Xây dựng trên xương máu của người nô lệ: Châu Phi đã bị xóa khỏi lịch sử thế giới hiện đại như thế nào

Howard W French | Trần Giao Thủy

(Nguồn: https://dcvonline.net/2021/10/17/xay-dung-tren-xuong-mau-cua-nguoi-no-le-chau-phi-da-bi-xoa-khoi-lich-su-the-gioi-hien-dai-nhu-the-nao/)

La bàn khảm, Đài tưởng niệm những khám phá, Belem, Lisbon, Bồ Đào Nha, Châu Âu. Nguồn: Image Broker/Rex

Những người thám hiểm đầu tiên ở châu Âu thường được ghi công là đã tạo ra thế giới hiện đại, liên kết với nhau. Nhưng châu Phi là nguồn cội cho hầu hết mọi thứ họ đạt được – và sự sống của người châu Phi là cái giá khủng khiếp.

Nếu một câu chuyện bắt đầu không đúng chỗ nhưng lại đi đến kết luận đúng thì là điều không bình thường. Và đó là lịch sử hình thành thế giới hiện đại. Truyện cổ đã dành vị trí ưu tiên cho Thời đại Khám phá thế kỷ 15 của Châu Âu và sự kết nối đường biển mà nó thiết lập giữa phương tây và phương đông. Đi đôi với kỳ tích lịch sử này là khám phá quan trọng, nếu tình cờ, về cái được gọi là Thế giới Mới.

Những lời giải thích khác cho sự xuất hiện của thế giới hiện đại thuộc về đạo đức và tính khí mà một số người liên kết với niềm tin của Do Thái-Kitô giáo, hoặc với sự phát triển và truyền bá của phương pháp khoa học, hoặc theo kiểu bá quyền, hống hách hơn, với niềm tin thường được xưng tụng của người châu Âu về sự khéo léo và sáng tạo độc đáo của họ. Trong trí tưởng tượng của mọi người, những tư tưởng này đã gắn liền với đạo đức làm việc, chủ nghĩa cá nhân và khuynh hướng kinh doanh được cho là xuất phát từ cuộc Cải cách Kháng nghị (Protestant Reformation) ở những nơi như Anh và Hòa Lan.

Tất nhiên, không thể phủ nhận tầm quan trọng của những cuộc thám hiểm của những người đi biển như Vasco da Gama, băng qua Ấn Độ Dương đến Ấn Độ vào năm 1498, Ferdinand Magellan, đã đi về phía tây đến châu Á, vòng qua mũi phía nam của Nam Mỹ, và Christopher Columbus. Như tác giả Marie Arana đã nói một cách thanh lịch về Columbus,

“Ông là một con người thời trung cổ từ thế giới thời trung cổ, với những quan niệm thời trung cổ về Cyclops, người lùn, người Amazons, thổ dân mặt chó, những kẻ đối cực đi bằng đầu và suy nghĩ bằng đôi chân của họ – về những chủng tộc da đen, tai khổng lồ sống ở những vùng đất mà vàng và đá quý mọc lên. Tuy nhiên, khi bước chân đến châu Mỹ, ông ấy còn làm được nhiều hơn là bước vào một thế giới mới: ông đã bước sang một thời đại mới.”

Marie Arana

Mặc dù những kỳ công khám phá nổi tiếng này chi phối trí tưởng tượng của mọi người, nhưng chúng che khuất câu chuyện thật về cách thế giới được kết nối vĩnh viễn với nhau như thế nào và do đó trở thành “hiện đại”. Nếu chúng ta xem xét những bằng chứng kỹ lưỡng hơn, sẽ thấy rõ ràng rằng châu Phi đóng một vai trò trung tâm trong câu chuyện lịch sử này. Bằng cách phân công sai vai trò của châu Phi, nhiều thế hệ đã được dạy về một câu chuyện lịch sử sai lầm sâu sắc về nguồn gốc của sự hiện đại.

Lực đẩy đầu tiên đi đến Kỷ nguyên Khám phá không phải là việc Châu Âu khao khát quan hệ với Châu Á, như rất nhiều người trong chúng ta đã học ở trường, mà là mong muốn đã có hàng thế kỷ của Châu Âu là tạo dựng mối quan hệ giao thương với những xã hội da đen giàu có trong truyện cổ tích ẩn sâu trong trái tim “đen tối nhất” ở Tây Phi. Những người đi biển nổi tiếng nhất của Iberia với kinh nghiệm ban đầu không phải là tìm những con đường đến châu Á, mà là miệt mài đi dọc ven biển phía tây châu Phi. Đây là nơi họ hoàn thành những kỹ thuật lập bản đồ và lái thuyền đi biển; đây cũng là nơi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã thí nghiệm những kiểu tàu cải tiến, và là nơi Columbus hiểu rõ về gió và hải lưu ở Đại Tây Dương, đủ để sau này ông có thể đi đến góc biển phía tây với niềm tin rằng trước đây chưa có người châu Âu nào có thể đến đó và trở lại nhà.

Một đồn phòng thủ ở Elmina, Ghana, do những người buôn bán nô lệ và vàng châu Âu từ thế kỷ 15 xây dựng. Ảnh: David Guttenfelder / Associated Press

Trước khi thay mặt Tây Ban Nha thực hiện những cuộc thám hiểm, Columbus, một người Ý ở Genoa, đã đi thuyền đến tiền đồn ở nước ngoài lớn, kiên cố đầu tiên của châu Âu, nằm trong vùng nhiệt đới tại Elmina, thuộc Ghana ngày nay. Những cuộc thám hiểm của người châu Âu đến Tây Phi vào giữa thế kỷ 15 đã kết thúc trong việc tìm vàng. Chính việc buôn bán kim loại quý này, do người Bồ Đào Nha tìm được ở khu vực ngày nay là Ghana vào năm 1471, và được củng cố bằng việc xây dựng pháo đài ở Elmina vào năm 1482, đã giúp tài trợ cho sứ mệnh khám phá châu Á sau này của Vasco da Gama.

Nguồn cung cấp vàng mới và phong phú này đã giúp Lisbon, cho đến lúc đó, chỉ là một vương quốc nhỏ và túng thiếu ở châu Âu, chiếm thế thượng phong đối với những nước láng giềng và thay đổi hoàn toàn lộ trình lịch sử thế giới.

Bartolomeu Dias, một nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha khác, người biết rõ về Elmina, đã đến Mũi Hảo vọng của châu Phi vào năm 1488, chứng minh sự hiện hữu của một con đường biển đến nơi sau này được biết đến là Ấn Độ Dương. Nhưng thậm chí sẽ không có chuyến hải hành nào đến châu Á trong gần một thập kỷ sau đó, khi Da Gama cuối cùng đã lên đường đến Calicut (bây giờ là Kozhikode ở Ấn Độ). Việc giảng dạy lịch sử về thời đại của những khám phá mang tính biểu tượng này không chỉ im lặng một cách bầy đàn về mười năm đó, mà còn trong gần ba thập kỷ từ khi người Bồ Đào Nha đến Elmina năm 1471 và cuộc đổ bộ của họ xuống Ấn Độ năm 1498.

Chính khoảnh khắc này, khi châu Âu và những gì ngày nay là châu Phi hạ Sahara tiếp xúc sâu rộng vĩnh viễn, đã đặt nền móng cho thời đại hiện đại.

***

Việc đọc lướt qua gần ba mươi năm quan trọng này chỉ là một ví dụ về tiến trình kéo dài hàng thế kỷ về sự giảm bớt, tầm thường hóa và xóa sổ người châu Phi và những người gốc châu Phi khỏi câu chuyện của thế giới hiện đại. Nó không phải là những sự kiện cơ bản không được biết đến; vấn đề đó là chúng đã bị phụ bạc, bị coi thường hoặc bị cuốn vào những góc tối. Điều cần thiết là phải khôi phục những chương chính như những chương này về vị trí nổi bật thích đáng của chúng trong câu chuyện hiện đại thông thường của chúng ta.

Bắt đầu từ thế kỷ 15, những cuộc gặp gỡ giữa người châu Phi và châu Âu đã khiến những người châu Âu hướng về Đại Tây Dương nhất vào con đường mà cuối cùng sẽ đưa lục địa của họ vượt qua những trung tâm văn minh lớn của châu Á và thế giới Hồi giáo về mặt giàu có và quyền lực. Sự trỗi dậy của châu Âu không hình thành dựa trên bất kỳ đặc điểm bẩm sinh hay vĩnh viễn nào tạo ra sự vượt trội. Ở một mức độ vẫn chưa được công nhận, nó được xây dựng dựa trên những mối quan hệ kinh tế và chính trị của châu Âu với châu Phi. Tất nhiên, trọng tâm của vấn đề ở đây là hoạt động buôn bán xuyên Đại Tây Dương khổng lồ kéo dài hàng thế kỷ nhằm vào những người nô lệ, những người bị bắt làm công việc trồng đường, thuốc lá, gòn và những loại cây thu tiền khác trên những đồn điền của Tân Thế giới.

Đài tưởng niệm những khám phá ở Lisbon, Bồ Đào Nha. Ảnh: Renato Granieri / Alamy

Sợi dây dài dẫn chúng ta đến hiện tại bắt đầu từ ba mươi năm cuối thế kỷ 15 đó, khi thương mại phát triển giữa Bồ Đào Nha và châu Phi, mang đến một sự thịnh vượng mới, rửa sạch những gì trước đây chỉ là một quốc gia ở bên lề châu Âu. Nó thúc đẩy tiến trình đô thị hóa ở Bồ Đào Nha với mức độ chưa từng có, và tạo ra những bản sắc mới dần dần giải phóng nhiều người khỏi những ràng buộc phong kiến với đất đai. Một trong những bản sắc mới lạ này là tính chất một quốc gia, nguồn gốc của họ kết thúc với việc đi tìm sự giàu có ở những vùng đất xa xôi, và ngay sau đó là di cư và thuộc địa ở vùng nhiệt đới.

Khi Bồ Đào Nha bắt đầu khai phá đi ra thế giới vào những năm 1400 – và trong gần một thế kỷ, việc khai phá này gần như chỉ dành riêng cho Châu Phi – người dân của Bồ Đào Nha là một trong những người đầu tiên tạo ra một bước nhảy vọt khác về khái niệm. Họ bắt đầu nghĩ về việc khám phá không chỉ đơn thuần là tình cờ bắt gặp những thứ mới lạ hay mở rộng tầm mắt đến những nơi chưa từng đến, mà là một thứ gì đó mới mẻ và trừu tượng hơn. Khám phá đã trở thành một tư duy, và điều này sẽ trở thành một nền tảng khác của sự hiện đại. Điều đó có nghĩa là hiểu rằng thế giới là vô hạn trong sự phức tạp xã hội của nó, và điều này đòi hỏi sự mở rộng nhận thức, ngay cả giữa cảnh bạo lực khổng lồ và nỗi kinh hoàng đi kèm với tiến trình này, và một hệ thống hơn bao giờ, kéo neo rời bến bờ tác phong tỉnh lẻ.

Cuộc giao tiếp định mệnh giữa châu Âu và châu Phi hạ Sahara đã tạo ra những chuyển đổi văn minh ở cả hai khu vực, cũng như trong thế giới rộng lớn hơn – những biến đổi mà ngày nay nhìn lại, đã tạo ra sự phân chia đặc biệt rõ ràng giữa “trước” và “sau”.

***

Hồi đó, người châu Âu đã lưu tâm đến thực tế này. Vào cuối những năm 1530, cũng như sau khi Bồ Đào Nha bắt đầu thương mại gia vị nổi tiếng hơn với châu Á, Lisbon vẫn công nhận châu Phi là động lực hàng đầu của tất cả những gì mới. João de Barros, một cố vấn cho triều đình của quốc gia đó, đã viết:

“Tôi không biết ở Vương quốc này một ách thống trị về đất đai, thuế phí, thuế thập phân, thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc bất kỳ loại thuế Hoàng gia nào khác đáng tin cậy hơn … lợi nhuận thương mại ở Guinea.”

João de Barros

Nhưng đáng chú ý như sự thừa nhận của Barros về sức sống châu Phi, việc ông không coi chế độ nô lệ như một trụ cột của mối quan hệ cũng đáng chú ý không kém. Có thể đây là lần đầu tiên vị trí trung tâm của nô lệ Da đen chỉ đơn giản được chuyển qua trong một bản tường trình đầy đủ thông tin về sự hiện đại ở phương tây. Nó sẽ không phải là cuối cùng. Khi Barros viết, Bồ Đào Nha thống trị hoàn toàn hoạt động buôn bán của châu Âu đối với người châu Phi, và chế độ nô lệ đang bắt đầu sánh ngang với vàng là nguồn tiền thưởng châu Phi béo bở nhất của Bồ Đào Nha. Đến lúc đó, nó đang trên đường trở thành nền tảng của một hệ thống kinh tế mới dựa trên nông nghiệp trồng rừng. Theo thời gian, hệ thống đó sẽ tạo ra của cải cho châu Âu nhiều hơn so với vàng châu Phi hoặc lụa và gia vị châu Á.

Nghe giống như một Barros cập nhật, Malachy Postlethwayt, một chuyên gia hàng đầu của Anh thế kỷ 18 về thương mại, đã gọi giá thuê và doanh thu của công nhân nô lệ trong đồn điền là “chỗ dựa và hỗ trợ cơ bản” cho sự thịnh vượng của đất nước ông. Ông mô tả đế chế Anh là “một cấu trúc thượng tầng tráng lệ của thương mại và sức mạnh hải quân của Mỹ [được xây dựng] trên nền tảng châu Phi.” Cùng thời gian đó, một tư tưởng gia nổi tiếng không kém người Pháp, Guillaume-Thomas-François de Raynal, đã mô tả những đồn điền ở châu Âu do những người nô lệ châu Phi làm việc là “nguyên nhân chính của chuyển động nhanh hiện nay đang khuấy động vũ trụ”. Daniel Defoe, người Anh, tác giả của Robinson Crusoe, nhưng cũng là một người kinh doanh, người viết sách nhỏ bàn về thời sự và gián điệp, đã vượt qua cả hai, Malachy Postlethwayt và Guillaume-Thomas-François de Raynal, khi viết:

“Không có buôn bán ở châu Phi, không có người da đen; không có người da đen, không có đường, gừng, v.v.; không có đường, vv, không có đảo, không có lục địa; không có lục địa, không có thương mại .”

Daniel Defoe

Postlethwayt, Raynal và Defoe chắc chắn đã đúng, ngay cả khi họ không hiểu tất cả lý do tại sao. Hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, châu Phi là đinh chốt của cỗ máy hiện đại. Nếu không có những người châu Phi bị đem bán đi từ những bờ biển của nó, thì châu Mỹ có lẽ đã không đáng kể trong sự thăng tiến của phương tây. Công nhân châu Phi, dưới hình thức những người nô lệ, là điều đã làm nên sự phát triển của châu Mỹ. Nếu không có người nô lệ da đen, những dự án thuộc địa của châu Âu ở Tân Thế giới là điều không tượng.

Bằng sự phát triển của nông nghiệp đồn điền và một loạt những loại cây thương mại làm thay đổi lịch sử – thuốc lá, cà phê, ca cao, chàm, gạo và trên hết là đường – mối quan hệ sâu sắc và thường tàn bạo của châu Âu với châu Phi đã thúc đẩy sự ra đời của một nền kinh tế tư bản toàn cầu thực sự. Đường do người nô lệ trồng trọt đã thúc đẩy sự kết hợp của những tiến trình mà chúng ta gọi là kỹ nghệ hóa. Nó đã thay đổi hoàn toàn đồ ăn thường ngày, làm cho năng suất của công nhân có thể cao hơn nhiều. Và khi làm như vậy, đường đã cách mạng hóa xã hội châu Âu.

Một tượng đài ghi nhớ về chế độ nô lệ tại một viện bảo tàng ở Porto-Novo, Benin. Ảnh: Afolabi Sotunde/Reuters

Trước sự phát triển của đường, cây gòn do những người nô lệ ở miền nam nước Mỹ trồng đã giúp khởi động tiến trình kỹ nghệ hóa chính thức, cùng với làn sóng chủ nghĩa tiêu dùng thứ hai. Quần áo phong phú và đa dạng cho quần chúng lần đầu tiên trở thành hiện thực trong lịch sử loài người. Quy mô của sự bùng nổ bông gòn trước cuộc nội chiến ở Mỹ, đã làm nên điều này, một chuyện đáng kinh ngạc. Chỉ riêng giá trị thu được từ việc buôn bán và là chủ của những người nô lệ ở Mỹ – khác hẳn với gòn và những sản phẩm khác mà họ sản xuất – đã lớn hơn giá trị của tất cả những nhà máy, đường sắt và kinh đào của nước này cộng lại.

Những cuộc tranh giành quyền kiểm soát tiền thưởng châu Phi hiện đang bị lãng quên ở châu Âu đã phần nào xây dựng nên thế giới hiện đại, bằng cách củng cố lòng trung thành cố định với quốc gia. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã tiến hành những trận hải chiến khốc liệt ở Tây Phi để tranh giành vàng. Hòa Lan và Bồ Đào Nha, sau đó đã thống nhất với Tây Ban Nha, đã chiến đấu trong một cuộc chiến gần như thế chiến vào thế kỷ 17 ở Congo và Angola ngày nay, tranh giành quyền kiểm soát hoạt động buôn bán những nguồn nô lệ giàu có nhất ở châu Phi. Ở phía xa bờ Đại Tây Dương, Brazil – nước sản xuất đường do nô lệ trồng nhiều nhất vào đầu thế kỷ 17 – cũng bị cuốn vào chiến tranh tương tự và nhiều lần đổi chủ. Cuối cùng trong thế kỷ đó, Anh chiến đấu với Tây Ban Nha để giành quyền kiểm soát vùng Caribbean.

Tại sao những cường quốc ở xa lại cạnh tranh gay gắt về những điều như vậy? Hòn đảo Barbados nhỏ xíu đã cho câu trả lời. Vào giữa những năm 1660, chỉ ba mươi năm sau hoặc lâu hơn sau khi Anh khởi xướng mô hình lao động nô lệ châu Phi cho những đồn điền của họ ở đó – mô hình lần đầu tiên được thực hiện ở thuộc địa São Tomé của Bồ Đào Nha trước đó hơn một thế kỷ – đường từ Barbados đáng giá hơn so với kim loại xuất cảng của toàn bộ Mỹ của Tây Ban Nha.

Giữa câu chuyện này về những cuộc đấu tranh quân sự để giành quyền kiểm soát đất đai và nô lệ, và về những kỳ tích kinh tế mà họ tạo ra, một loại xung đột khác có thể nhìn thấy: cuộc chiến với chính người Da đen. Điều này liên quan đến việc theo đuổi nhất quán những chiến lược để đánh bại người châu Phi khiến họ phải phục tùng, khiến họ trở thành nô lệ của nhau, và tuyển mộ người Da đen làm lính đánh thuê và phụ tá, cho dù để chiếm giữ những lãnh thổ khỏi kiềm kiểm soát của dân bản địa của Tân Thế giới hay tranh giành với những đối thủ châu Âu ở châu Mỹ.

Nói điều này không phải để tước bỏ quyền tự quyết của người châu Phi. Tuy nhiên, ảnh hưởng của cuộc chiến này đối với sự phát triển tiếp theo của châu Phi là rất lớn. Ngày nay, ước tính đồng thuận về số người châu Phi được đưa đến châu Mỹ là khoảng 12 triệu người. Bị lạc trong cách tính toán tàn bạo nhưng quá gọn gàng này có thể 6 triệu người châu Phi khác đã bị giết tại hoặc gần quê hương của họ trong cuộc săn lùng nô lệ, trước khi họ có thể bị trói và đem bán đi. những con số ước tính khác nhau, nhưng từ 5% đến 40% thiệt mạng trong những chuyến vượt cạn tàn bạo tới bờ biển, hoặc trong khi bị giam giữ, thường là trong nhiều tháng, trong trại nhốt nô lệ, hoặc nhà tạm giam, khi họ chờ lên tàu nô lệ. Và 10% khác trong số những người được đưa lên tàu đã chết trên biển trong hải trình vượt Đại Tây Dương, tạo thành một bài kiểm soát tâm lý và thể chất khắc nghiệt cho tất cả những người nô lệ. Khi cho rằng tổng dân số của Châu Phi vào giữa thế kỷ 19 có lẽ là khoảng 100 triệu người, người ta bắt đầu đánh giá mức độ to lớn của cuộc tấn công nhân loại mà việc buôn bán nô lệ gây ra.

Cuộc chiến chống lại người Da đen này cũng diễn ra ác liệt ở bờ Tây Đại Tây Dương, và cuộc kháng cự chống lại cũng mãnh liệt không kém. Những xã hội của những kẻ trốn chạy tìm tự do đã tập hợp lại ở nhiều nơi, từ Brazil, Jamaica đến Florida. Người ta thường nhận xét rằng chính người Châu Phi đã bán những người nô lệ cho người Châu Âu. Điều ít được biết đến là ở nhiều vùng của Châu Phi, chẳng hạn như Vương quốc Kongo và Benin, người Châu Phi đã chiến đấu để chấm dứt hoạt động buôn người một khi họ hiểu rõ ảnh hưởng của nó đối với xã hội của họ. Những người bị nô lệ đã chống lại bằng nhiều cuộc nổi dậy trên tàu, hoặc đơn giản là tự kết liễu mạng sống của họ trên biển thay vì phải chịu nô lệ.

Trong hầu hết những xã hội đồn điền ở Thế giới Mới, tuổi thọ trung bình còn lại của những người Da đen bị đem bán được tính là bảy năm hoặc ít hơn.

Vào năm 1751, một chủ đồn điền người Anh ở Antigua đã tổng kết lại tình cảm phổ biến của chủ nô lệ theo cách này:

“Bắt nô lệ làm việc tối đa thì rẻ hơn, đồng thời với giá thấp và việc tận dụng, làm họ hao mòn trước khi trở nên vô dụng và không thể làm việc được; và sau đó là mua những nô lệ mới để thay vào chỗ của họ.”

Chủ đồn điền

***

Tôi đã may mắn được giới thiệu đến Châu Phi khi vẫn còn là sinh viên đại học, đầu tiên là một du khách say mê trong thời gian đi nghỉ nghè, và sau đó sống ở đó sáu năm sau khi tốt nghiệp. Tôi đã từng là một nhà báo viết về châu Phi và đi du lịch khắp nơi, và tôi kết hôn với một phụ nữ lớn lên ở Bờ Biển Ngà, nhưng gia đình của vợ tôi là dân của một vùng lân cận của Ghana. Lúc đó tôi hoàn toàn không biết về điều đó, nhưng chính trong vòng vài dặm cách ngôi làng của tổ tiên của vợ tôi, người châu Âu lần đầu tiên tình cờ tìm thấy nguồn vàng Tây Phi dồi dào mà họ đã khai thác một cách sốt sắng trong vài chục năm vào thế kỷ 15. Đó là một khám phá đã thay đổi thế giới.

Tôi rời Tây Phi đi làm cho tờ New York Times vào năm 1986. Ba năm sau, nhiệm vụ đầu tiên của tôi với tư cách là phóng viên nước ngoài là đưa tin về lưu vực Caribbean. Ở đây đã tập hợp một số lĩnh vực tổ chức quan trọng nhất cho những chuyển đổi toàn cầu tiếp theo. Ngoài ra, một số chuyên gia còn tưởng tượng rằng những hòn đảo như Barbados và Jamaica trong thời của họ còn quan trọng hơn nhiều so với những thuộc địa của Anh sau đó đã trở thành Hoa Kỳ. Quốc gia hiện nay được biết đến với cái tên Haiti, vào thế kỷ 18, nó đã trở thành thuộc địa giàu có nhất trong lịch sử, và vào thế kỷ 19, nhờ cuộc cách mạng thành công của dân nô lệ, Haiti đã sánh ngang với Mỹ về ảnh hưởng của nó đối với thế giới, đặc biệt là trong việc giúp thực hiện giá trị Khai sáng cơ bản nhất của tất cả: chấm dứt chế độ nô lệ.

Bây giờ và lúc đó trong thời gian ở Caribbean, tôi có thể thấy rõ những dấu ấn về vai trò đặc biệt của khu vực này trong câu chuyện toàn cầu của chúng ta. Một lần nọ, ở đảo Cộng hòa Dominica, tôi đứng ngập đầu gối trong nước biển khi chứng kiến một cuộc đào khảo cổ nhằm xác định một xác tàu từ chuyến đi đầu tiên của Columbus. Một lần khác, tôi đi bộ trên một đỉnh núi xanh tươi ở phía bắc Haiti, nơi Henri Christophe, thủ lĩnh người da đen đầu tiên của đất nước đó, đã xây dựng một pháo đài đáng gờm, Citadelle Laferrière, trang bị cho nó 365 khẩu thần công để bảo vệ nền độc lập đầy máu xương mới giành được từ đế quốc Pháp. Những gợi ý khác đến khi tôi đi lang thang vào những ngọn núi và rừng nhiệt đới của Jamaica và Suriname, và rất vui khi có thể hiểu được cách nói của tiếng Twi (ngôn ngữ của Ghana, mà tôi đã học được khi tán tỉnh cô gái sau đó là vợ mình) khi tôi đã nói chuyện với con cháu của những cộng đồng người nô lệ bỏ trốn đáng tự hào được gọi là maroons. Nhưng hồi đó, tôi vẫn chưa có một bức tranh lớn nào trong đầu; giống như hầu hết những phóng viên, tôi đã quá bận rộn theo dõi tin tức để theo đuổi những mối liên hệ lịch sử xa vời.

Thành cổ Laferrière ở Haiti, được xây dựng bởi cựu nô lệ và nhà lãnh đạo cách mạng Henri Christophe. Ảnh: National Geographic/Getty Images

Ngay cả khi biết sự im lặng và sự thiếu hiểu ép buộc về sự đóng góp chính của Châu Phi và người Châu Phi vào việc hình thành thế giới hiện đại, tôi vẫn thường ngạc nhiên vì việc truy cập  một số dấu vết vật chất của lịch sử này hoặc tìm kiếm những hình thức tưởng nhớ ở địa phương nhằm nâng vai trò của châu Phi lên đúng với tầm vóc thích đáng của nó khó đến mức nào. Tôi đã thấy điều này ở nhiều nơi đã hình thành nên lịch sử chung của chúng ta, chẳng hạn như Nigeria và Cộng hòa Dân chủ Congo, nơi có rất ít những địa điểm về ký ức Đại Tây Dương được thành lập công khai. Tôi đã nhìn thấy nó ở São Tomé, hòn đảo nơi mô hình phức thể đồn điền nô lệ thúc đẩy việc tạo ra của cải ở Bắc Đại Tây Dương trong bốn thế kỷ đã xuất hiện lần đầu tiên, được hình thành hoàn chỉnh – một sự thật mà không có được đến một một tấm bia hay sự tưởng nhớ.

Điều ngạc nhiên lớn nhất đến với tôi ở Barbados, nơi có lượng đường do người nô lệ sản xuất, được cho là nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác trên trái đất, đã giúp đánh dấu sự thăng thiên của nước Anh vào thế kỷ 17. Tôi đã đến thăm hòn đảo cách đây không lâu, quyết tâm tìm kiếm càng nhiều dấu vết của di sản này càng tốt, chỉ để khám phá ra chúng đã được che giấu hoặc bị tẩy xóa kỹ như thế nào. Trong số những ưu tiên hàng đầu của tôi là đến thăm một trong những nghĩa trang nô lệ lớn nhất ở bất kỳ đâu trên bán cầu, nơi gồm cả hài cốt được khai quật của gần 600 người. Để đến được nghĩa trang, tôi đã mất vài lần cố gắng đi tìm; không có biển báo từ bất kỳ con đường công cộng nào dẫn đến nghĩa trang đó. Dường như có ít người dân địa phương nhận thức được tầm quan trọng lịch sử của nó, hoặc thậm chí về sự hiện hữu của nó.

Tất cả những gì tôi khám phá được khi lái xe theo một con đường đất gập ghềnh, tiến xa nhất có thể cho đến khi bản năng bảo tôi phải xuống xe và đi bộ, là một khoảng trống khiêm tốn bên cạnh một đồn điền đang hoạt động có những cây mía đã cao bằng tôi. Có một tấm biển đã mờ được gắn vào một cột sắt hoen rỉ. Nó tuyên bố khu vực này là một phần của cái gì đó được gọi là “Con đường nô lệ”, nhưng nó không cho thêm thông tin. Khi mặt trời đang lặn dần trên bầu trời phía Tây, tôi đi đi lại lại, chụp một vài bức ảnh, rồi cuối cùng thu mình lại khi gió rít qua ruộng mía. Tôi đã cố gắng hết sức gợi lại cảm giác nào đó về nỗi kinh hoàng đã xảy ra gần đó, và về sự giàu có và sung sướng mà mồ hôi của những người đã chết đã giành được cho những người khác.

Nhưng những hình thức xóa sổ lịch sử nghiêm trọng nhất không liên quan đến một nhóm đa số là những hội buôn bán nô lệ hoặc đồn điền nhỏ, trước đây nằm rải rác quanh Vành đai Đại Tây Dương. Cho đến nay, khu vực quan trọng nhất của sự tẩy xóa đã nằm trong tâm trí của những người ở thế giới giàu có. Khi tôi viết những dòng chữ này, Hoa Kỳ và một số cộng đồng Bắc Đại Tây Dương khác, từ Richmond, Virginia, đến Bristol, Anh, gần đây đã trải qua những khoảnh khắc phi thường của biểu tượng. Chúng ta đã chứng kiến việc kéo đổ những bức tượng của những người từ lâu được coi là anh hùng của những hệ thống kinh tế và đế quốc đã xây dựng trên sự bóc lột bằng bạo lực đối với những người đến từ châu Phi.

***

Để những cử chỉ này có ý nghĩa lâu dài hơn, chúng ta vẫn còn một nhiệm vụ lớn hơn và nhiều thách thức hơn. Nó đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách chúng ta hiểu lịch sử của sáu thế kỷ qua và đặc biệt là vai trò trung tâm của châu Phi trong việc khiến gần như mọi thứ quen thuộc với chúng ta ngày nay trở thanh hiện thực. Điều này sẽ liên quan đến việc viết lại những bài học về lịch sử ở trường cũng giống như nó sẽ đòi hỏi sự phát minh lại những chương trình giảng dạy ở trường đại học. Nó sẽ thách thức những nhà báo suy nghĩ lại cách chúng ta mô tả và giải thích thế giới mà tất cả chúng ta đang sống. Nó sẽ yêu cầu tất cả chúng ta kiểm soát lại những gì chúng ta biết hoặc nghĩ rằng chúng ta biết về cách thế giới ngày nay được xây dựng và bắt đầu kết hợp sự hiểu biết mới này vào những cuộc thảo luận hàng ngày của chúng ta.

Trong nhiệm vụ này, chúng ta không còn có thể trốn đằng sau sự thiếu hiểu biết. Gần một thế kỷ trước, WEB Du Bois đã khẳng định nhiều điều chúng ta cần biết về chủ đề này. Ông viết:

“Chính những công nhân da đen đã thiết lập nền thương mại thế giới hiện đại, khởi đầu là hoạt động buôn bán thân thể của những nô lệ.”

WEB Du Bois

Bây giờ là lúc để cuối cùng chúng ta thừa nhận điều này.

Tác giả và tác phẩm: Bài viết dựa theo “Sinh ra trong bóng tối: Châu Phi, Người Châu Phi và Sự hình thành Thế giới Hiện đại, năm 1471 đến Chiến tranh Thế giới thứ hai” (Born in Blackness: Africa, Africans, and the Making of the Modern World, 1471 to the Second World War), của Howard W French do WW Norton & Co xuất bản và có trên trang Guardianbookshop.com

Howard French là phóng viên nước ngoài và là ngòi bút hàng đầu của tờ The New York Times trong hơn hai thập kỷ, làm việc ở Trung Mỹ và Caribbean, Tây và Trung Phi, Nhật Bản, Nam Hàn, và Trung Quốc.

Từ năm 2008, ông là phó giáo sư tại Trường Báo chí Hậu đại học thuộc Đại học Columbia. Trong thời gian này, ông thường xuyên là cộng tác viên tự do cho The Guardian, The Atlantic, The Wall Street Journal và The New York Review of Books.

© 2021 DCVOnline 


Nguồn: Built on the bodies of slaves: how Africa was erased from the history of the modern world | Howard W French | The Guardian | Oct 12, 2021.