Các vị Thầy trường Petrus Ký thời tiền chiến

Bác Trần Ngươn Phiêu (1927 – 2011), cựu Chủ tịch Cộng Đồng Phật Giáo miền Bắc Texas và chùa Giác Hoa tại Amarillo, Texas

Các hội Cựu học sinh Trường Petrus Ký ở hải ngoại sau 1975 đã được thành lập ở nhiều nơi, từ những thành phố lớn ở Mỹ đến Âu châu. Nhiều Nội san với các bài viết rất phong phú đã được phát hành, nhân các lễ hội lớn, gọi lại những hình ảnh thân thương của thời học sinh son trẻ của nhiều thế hệ. Trường Petrus Ký trước thời 1945, là một trong những trường Trung học công lập hiếm hoi ở miền Nam. Ngoài Trường Nữ Trung học Áo Tím ở Sài Gòn, ở khắp Nam bộ thời bấy giờ chỉ có thêm hai trường công khác cho nam học sinh: một ở Cần Thơ và một ở Mỹ Tho. Trường Áo Tím và hai trường ở tỉnh này không dạy đến ban Tú tài, chỉ dạy đến bằng Thành chung mà thôi.

Vào thời 1930-1940 số học sinh tham dự thi tuyển vào Petrus Ký mỗi năm chỉ được nhận vào khoảng hai trăm. So với các khóa về sau 1950, vào các thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa quà thật quá khiêm tốn. Vì số học sinh tăng gấp bội so với thời trước nên số giáo sư cũng tăng thêm. Người viết bài này, khi có được dịp theo dõi các Đại hội cựu học sinh hay các bài viết trong các Nội san Petrus Ký, vẫn thấy bị hụt hẵng vì thường gặp tên các giáo sư chưa từng được biết.

Hôm nay, đã gần cuối cuộc đời, người viết bài, vốn là một cựu học sinh nội trú nhiều năm ở Petrus Ký, từ năm 1939 đến 1945, cảm thấy nên viết lại vài hàng để tưởng nhớ đến các giáo sư đã có một thời dìu dắt các thế hệ đàn em. Ngoại trừ một số ít giáo sư tốt nghiệp từ các Đại học Pháp trở về, phần đông các giáo sư khác của trường Petrus Ký đều được đào tạo từ trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội. Trước khi có cơ hội ra Hà Nội học trường Cao Đẳng Sư Phạm, một số trong các vị này là những giáo viên đã tốt nghiệp ở Trường Sư Phạm Nam phần (được biết với tên gọi là trường Normal), một trường có vị trí lâu đời cạnh Sở Thú Sài Gòn. Vì được đào tạo vững chắc về giáo dục như thế nên các giáo sư này đều có những khả năng sư phạm đặc biệt cùng với những cốt cách trí thức khả kính.

Người thầy cấp Trung học tôi được tiếp xúc đầu tiên nhân ngày nhập học năm Đệ nhất ở Petrus Ký là giáo sư Pháp văn, Nguyễn Văn Chì. Ông là người có vóc hình to lớn, rất nghiêm nghị, gương mặt chữ điền. Có lẽ do một sự ngẫu nhiên tiền định, da mặt ông màu đen sậm đúng với cái tên Chì của ông! Giáo sư Chì là người tình Mỹ Tho, quận Bến Tranh. Một vài anh bạn vùng Mỹ Tho thường hay nói đùa về gương mặt đen sậm của ông: “Phải chi Ông sanh ở Gò Đen, quê của nhà cách mạng Nguyễn Văn Tạo, thì thật là đúng đủ bộ!” Khi Trần Văn Giàu đoạt chánh quyền ở miền Nam, giáo sư Chì là một trong những giáo chức lãnh trách nhiệm chiếm Nha Giáo dục Nam phần ở đường La Grandière. Sau đó ông được cử làm Giám đốc Nha Học chính. Khi xảy ra cuộc Kháng chiến Nam bộ, giáo sư Chì không trở lại dạy ở Petrus Ký. Ông tham gia cuộc chiến với tư cách nhà giáo và năm 1947, được cử làm Giám đốc Sở Học chánh Nam bộ. Ông đã góp công thành lập trong khu chiến, các trường trung học kháng chiến: Huỳnh Phan Hộ, Nguyễn Văn Tố, Thái Văn Lung…Sau thời Hiệp định Genève, ông trở về Sài Gòn nhưng vào năm 1960, bị bắt vào tù 7 năm vì hoạt động trong Nghiệp đoàn Giáo dục Tư thục. Hình như chính Thủ tướng Trần Văn Hương, một giáo sư từng học ở Cao Đẳng Sư Phạm, đã can thiệp để thả ông ra khỏi tù. Không bao lâu, sau Tết Mậu thân, ông được mời ra khu đi họp và bị giữ lại công tác trong Tiểu ban Giáo dục Trung Ương Cục Miền Nam.

Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam của Huỳnh Tấn Phát cử ông làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Sài Gòn-Gia Định. Sau tháng Tư 1975, ông làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Sài Gòn cho đến lúc hưu năm 1985. Người viết bài có biết được một góa phụ đồng hương với ông ở Bến Tranh hiện đang định cư tại thành phố Amarillo, Texas. Bà cho biết là giáo sư Chì đã qua đời vào năm 1989 trong cảnh nghèo thanh bạch! Sau thời Thống nhất, chức Chủ tịch Ủy ban Nhân dân của ông, nay với nhiều quyền uy và quyền lợi béo bở đã phải nhường cho người khác. Ông được ban bố cho một chức “ngồi chơi xơi nước” trong Mặt trận Tổ quốc!

Cũng trong năm đầu khởi sự học ở Petrus Ký, một giáo sư khác đã gây trong đầu tôi một ấn tượng khó quên là giáo sư Sử địa Nguyễn Văn Thành. Ông Thành quê tỉnh Gò Công.

Qua báo chí, sách vở, tôi được biết ở Bắc có Võ Nguyên Giáp là người dạy Sử rất hay. Riêng tôi thiết nghĩ, ở miền Nam, giáo sư Thành cũng là một người có cái say mê kỳ lạ trong môn dạy của mình. Ông có mái tóc đề dài, chẻ ngay một lằn ở giữa. Những bài giảng đều được ông soạn viết, không bắt học sinh học theo các sách. Các chiến trận của Napoléon, từ cuộc vượt biên trắc trở nhưng bất ngờ qua núi Alpes để đánh qua Ý hay những tiết bầy binh bố trận chiến dịch Waterloo đã được ông say mê trình bày, khiến học sinh thích học vẫn lấy làm tiếc khi nghe hồi chuông báo đã mản giờ học. Một vài học sinh, thuộc loại lúc nào cũng thấy gò bó trong việc học hành, ít thích các thầy dạy tận tụy lại cho ông Thành là ông giáo sư “bị mát điện”! Trong thời chiến, có được nhiều cơ hội thăm viếng cao nguyên Trung phần, tôi vẫn còn bị ám ảnh khi nhớ lại cảnh giáo sư Thành, tay trái vuốt mái tóc dài đã phủ xuống mặt khi hăng hái trình bày, tay phải đấm mạnh vào bản đồ Việt Nam, nơi vùng đồi núi Tây Nguyên Boloven, nói với học sinh:

“Thủ đô nước Việt Nam nên đặt ở nơi đây. Hà Nội quá gần Tàu, Huế hoặc Sài Gòn thì quá gần biển. Nơi đây mới là yết hầu của Việt Nam”. Khi Việt Minh cướp chánh quyền ở miền Nam, đã có việc hơn mười học sinh trường Petrus Ký bị Việt Minh xử tử ở tỉnh lỵ Gò Công. Các anh em này, phần lớn là cùng khóa của tôi như Trần Thanh Mậu, Dương Văn Đức…, đã từng có công giúp các sinh viên từ Hà Nội trở về gây phong trào trình diễn các vở kịch ái quốc, các bản hùng ca có tánh cách lịch sử của Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiềng…ở nhà hát lớn thành phố Sài Gòn.

Sau đó các anh em này đã đem về các tỉnh như Gò Công, Tây Ninh để trình diễn và đã được đồng bào ở tỉnh rất ái mộ. Nếu không có sự tiếp tay hưởng ứng của các học sinh này thì các sinh viên từ Hà Nội về đã không thể thành công trong chủ trương khuấy động lại lòng yêu nước của dân chúng miền Nam. Các anh em trẻ nhiều nhiệt huyết này đã góp nhiều công trong các ngày đầu Cách mạng Mùa Thu. Nhưng cũng có vài khi các anh đã chỉ trích việc làm sai trái của Cộng sản địa phương. Để tranh dành ảnh hưởng và dằn mặt đe dọa, họ đã nhẫn tâm kết tội và xử tử những thanh niên non trẻ này! Đảng Dân Chủ lúc bấy giờ đã phái Đặng Ngọc Tốt xuống Gò Công can thiệp nhưng không kết quả. Giáo sư Thành cũng đã có nhiều phản ứng bình vực đám học sinh đàn em còn non dại với những lời đanh thép. Sau này, theo lời kể của giáo sư Trần Thượng Thủ, ông Thành đã bị Việt Minh ám sát ngay nơi bàn việc của ông khi ông làm thanh tra giáo dục ở Phú Lâm!

Một giáo sư khác có liên hệ họ hàng với người viết bài là ông Lê Văn Cẩm. Ông gốc gác tỉnh Thủ Dầu Một, chuyên dạy Toán ở Petrus Ký. Ông là người đã mua sắm máy thu thanh được nhập cảng đầu tiên từ Pháp do nhà buôn Boy Landry ở Sài Gòn. Thú vui của ông là đêm đêm hay tìm nghe các làn sóng phát thanh ngoại quốc để theo dõi tình hình quốc tế. Khi có cuộc Kháng chiến, ông ra khu, phụ trách Sở Giáo dục Nam bộ, xây dựng các trường Trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố và trường Trung học bình dân Nguyễn Công Mỹ. Ông tập kết ra Bắc sau một thời gian làm việc trong Ủy ban Liên hiệp Đình chiến của Hiệp định Genève. Ở Hà Nội, ông tiếp tục dạy ở Đại học Sư phạm và từng đảm nhận chức Giám đốc khu học sinh Việt Nam tại Quế Lâm, Trung Quốc. Khi còn trẻ, ông đã kết hôn với một người vợ rất đẹp, người gốc Hà Tiên. Trong thời ông tập kết ở Bắc, vợ ông đã kết hôn với một người khác. Bà là người giao thiệp rộng và đã có nhiều thành công trong thương trường. Sau 1975, Bà đã cấp dưỡng bù đắp cho số lương hồi hưu ít ỏi của ông. Ông mất năm 1985, hy sinh hạnh phúc gia đình cho lý tưởng phục vụ đất nước, theo ý nguyện.

Có những giáo sư khác mà tuy người viết bài này không có may mắn theo học nhưng vẫn được biết tiếng ở Petrus Ký nhờ những giai thoại đặc biệt. Giáo sư Lê Văn Huấn chẳng hạn là một trong những trường hợp này. Ông Huấn dạy về Khoa học nhưng có thêm cái hobby là rất đam mê về kỹ thuật vô tuyến truyền thanh, một nghành rất mới vào các thập niên 1930-1940. Sau những năm 1945, anh của giáo sư Huấn, bác sĩ Lê Văn Hoạch là một nhân vật chính trị có tiếng ở Cần Thơ, đã có lúc là Thủ tướng Nam Việt trong khi giáo sư Huấn lại là người đã tận tình mua sắm máy móc thiết bị, giúp thành lập đài Tiếng Nói Nam Bộ của kháng chiến! Một giáo sư khác ở Gia Định là ông Võ Văn Lúa, cử nhân văn chương, có vợ Pháp, du học từ Pháp về, có cái đầu hơi lơ thơ vài sợi tóc. Học sinh đều ngán ông vì cách chấm bài luận Pháp văn của ông. Trong bài viết, ông luôn luôn trừ điểm khi phạm lỗi văn phạm. Ít có bài nào được ông chấm điểm trên 8/20! Giảng về tác phẩm La Mare au Diable của George Sand, suốt cả năm, ông chỉ dạy đến chương III vì ông đã để thời giờ giảng văn phạm Pháp của mỗi trang sách! Có một thời ra làm chánh trị, giáo sư Lúa là người đã chọn lá cờ Nam Kỳ Tự Trị màu xanh nước biển và bản quốc ca “Thuở thanh bình, Quốc dân…….” Hobby của ông là chuyên môn sửa xe hơi vì khi còn là sinh viên ở Pháp, ông vốn đã từng làm thợ máy để kiếm tiền ăn học.

Một giáo sư khác dạy Khoa học Tự nhiên, người Việt đầu tiên tốt nghiệp Tiến sĩ Quốc gia (Doctorat d’État) từ Pháp về, người gốc Sa Đéc có cái tên tiền định là giáo sư Nguyễn Thành Giung. Ông người dáng dấp lùn, mập tròn, trán hói, tác phong rất chững chạc, là bậc thầy đã khơi động cho học sinh ý niệm tìm hiểu và trân trọng cây cỏ, côn trùng, sinh vật của đất nước. Có một lúc ông được cử làm Tổng trưởng Giáo dục ở Nam Việt, Phó Viện trưởng Viện Đại học Hỗn Hợp Đông Dương (Université Mixte d’Indochine). Một giáo sư khác đắc cử dân biểu Quốc hội Việt Nam khóa đầu tiên là giáo sư Đặng Minh Trứ. Việc ông tham gia chánh trị hình như chỉ có việc đắc cử đó mà thôi. Ông chưa hề ra Bắc tham dự một khóa họp nào và cũng không thấy có hoạt động gì đáng kể.

Một giáo sư gốc Bắc có nhiều hoạt động trong giới văn nghệ, chuyên dạy Văn hóa Việt Nam, rất giỏi về chuyện Kiều là ông Nguyễn văn Nho. Ông là người tinh thông Hán học, đã từng thi đổ nhị trường. Vì triều đình bãi bỏ khoa thi nên ông chưa thi được cử nhân. Chuyển qua Tây học, ông đã là sinh viên xuất sắc về Pháp văn ở Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội. Học sinh thường gọi ông là “Bố Nho”. Ông được học sinh biết nhiều vì tật hút thuốc lá châm từ điếu này qua điếu khác, không ngừng nghỉ, ngay cả khi dạy học. Ông thường gạt tàn thuốc vào hộp diêm, xong bỏ vào túi sau giờ giảng. Ông cũng có tật say mê đánh bài Tứ sắc với các đồng liêu và văn hữu vào những ngày nghỉ cuối tuần nên thường hay phải ngáp vắn dài khi đi dạy các buổi sáng thứ Hai! Ông có bốn con trai, học sinh Petrus Ký, được đặt tên: Thụ, Đức, Sơn, Hà. Hai người đã tử trận trong thời chiến. Nghe đồn là ông đã có dịp trở về thăm đất Bắc sau 1975 nhưng đã mất trong một tai nạn?

Một giáo sư trường Petrus Ký được đề cử chức Thứ trưởng Giáo dục trong chánh phủ Lâm thời Miền Nam của Mặt trận Giải phóng miền Nam của Huỳnh Tấn Phát là ông Lê văn Chí. Ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội và đã từng dạy ở các trường trung học Mỹ Tho, Cần Thơ trước khi về Petrus Ký. Năm 1945, ông là người tham gia tổ chức Thanh niên Tiền Phong và sau đã vào khu chiến Đồng Tháp giúp việc ở Sở Giáo dục Nam bộ. Ông đã làm hiệu trưởng của cả ba trường trung học kháng chiến Huỳnh Phan Hộ, Nguyễn Văn Tố, Thái Văn Lung trước khi các trường này bị giải tán. Sau Hiệp định Genève 1954, ông trở về Sài Gòn dạy các trường tư thục cho đến khi bị bắt năm 1960 vì hoạt động trí vận. Ra khỏi tù, sau Tết Mậu thân, ông trở về khu chiến và được cử chức Thứ trưởng trong chánh phủ vắn số của Huỳnh Tấn Phát. Ông qua đời năm 1993 ở Sài Gòn.

Nhắc đến các giáo sư Việt ở Petrus Ký, tưởng cũng nên nhớ đến vài giáo sư người Pháp đã từng dạy dỗ nhiều thế hệ thanh niên. Một giáo sư đa tài dạy Sử Địa rất hay, rất thân thiện với học sinh, có cái tên tiền định là giáo sư Champion. Sau này ông cũng là vị thầy chánh khi trường thành lập Ban Cổ điển (Métro) có dạy chữ Latin. Trong thời kỳ chiến tranh Đông dương, ông Champion qua dạy Địa dư ở trường Chasseloup Laubat. Một giáo sư Pháp văn người gốc gascon nước Pháp thường được vài học sinh tặng cho danh hiệu bị “mát điện” là ông René Gros. Ông là một nhạc sĩ dương cầm nhưng bị bịnh lãng tai nên thường phát âm rất lớn. Mặc dầu bề ngoài, thầy ông có vẽ thô lỗ vì cách nói có tánh cách “anh chị” của người gascon nhưng thật sự ông là người rất mê thơ văn. Ông thích đọc thơ Pháp cho học sinh, trích từ những quyển thơ đóng bìa da đỏ “cuir de Russie” có mùi thơm đặc biệt. Vợ ông qua đời sớm ở Việt Nam và ông đã đặt một bài nhạc hòa tấu kỷ niệm người phối ngẫu. Ông chọn tên tác giả là René Sorg, viết lộn trái chữ Gros. Ông đã nhờ người viết bài này chép lại bản nhạc để đem cho nhà in phát hành.

Nhìn ông thầy già tóc bạc phơ vừa ngồi đánh dương cầm, vừa lã chã rơi lệ nhớ người bạn đời vắn số là một cảnh tượng khó quên đối với tôi khi viết đến người thầy cũ có nhiều văn nghệ tính.

Một giáo sư khác có công trình khảo cứu về “Hát Bội” ở Việt Nam nhưng ít được học sinh biết tiếng là giáo sư Coulet. Ông thuộc về nhóm “Tam Điểm” (Franc Macons) nên khi chế độ Pétain lên nắm chánh quyền ở Pháp, ông đã phải trốn qua Hong Kong để tránh bị bắt cũng như các người Pháp gốc Do thái thời bấy giờ. Giáo sư Coulet thuộc giới biên khảo nên rất thân tình với một giáo sư Việt văn khác là ông Đoàn Trung Còn. Học sinh chỉ biết ông Còn là một giáo sư nghiêm túc, lúc nào cũng mặc âu phục tussor ngà ngà ủi thẳng nếp, đầu chải bóng. Ít ai biết ông lại là người đã có công hoàn thành quyển “Phật học Từ Điển” đồ xộ! Giữa hai giờ học, hai giáo sư này khi gặp nhau là cùng đứng bàn chuyện, từ năm này qua năm khác, chắc hẳn là về các vấn đề biên khảo, sưu tầm?.

Giáo sư Toán người Pháp Roumégous là một tráng niên thích thể dục, thể thao. Đang ở lứa tuổi bị động viên vì tình trạng chiến tranh, giáo sư Roumégous tuy đi dạy, nhưng lúc nào cũng mặc quân phục sĩ quan nên trông ông càng thêm quắc thước. Ông đã cùng giáo sư họa sĩ Hồ Văn Lái hô hào thúc đẩy thành lập phong trao vận động thanh niên. Tổ chức Đoàn SET và Đoàn Hùng của Petrus Ký đã ra đời, một phần do sự đóng góp của hai giáo sư này. Người vẽ huy hiệu Đoàn Hùng với đóm lửa đỏ, biểu hiệu kín đáo nói lên ngọn lửa thanh niên Việt hình chữ S là sáng tác của họa sĩ Hồ văn Lái.

Một giáo sư người Pháp nhưng dường như cũng có gốc Trung Hoa dạy Lý Hóa là Léon Cosserat, được học sinh Petrus Ký biết tiếng do việc ông là người duy nhất cho phát các bài giảng in ronéo. Sách giáo khoa thường dài dòng giải thích; bài của ông như loại tóm lược nên dễ đọc, dễ nhớ. Ông người vóc cao lớn, chỉ thích mặc quần áo ngắn có lẽ vì thấy thoải mái với khí hậu nóng nực miền Nam? Có vài lần, các học sinh đi xem hát về khuya, đã gặp thầy Cosserat ra ngồi ăn mì thoải mái, bất cần đời, ở một xe mì đường Duy Tân.

Một giáo sư Việt khác được nhiều thế hệ học sinh các thập niên 1930-1940 chắc chắn đều biết là giáo sư Sử Địa Trần văn Quế. Ông người theo đạo Cao Đài, quê tỉnh Tây Ninh. Sau khi tốt nghiệp cao đẳng Sư Phạm Hà Nội, cùng với các giáo sư Nguyễn văn Chì, Nguyễn văn Chí, Lê văn Cẩm…, ông về dạy rất nhiều năm ở Petrus Ký. Dáng dóc cao lớn, âu phục chỉnh tề, tóc hớt cao kiểu “carrée”, ông có một giọng nói lớn nhưng êm đềm, hiền hậu. Trong giờ dạy, ngoài các đề tài của môn, ông thường để thời giờ kể chuyện Đông Tây Kim Cổ, rút từ Cổ học Tinh hoa và Nam Hải Dị Nhân, tìm cách đánh thức lòng ái quốc thương dân cho đám hậu sinh. Một nhóm học sinh trong đó có tác giả bài này đã được ông hướng dẫn giới thiệu với những người đang hoạt động thời bấy giờ trong tổ chức của Kỳ ngoại hầu Cường Đề. Chúng tôi đã từng lén lút đến căn phố của Luật sư Diệp Ba ở Tân Định để học tập các tài liệu được gởi từ Nhật về, đóng ngụy trang rất khéo trong các quyển sách Pháp về chế độ Thống chế Pháp, Phillipcs Pétain. Khi được biết tin Đảng Cộng sản Đệ Tam sắp chuẩn bị Nam kỳ Khởi nghĩa, chúng tôi đã đến vấn kế và ông đã ân cần căn dặn phải cẩn trọng trong tình thế mới. Nhưng rồi thực dân Pháp cũng đã đến bắt ông và ông bị đày Côn Đảo. Sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Nhật đảo chánh thực dân Pháp và giáo sư Quế là một trong những người bị giam ở Côn Đảo, đầu tiên được Thủ tướng Trần Trọng Kim cho rước về đất liền. Đám học sinh chúng tôi đã có buổi tiếp đón giáo sư rất cảm động trong khuôn viên Sở Lao Động Sài Gòn. Trong thời khởi đầu Cách mạng Mùa Thu, giáo sư Quế được mời làm cố vấn cho Dương Bạch Mai, Ủy viên Thanh tra Miền Đông, đóng ở Biên Hòa trong khi nhóm Trần văn Giàu rút về vùng Tân An. Thật ra đây chỉ là một toan tính của Cộng Sản, muốn cầm chân giáo sư Quế không cho ông về hoạt động ở vùng Tây Ninh, địa bàn quan trọng của Cao Đài. Khi quân Pháp chuẩn bị tấn chiếm Biên Hòa, tình cờ biết được mưu toan của Cộng Sản định cô lập ông, người viết bài đã thông báo cho thầy biết và thầy đã vượt thoát về Tây Ninh.

Trong thời chánh phủ Cộng Hòa, giáo sư đã đảm nhận giảng dạy các khóa Công dân vụ. Ông cũng được bổ nhiệm dạy tại Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1972, người viết bài có được dịp đến thăm thầy đang cư ngụ trong xóm Bàn Cờ. Lúc ấy tôi đang tham gia một chức vụ trong Nội ốc lo về Nạn nhân Chiến cuộc. Thầy đã mừng rỡ nhận ra người học trò cũ nhưng lại gọi là “Ngài”! Tôi bỗng thấy hai gối rụng rời, sụp xuống lạy xin Thầy đừng xưng hô như vậy!

Một vị thầy danh tiếng ở Petrus Ký được nhiều người trong giới trí thức miền Nam biết đến là giáo sư Phạm Thiều.

Ông gốc người Nghệ Tĩnh, đã có tiếng là thần đồng, từng tham dự thi hương khi còn rất trẻ. Ông chuyên dạy Hán văn nhưng cũng có năm dạy Toán. Khi trường Petrus Ký thành lập Ban Cổ điển Viễn Đông (Extrême Orient), ông là người thầy chánh dạy ban này, cũng như giáo sư Champion là thầy chánh Ban Métro. Ngoài việc giảng dạy ở Trung học, ông thường có những buổi diễn thuyết ở hội trường S.A.M.I.P.I.C (Trí-Đức-Thể Dục) về các đề tài văn học, Khổng Mạnh…gây nhiều tranh luận sôi nổi trên báo chí với Phan văn Hùm, Phan Khôi… Dáng người nhỏ thưng nhưng chững chạc, nghiêm nghị. Âu phục lúc nào cũng thẳng nếp, ông có giọng nói sang sảng của các diễn giả. Mỗi bận vào lớp, việc đầu tiên là ông trịnh trọng móc trong túi áo ra chiếc đồng hồ quả quýt, đặt vào góc bàn của bàn, xoay cho dây đồng hồ quấn tròn cẩn thận trước khi bắt đầu dạy. Ông lúc nào cũng kết thúc bài giảng rất đúng giờ. Khi quân Pháp trở lại chiếm Sài Gòn, ông tham gia cuộc kháng chiến rất sớm. Người viết bài đã có lần gặp lại thầy ở chiến khu rừng Vĩnh Cửu Biên Hòa. Thật là một sự bất ngờ khi tôi được nghe thầy, người có tiếng là rất nghiêm nghị, vui nhại sửa lại lời hát của Đỗ Nhuận:

“Chiều nay lên chiến khu, đi gò mèo!”

Sau thời gian đó, một anh bạn ở Petrus Ký khác là Trần văn Linh (Thẩm phán Chủ tịch Tối cao Pháp viện thời VNCH) đã có được dịp dự lớp huấn luyện chánh trị do giáo sư Phạm Thiều tổ chức ở chiến khu Tân Uyên. Ông cũng đảm trách trong một thời gian Sở Thông tin và Đài Phát thanh Nam bộ khi Đài dời về Khu 9. Tập kết ra Bắc sau Hiệp định Genève. Sau 30/4/1975 ông trở về Nam, được cử dân biểu quốc hội, thành phố Sài Gòn. Thất vọng khi biết rõ đã hi sinh cả đời cho một chế độ không mang lại gì tốt đẹp cho đất nước, giáo sư Phạm Thiều đã treo cổ tự tử, viết để lại những dòng nhắn nhủ:

“Dốt mà lãnh đạo nên làm Đại,
Dại mà muốn thành tích nên báo cáo Dối,

Dốt, Dại, Dối: Đó là 3 điều làm cho các nước Xã Hội Chủ Nghĩa sụp đổ, làm cho nước ta đi từ sai lầm này đến sai lầm khác ”.

Bên trên là những vị thầy thời tiền chiến ở Petrus Ký. Nhiều thế hệ thanh niên ở miền Nam đã được các thầy uốn nắn, dạy dỗ chuẩn bị hành trang vào đời. Cuộc chiến khởi đầu với khí thế toàn dân một lòng đoàn kết đứng lên chống thực dân Pháp lần lần đã bị những toan tính đảng phái của Cộng sản Đệ Tam, lái qua những lộ trình ác nghiệt, dẫn dắt đất nước đến những hoang tàn đổ nát trên năm chục năm. Các thầy đã không thể né tránh được những cảnh thăng trầm của đất nước. Mỗi vị, tùy theo ý chí và ý nguyện đã chọn những thế đứng khác biệt. Đúng sai hãy để lịch sử suy xét thẩm định trong tương lai.

Nhưng nhìn lại những chuyện cũ, chúng ta có thể khẳng định là trong cuộc binh lửa vừa qua, các vị thầy thời tiền chiến của Petrus Ký, dầu ở chiến tuyến nào cũng đã là những trí thức đàn anh có tư cách, những nhà trí thức mô phạm.

Hè 2006