽ, họ là nhóm người bị nhà Minh bên Trung Hoa đàn áp, vượt biển lánh nạn. Kể từ đó, họ được dân bản xứ gọi là Ba Tàu, người tới đây lập cư bằng ba chiếc tàu buồm. Phần đông họ là những người có ít nhiều kiến thức, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, họ nhậm lẹ thích nghi cùng thời khí và thổ ngơi nơi đây, cũng như hội nhập vô khuôn mẫu cuộc sống mới. Họ được dân An-nam lập tức chấp nhận, trọng đãi, có người còn được tôn vinh làm thủ lãnh những vùng đất mới khai hoang. Họ sùng kính Khổng giáo, pha lẫn Phật giáo và đạo thờ cúng ông bà, có đầu óc suy nghĩ cũng như hành xử thực dụng. Thiểu số phụ nữ thuộc giới thượng lưu Trung Hoa trong số họ vẫn còn hai bàn chân búp sen, một tập tục bó chân theo thẩm mỹ quan và cũng là biểu tượng của tầng lớp thượng lưu. Họ mang hài lụa hoa, kết hột cườm, không thể tự lực đi đứng, mà được cận vệ khiêng đi đó đây bằng kiệu, một cảnh tượng lạ mắt, dấy động trong trí tưởng tượng của lũ đàn ông bản xứ những hình ảnh kích dục. Họ kể nhau nghe, chuyện đó thật ra không dính líu gì tới quan niệm thẩm mỹ của người Trung Hoa, mà là kiểu cách nhằm tăng trưởng dục lạc.

Một vài người trong số đó là cư dân làng chài nơi đây, sống ẩn náu trong những vùng ven biển được phù sa bồi đắp, hành nghề lưới cá. Họ là những người cần cù, có nhiều kinh nghiệm đi biển, bản tính ít nhiều bí ẩn. Họ được cho là khó gần gũi và chỉ tiếp xúc với dân bản xứ những khi thật sự cần thiết. Theo lời đồn đoán, họ là những kẻ đi biển có nhiều thành tích bất hảo thuở trước. Thiên hạ xầm xì, họ là dân cướp biển đã từng tấn công nhiểu thương thuyền và tàn sát hải hành đoàn không chừa một ai. Của cải cướp được, một phần được họ chia chác nhau, phần khác được giấu trong hang động ngoài hoang đảo. Rủi thay, nhằm ngay hoang đảo được những người cùi chọn làm nơi ẩn thân. Không rõ, những bệnh nhân nầy có hay biết, họ đang trú ngụ trên một núi vàng vòng cũng như tiền vàng, tiền bạc? Từ dạo đó, những vụ cướp biển chấm dứt. Không còn thấy lớp lớp thây người và ván thuyền vụn vỡ tắp vào bờ. Đám người tha hương gốc Trung Hoa bắt đầu học tiếng Việt và tìm cách thích nghi vào tập quán dân bản xứ. Dăm ba phụ nữ Trung Hoa còn được phép kết hôn với đàn ông An-nam.

Hành trang cho chuyến hải hành ra đảo Người Cùi, Cha Bốn cho đem theo một bao bố bánh mì ba-ghét mới ra lò và vài chục quyển kinh thánh bằng Việt ngữ cũng như những bản bằng tranh vẽ.

Khi Cha Bốn, Thầy Thông và anh Hạo tìm tới làng chài nằm trong rừng đước ven biển, trời vẫn còn tối ám. Giờ đây, lúc anh em ngư phủ với thân thể vạm vỡ và nước da sạm nắng như hai pho tượng đồng chèo ghe tới đón và thằng hướng ra biển, cuối chân trời đã thấy lấp lóe những tia sáng đầu ngày.

Sau nửa giờ chèo, ghe tới cửa biển. Người ngồi mũi bẻ dầm qua hướng đông, nơi mặt trời, đỏ rực như một dĩa kim loại khổng lồ nóng chảy, chậm rãi và run rẩy phún ra từ ngàm họng đại dương. Chiếc ghe, nhỏ như chiếc vỏ đậu phộng, chếnh choáng say xẩm trên mặt biển nhuốm đỏ ánh ban mai.

‘Lạy Chúa tôi, con tạ ơn ngài đã ban tặng con khoảnh khắc tuyệt diệu nầy’, Cha Bốn thầm nhủ và nhẩm đọc bài kinh tạ ơn.

Ông chưa từng trải nghiệm một cảnh quan tuyệt vời như vậy trong đời, ngay cả trong thời thơ ấu. Những kỷ niệm về người cha rắn rỏi trong những lần ra khơi đánh lưới tại vịnh biển Lyon hiện ra trong trí ông. Chúng không hề phai nhạt, sau khi mảnh da in hình xăm con hải mã, di sản của cha ông lúc qua đời, bị lũ gián gặm nhấm tan tành. Còn người mẹ mảnh mai, dễ vỡ của ông hiện giờ ra sao? Phải, đã lâu lắm rồi ông không nhận được tin tức gì về bà. Mẩu tin sau cùng được cha ghi trong thư, ông nhận được cách đây áng chừng vài thập niên trước. Sức khỏe bà vẫn bình thường. Bà làm phụ bếp trong một viện nữ tu, nơi ông và cha đã tới thăm đôi lần. Sau khi ông qua Đông dương, cha ông có tới thăm bà thêm lần nữa. Một hôm, bà biên thư cho ông, bảo ông ngưng tới, vì bà muốn được yên tĩnh tuyệt đối để hiến dâng quãng thời gian cuối đời mình cho việc cầu nguyện Thiên Chúa.

Sau cái chết của cha, ông không còn nhận được tin tức gì từ quê nhà. Theo thời gian, ông quen dần và không còn lo nghĩ về chuyện cũ, để chú tâm vào công việc truyền đạo. Vậy mà giờ đây, đối diện với cảnh tượng thiên nhiên tuyệt diệu, kỷ niệm xưa bất giác dâng trào sống động. Ông tự hỏi, không biết mình cò còn giữ quyển nhật ký và tấm ảnh chân dung thân mẫu? Ông cất giữ những vật kỷ niệm nầy ở đâu? Hay là, sau nhiều biến động trong thời gian vừa qua, chúng đã thất lạc nơi đâu? Ông moi óc nhớ lại, như một nhà khảo cổ đang khơi quật kiếm tìm những thánh tích của một vị thánh. Nhưng ông không rõ cũng như không còn nhớ bất cứ chuyện gì, như thể tiềm thức ông đã cắt đứt tất cả những ràng buộc giữa ông và quá khứ. Ông, cũng như hình xăm con hải mã, đã tự thoát ly khỏi xích xiềng và tù giam ký ức, để rồi chìm sâu xuống đáy đại dương thế giới quan của cha m.

“Hai chú có thường tới đảo nầy không vậy?”, Thầy Thông lên tiếng hỏi hai phu trạo.

“Mỗi tháng hai lần”, người đàn ông chèo mũi đáp. “Nhưng tới mùa mưa thì ngưng, vì dông bão.”

“Tôi thắc mắc hoài, làm sao mấy chú nhớ đường đi tới đó, mà không cần bất kỳ dụng cụ trợ giúp nào”, Thầy Thông ngỏ lời thán phục.

Hai ngư phủ phá lên cười. “Dụng cụ gì ha? Đường đi nước bước đã được ông cha tụi tui truyền miệng lại từ đời nào tới giờ. Nó nằm trong đầu tụi tui và dính cứng trong đó như… như… thành sẹo. Thầy hiểu chớ?”, người kia rít mạnh một hơi thuốc vấn, đáp. “Lúc nhỏ, ngày nào tụi tui cũng được ông già đem theo khi đi biển. Ổng cắt nghĩa cho tụi tui biết bốn phương tám hướng, ban ngày theo hướng mặt trời, ban đêm theo hướng các chòm sao, cũng như cách chuyển động của luồng nước theo thủy triều và từng mùa. Đảo nầy, đảo kia nằm ở đâu với lại phải để ý những nơi nguy hiểm rình rập. Đủ chuyện. Mọi thứ trong vùng biển nầy được ông ghi tạc trong đầu như có ai lấy kim xăm nó vô đó. Ông còn chỉ dạy cho tụi tui cách thức nghe gió, coi mây mà đoán chuyện thời tiết.”

“Vậy hai chú tiên đoán thời tiết hôm nay ra sao?”, anh Hạo cất tiếng hỏi.

“Không thấy dấu hiệu trời xấu nào hết. Chú ngó trời thì biết.”

Ba người đàn ông đồng loạt ngẩng mặt. Vòm trời sáng rỡ, nhuốm màu thiên thanh, trong vắt vô tận. Ghe nương theo gió và lực nước, lướt phăng phăng trên mặt biển. Hai anh phu trạo cất giọng một bài dân ca, được anh Hạo phấn chấn hát theo.

Sau bữa lót lòng giản dị, gió trở mạnh, nhưng vẫn không đủ sức xua đi cái nóng châm chích. Mây xám đùn lên chất ngất ở chân trời. Trong nháy mắt, mây hội tụ càng lúc càng dầy đặc. Những người đàn ông dõi mắt âu lo, khi thấy cuối chân trời một tấm màn mây xám xịt rớt xuống. Họ còn trông thấy những đường sấm lóe, xẻ dọc ngang khung trời. Nơi đó, cơn dông nhiệt đới đang ụa mửa thốc tháo, từ từ tiến gần.

“Mầy bẻ dầm qua trái, lủi vô hang yến!”, người chèo lái hét lớn.

Biển bắt đầu tóe sóng theo cường độ gió. Mái trời bị ngàm họng tham lam của mây nuốt trửng, từng khoanh từng khoanh một. Ánh ngày tắt ngúm. Chiếc ghe tròng trành dữ dội theo mỗi đợt sóng hung hãn, đen như mực. Cha Bốn gập người ghì chặt bao bố đựng thánh kinh, miệng lẩm nhẩm bài kinh cứu nạn. Mớ thức ăn mới nãy ụa thốc tháo. Thầy Thông dán người dính chặt lườn ghe, để khỏi bị hất văng ra biển. Sấm sét chẽ nhánh sáng lóe, cắt mái trời nát bấy. Anh Hạo chụp lấy cây dầm phòng hờ, xắn nước cật lực.

May mắn thay, chiếc ghe, được gió trợ sức, tới được hòn yến trước khi mưa dông trút như  thác đổ xuống mặt đại dương.

Anh em trạo phu và anh Hạo gập người xuống lườn ghe, thở dốc. Một đỗi sau, một người mới cất giọng thều thào:

“Mấy người tha lỗi cho anh em tụi tui. Đôi khi dự báo thời tiết của tụi tui cũng trật lất.”

(04.2026)


(*) Trích đoạn tiểu thuyết “Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc”, phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ “Tausend Jahre im Augenblick” – Ngo Nguyen Dung – Nhà xuất bản POP – Ludwigsburg (Germany) 2019 – ISBN 978-3-86356-247-2.

Nguồn ảnh từ tin mạng.