Tưởng niệm anh VÕ QUANG TỤI (PK 64-71)

Võ Phi Hùng (PK 67-74)

Anh Võ Quang Tụi, người Tổng Thư Ký (TTK) ban đại diện học sinh Petrus Ký, niên khoá 1970 – 1971[1], và trước đó một năm trong niên khoá 1969 – 1970[2] với chức vụ phó TTK đã có nhiều công lao trong việc lèo lái các sinh hoạt hiệu đoàn qua hai niên khoá liên tiếp, theo lời kể của các bạn cùng khoá 64 – 71.  Ngoài ra, anh còn là huấn luyện viên cao cấp của môn phái Vovinam có công sức đào tạo nhiều võ sinh các lớp căn bản và trung cấp tại trường tư thục Trí Đức, Phan Sào Nam và Nữ trung học Lê Văn Duyệt.

Hình 1:  Di ảnh anh Võ Quang Tụi (ảnh từ em Lâm Quang Tín)

Theo lệnh động viên, anh lên đường nhập ngủ và thụ huấn khoá 5/71[3] tại trường Bộ Binh Thủ Đức vào ngày 28-10-1971 và mản khoá ngày 12-8-1972. Sau đó anh theo học khoá căn bản sĩ quan pháo binh ở Dục Mỹ, Ninh Hoà, kéo dài thêm 6 tháng nữa.   Tính ra, anh Tụi về trình diện đơn vị tác chiến vào trung tuần tháng 2 năm 1973 khi hiệp định Paris vừa được ký kết không lâu.  Anh về trình diện sư đoàn 5 Bộ binh, tiểu đoàn 53 pháo binh và được cử làm sĩ quan đề lô đi theo tiểu đoàn 2, trung đoàn 9[4]

Trong thời điểm này, cuộc chiến vẫn tiếp diễn ác liệt, tuy cưòng độ nhỏ hơn so với trận đánh giải toả An Lộc và QL 13, với các trận đánh thăm dò của Công trường 7 Cộng quân Bắc Việt ở tỉnh Bình Dương.  Báo chí miền Nam lúc bấy giờ như các tờ Chính Luân, Hoà Bình, Sóng Thần, v.v… ngày 31-7-1973 đều có loan tin sư đoàn 18 Bộ binh thành công trong việc giải toả LTL-1A nối liền Bình Duơng – Phú Giáosau khi bị gián đoạn hơn hai tuần lễ[5].  Sự kiện SĐ18BB phải hoạt động trong vùng trách nhiệm của SĐ5BB cho thấy có điểm không may đã xảy ra cho anh Tụi và đơn vị anh.  Có thể đơn vị anh đã bị tràn ngập, và anh Tụi bị ghi nhận mất tích tại ấp Nước Vàng, quận Phú Gíao, tỉnh Bình Dương (xem địa đồ, hình 3) vào ngày 18-9-1973, theo người bạn thân là anh Hồ Tấn Anh (tự Được) cho biết.   Nhưng theo gia đình (từ em Lâm Quang Tượng) thì ngày cúng giổ hàng năm lại vào mùng 9 tháng 6 âm lịch, so lịch đối chiếu Âm – Dương thì là ngày 8-7-1973.  Qua những ghi nhận trên báo, thì ngày mất trong tháng 7 thuận lý hơn tháng 9 vì trong tháng 9 sau này không có những bản tin chiến sự nào đã diễn ra ở Bình Dương.

Bài viết này tôi xin cố gắng trung thực ghi lại những kỷ niệm bạn bè viết về anh, và để vinh danh một đàn anh Petrus Ký, như bao người trai trẻ khác của miền Nam tự do đã phải bỏ việc bút nghiên, theo lệnh động viên nhập ngũ trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà, và đã hy sinh ngoài chiến trận.  Thân xác anh đã trở về với cát bụi, không một nấm mộ hay tấm bia khắc tên người để tưởng nhớ.  Với lòng thành kính, tôi xin ghi lại vài mẫu chuyện bạn bè viết về anh, cùng đọc lại những sáng tác văn thơ để hiểu biết về tâm tư và ước vọng của người anh khả kính.  Cầu mong anh gia hộ cho những người thân và bạn bè anh được mọi sự an lành để mưu cầu tự do ấm no.

Tài liệu dùng cho bài viết

  • Nguồn chánh rất ít ỏi với ba bài thơ anh viết cho bạn bè và người yêu, cùng một đoản văn đăng trên hai tờ báo Xuân Petrus Ký 1969 và 1971 với bút hiệu là Trầm Mặc Vũ.  Anh có sáng tác được đăng báo và nhận tiền nhuận bút, nhưng chưa tìm ra được.  Về tên hiệu, Trầm Mặc hay lặng lẽ, ít nói luôn suy nghĩ có lẽ phản ảnh đúng bản chất trầm lặng  của anh, và Vũ biểu lộ tánh khí ham chuộng võ thuật.

  • Qua nhiều các anh giới thiệu, tôi may mắn liên lạc được và xin cám ơn người em trai út anh Tụi là Lâm Quang Tượng, và các bạn thân anh từ bậc tiểu học – anh Hồ Tấn Anh (tự Được), và bạn học từ lớp đệ Thất 8 Petrus Ký – anh Trần Văn Bọ.

  • Nguồn phụ là hai bài viết của anh Dương Hồng Châu (Thất 1) và Lâm Thuỵ Phong (Thất 2) về bạn bè Petrus Ký khoá 64-71, trong đó có anh Tụi.

  • Truyện “Những chiếc thẻ bài bị bỏ quên” với tác giả ẩn danh.

  • Các số báo Chính Luận, Hoà Bình, Sóng Thần, Tiền Tuyến phát hành từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1973 để xác định thời gian và nơi diễn ra các trận giao tranh ở tỉnh Bình Dương.

Dưới mái trường Petrus Trương Vĩnh Ký

Theo danh sách học sinh Petrus Ký lớp Tứ 1, nk 1967-1968, anh Võ Quang Tụi có ngày sanh là 5-11-1952, nhưng theo người bạn Được và em út anh Tụi – Lâm Quang Tượng cho biết anh có tuổi Dần, sanh năm 1950.  Gia đình anh quê quán ở Bang Tra, Mõ Cày và ở bậc tiểu học được cha mẹ gởi lên Sài Gòn ở với bà Ngoại, người Dì và Cậu ở ngã Bảy, khu chợ Chuồng Bò để lo việc ăn học.  Anh là con trưởng trong nhà nhưng vì thời buổi loạn lạc nên lấy tên họ theo Mẹ, trong khi các người em theo họ Cha.  Vì nhà nghèo nên anh phải bương chải sống tự lập, nhiều khi đi học hay dạy võ phải mượn xe của bạn bè. 

Anh học tiểu học ở trường Hưng Đạo, hẻm số 4 đường Phan Thanh Giản (nay là đường Trần Minh Quyền) cùng với người bạn thân cùng xóm là anh Được (học sinh trường Phan Sào Nam và Hưng Đạo) và anh Tôn Huỳnh Lân (PK 1964 – 1971).   Anh thi đậu vào lớp đệ thất Petrus Ký năm 1964, và được xếp vào lớp Thất 1 cho đến lớp Tứ 1 cùng với 52 học sinh khác.  Xem qua danh sách lớp Tứ 1 thì có 5 anh cùng năm sanh 1950, lớn hơn những 3 năm những bạn học đúng tuổi sanh năm 1953 với (11) người.  Số còn lại đa số sanh năm 1952 và 1951với (20) và (13) người.  Lên đệ nhị cấp, anh được sắp vào lớp B2 và thi đậu tú tài I, nhưng lại rớt tú tài II do có nhiều sinh hoạt ngoại khoá chi phối đến việc học.  Trong năm này tỷ lệ học sinh Petrus Ký ban B thi đậu chỉ đạt được 86.22% [6].

Theo bạn học củng lớp – anh Dương Hồng Châu trong bài “Đào ngũ trường Petrus Ký” [7] thì anh Tụi cùng chơi với các anh lớn tuổi hơn như anh Châu, Lân, và anh em thương nhau như anh em một nhà.  Qua đến năm đệ Tứ thì mấy anh bắt đầu qua bên trường Đại học Khoa học uống cà phê và tán dóc.  Anh Tụi có khiếu viết văn và cũng có rũ anh Châu làm báo.  Về thể thao, thì anh Tụi thường chơi đá banh trong hàng a-de cùng các bạn trong lớp.  Anh có nhiều tình nghĩa với Thầy-Cô như khi cô Thu Hà (GS Công Dân và Hướng dẩn lớp) lâm bệnh, anh Tụi đã rũ bạn bè đến thăm cô. 

Anh có nếp sống bình dị khi các bạn bè khá giả thường rủ nhau đi Đà Lạt hay Vũng Tàu vui chơi, thì anh lại dẩn một người bạn thân về quê.  Sau khi thi đậu Tú tài I, anh Bọ được anh Tụi dẫn về Bang Tra thăm nhà.  Hai anh đi xe đò phài mất nửa ngày mới về tới Mỹ Tho, sau đó phải chờ phiên chợ họp xong mới có ghe tác rán theo về Mỏ Cày. Căn nhà lá bên mé sông rất đơn sơ nhưng cả nhà anh quây quần vui mừng đón đứa con lâu ngày không gặp.  Bất ngờ khi về tới nhà gần chiều tối, má anh Tụi cũng lo bắt gà nấu cháo cho hai anh ăn.  Ăn cháo vẫn còn đói nên hai anh thấp đèn ra vườn tìm hái thêm lá càng cua trộn dầu dấm ăn cơm.  Trong nhà những người em anh Tụi hãy còn nhỏ, với người em trai kế tên là Tín và sau đó là Thuỷ – hình như anh chị em trong nhà đều lấy vần T làm đầu.  Sáng ngày hôm sau thì ba má anh Tụi lại bắt hai anh khăn gói về Sài Gòn ngay vì tình hình an ninh địa phương không được ổn.

Anh Văn Minh Hồng, trưởng khối văn nghệ NK 70-71 cho biết các anh trong ban đại diện học sinh thỉnh thoảng ra đường Nguyễn Tri Phương cùng ăn nghêu sò, uống vài ly bia.  Khi được hỏi về tánh khí của anh Tụi, anh Văn Minh Hồng cho biết Tụi là mẫu người anh hùng hảo hán, rất trực tính không dễ bị uy hiếp.  Có lẽ đây là sự tự tin do công phu tập luyện võ thuật Vovinam Việt Võ Đạo. 

An Bọ cho biết trong ngày tất niên năm lớp đệ Nhị tổ chức ở trường, có người ngoài lái xe vượt cổng vào thẳng bên trong sân trường.  Khi bị các anh em giữ gìn trật tự ngăn cản thì lại dùng xích sắt đánh các anh.  Anh Tụi đã dùng lời lẽ thuyết phục được người này không cho vào, nhưng sau đó lại trách người bạn mình là đã cản giữ được nó rồi mà sao mầy không nhảy vô bụp nó luôn.  Một lần khác, anh Lâm Thuỵ Phong trong bài “Cái Boum xì” cho biết anh Tụi đã bênh vực các bạn hiền cuả mình khi bị du đảng phá boum.   Anh Tụi không hề nao núng và sợ hài khi bị dí súng lục vào đầu hăm doạ[8]

Huấn luyện viên Việt Võ Đạo Vovinam

Anh Tụi khởi sự học VVĐ vào những năm Thất, Lục ở Võ đường Lam Sơn, và sau chuyển sang Tổ đường. Anh có Hoàng đai tam đẳng và được cử làm huấn luyện viên Vovinam cho các trường trung học trong chương trình Võ thuật Học dường.  Được biết anh là người rất mê luyện tập và có khiếu về võ thuật.  Trong môn phái VVĐ, các môn sinh luôn được nhắc nhở về việc tập luyện võ thuật và sau đó lần lượt đi đến võ đạo, thể hiện qua biểu tượng chào nghiêm lễ của môn phái: bàn tay thép đặt lên trái tim từ ái[9].

Hình 2:  Anh Tụi (người đứng phía sau, bên góc trái) cùng với võ sư chưởng môn Vovinam và phái đoàn làm phim Vovinam tại thác Prenn, Đà Lạt năm 1972.Từ phải sang trái: Lưu Thăng, Thạch thị Minh, Nguyễn thị Nga, thầy Lê Sáng, Lê Công Danh, ông Tân, Phạm Hữu Dũng, Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ,Phạm Đình Thái (Hình từ anh Đuợc, chú thích theo hai anh Lưu Thăng và Lê Công Danh)

Các sáng tác

VỀ ĐẠI DƯƠNG [10]

Đoản văn được chọn đăng trong Đặc san Xuân 1969, và đây là lá thư anh tưởng tượng viết cho người cha khi đang học lớp đệ Tam (lớp 10).  Trong đó anh có nói đến thành phố Sài Gòn, và mỉa mai bộ mặt thật của nơi mình đang sống.

Con mở mắt chào đời giữa thành phố có một dạo được gọi là “Hòn Ngọc Viển Đông”.  Con gọi một dạo vì bây giờ đâu còn nữa.  Nhưng dù sao dư âm một tiếng vang cũng để lại trong lòng người dân Việt Nam ít nhiều kiêu hãnh.  Có ai hơi sức đâu mà lật bề trái của sự kiêu hãnh đó.  Bởi vì chắc chắn rằng, khi đối diện với nó sẽ nhận ra nổi xót xa gậm nhấm ý nghĩ ăn mòn tâm hồn.

CHO…

Trong bài thơ “Cho” [11] sáng tác năm anh học lớp 12B2 và được chọn đăng trên tờ báo Xuân năm 1971,  anh gởi gấm tâm tư mình đến ngôi trường thân yêu Trương Vĩnh Ký.  Giọng văn có vẽ bi quan khi nói đến làm gì có niềm tin khi đời còn nhiều gian dối và thần tượng đã chết.  Anh luyến tiếc ngôi trường với nhiều ước mơ chưa thành và chỉ còn năm ba tháng để trải tiếp.

Sáng mai anh qua con đường sắt để đến trường,
Ngôi trường mang tên Trương-vĩnh-Ký thân yêu Cổ kính.
Ngôi trường mà bẩy năm dài chất đầy dự định
Anh còn sống nơi đây dăm ba tháng
Cho tròn tuổi học trò.
Cái tuổi đầy dẫy giận hờn, thương yêu vụn vặt nhưng rất nên thơ.
Một mai trong đời không còn lần thứ hai – Được sống.
Nhưng cũng chẳng còn gì để nuối tiếc.
Cuộc đời như một chuyến xe – Sống một lần rồi nói lời vĩnh biệt.
Tại sao em buồn
Tại sao cứ hoài chụp bắt hư không
Thật đáng tiếc cho người mang ảo tưởng.
Mười tám tuổi – Anh vẫn chưa tìm ra thần tượng
Và anh vẫn nghĩ – thần tượng đã chết hôm nay
Làm gì có niềm tin khi đời còn nhiều gian dối
Những lời thư này như những lời thú tội

TRONG HOANG VU

Bài thơ “Trong Hoang Vu” anh viết tặng bạn bè khi vừa vào trường Bộ Binh Thủ Đức, ở nhà anh Tôn Huỳnh Lân.   Anh  chấp nhận vào nơi trống rỗng, khi sống chết không biết thế nào.  Và nếu biết anh vẫn làm ngơ, khi mà bạn bè chung quanh vẫn tiếp tục vui chơi.  Anh cũng cho biết là số mình nghèo và tâm hồn chứa nhiều phiền muộn.  Anh chua chát khi nói đến cuộc đời chó má. Tương lai anh thấy mịt mù khi việc sống chết không biết được.  Anh chấp nhận việc ra đi không một lời hờn trách.

Trong hoang vu tao đi làm lính trẻ
Thành phố nầy, bè bạn cứ vui chơi
Tao đi làm người
Sau những ngày dài hơn 24 năm buồn tẻ
Chẳng có gì để mang theo
Tại số mình nghèo
Chỉ có tâm hồn chất đầy phiền muộn
Mai tao đi lòng tràn căng ước muốn
Những đêm dài trong ánh mắt giai nhân
Ôi!  Nhớ hoài, nhớ mãi những đêm nằm
Tâm sự vụn cuộc đời chó má!!!
Chẳng có gì gởi lại chúng bây
Trong hoang vu thân xác hao gầy
Chán nãn, yêu đời là của bây trọn vẹn
Mai tao đi không một lời hò hẹn
Một ngày về còn xa lắc xa lơ.
Sống, chết thế nào làm sao biết được
Dù cho hiểu rành, tao vẫn làm ngơ.

GỞI LẠI

Anh Tụi có cô bồ tên Tuyết, nữ sinh Gia Long lớp đêm.   Có nhiều đêm anh Tụi đi bộ từ nhà ở ngã Bảy tới tận trường Gia Long để đón chị, xong hai người tay nắm tay hưởng trọn những giây phút yêu thương cùng đi bên nhau trên đường về tận nhà chị ở gần trường Bác Ái.  Sau khi anh Tụi vào học Thủ Đức, thì anh Được là người chở chị lên thăm anh.  Bài thơ “Gởi lại” anh viết cho chị lại nói đến sự chia tay, khi tình yêu cũ chỉ còn là kỷ niệm.   Và sự chôn liệm mối tình hẵn đã làm hai người đau sót.

Mai tôi đi không vốn liếng một đời
Vòng tay nhỏ buông trôi tình ái đó
Em, người tình bé nhỏ của tôi ơi!
Mùa yêu cũ chỉ còn là kỷ niệm
Chừ tôi đem chôn liệm
Trong đôi tim, mỗi đứa một tâm hồn.

Yêu em như mùa Thu
Tuổi xuân em còn đủ
Dù yêu sầu thiên thu
Anh yêu hoài chưa đủ.

***

NHỚ BẠN

Để thay lời kết, tôi xin một phút mặc niệm cho anh và gởi đến anh bài thơ Nhớ Bạn do anh Hồ Tấn Anh (bút hiệu Trầm Vy) sáng tác ngày 2-4-2020, đã đăng trong tập thơ “Một thời đã qua”.

Đêm chưa tàn còn lưng chén rượu
Mày vội đi, bỏ bạn chốn này
Tấm poncho không chôn được xác
Nợ Nước tình Nhà trĩu nặng vai
Ấp Nước Vàng thân phơi chiến địa
Đất Lai Khê vắng bước chân về
Nay nhớ nhau, còn lưng chén rượu
Gởi cho mày, hoài tuổi ngây thơ
Anh-linh theo hồn sông núi
Tấm thẻ bài bỏ lại trần gian
Chiếc nón sắt nằm phơi hờn tủi
Với tình nhân, giờ đã ly tan

Lời cám ơn

Xin chân thành cám ơn em Lâm Quang Tượng và quý anh Hồ Tấn Anh, Trần Văn Bọ, Huỳnh Tấn Long, Lâm Thuỵ Phong, Văn Minh Hồng, Võ Văn Tuấn, Lưu Thăng đã giúp cho biết tin về anh Võ QuangTụi.

Hình 3:  Bản đồ địa hình ấp Nước Vàng (phía Tây Phú Giáo), quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, nơi anh Võ Quang Tụi hy sinh.

***

Chú thích:

[1]Ban điều hành học sinh đoàn Nhiệm khoá 1970-1971”, Đặc san Xuân Trương Vĩnh Ký 71

https://petruskyaus.net/xuan-pk-1971-ban-dieu-hanh-hoc-sinh-doan/

[2] Theo lời anh Võ Văn Tuấn, Tổng Thư Ký ban đại diện HS Petrus TVK nk 1969-1970 cho biết anh Tụi là phó TTK vào ngày1-9-2022 tại Annandale, VA)  . 

[3]  Hai anh Tôn Huỳnh Lân và Châu Văn Tấn xác nhận anhVQT thụ huấn khoá 5/71 trường Bộ Binh Thủ Đức. 

[4]  (Tác giả ẩn danh),  “Những chiếc thẻ bài bị bỏ quên“.  Người viết “Trần Minh” giới thiệu anh là đàn anh pháo binh (khoá 6/1970 BBTĐ) phục vụ ở tiểu đoàn 53 Pháo binh, Sư đoàn 5 Bộ binh, và cho biết truyện anh viết là “có thật… có thể có những chi tiết, tình tự không được chính xác lắm”.  Bài viết này cho biết anh Tụi được biệt phái về TĐ 2/9 BB làm sĩ quan đề lô.  Có một chi tiết ghi lại không đúng trong chương 13 “Điểm danh thẻ bài” là anh Tụi theo học khoá 2/71 ở trưòng BBTĐ, vì khoá này nhập học quá sớm vào ngày 9-5-1971 (cùng với khoá 1/71 và 3/71) trong khi anh Tụi vẫn còn đang học trong niên khoá 70-71, và chưa thi Tú tài II xong.  Một điểm khác khó thuyết phục người đọc khi nói về anh Tụi “tay không đã hổn chiến với cả chục mạng bộ đội công trường 7 Bắc Việt được trang bị đầy đủ súng đạn Nga sô và lưỡi lê Trung cộng”.

https://dongsongcu.wordpress.com/2019/04/03/nhung-chiec-the-bai-bi-bo-quen/

[5] “Mặt trận Bình Dương lắng dịu lại”, trang 1, báo Chính Luận số 2829, ra ngày 31-7-1973

http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Nhat%20Bao%20Chinh%20Luan/ChinhLuan_2829%2031JUL1973.pdf

[6] “Tưởng Thưởng Lục Niên Khoá 1971-1972”

https://petruskyaus.net/tuong-thuong-luc-nien-khoa-1971-1972/

[7] “Đào ngũ trường Petrus Ký”, Dương Hồng Châu, Đặc san Petrus Ký Úc châu Xuân 2000

https://petruskyaus.files.wordpress.com/2020/05/ds-pk-uc-chau-02-dao-ngu-truong-petrus-ky-tro-ve-que-cu-tho-thi-mai-ngay-xuan-nho-nuoc-tho-nhu-tue.pdf

[8] “Cái boum xì”, Lâm Thuỵ Phong

https://petruskyaus.net/cai-boum-xi-lam-thuy-phong/

[9] “Tương quan giữaVõ thuật và Võ đạo”, VS Chưởng môn Lê Sáng.  Đặc san Xuân Khai Phá. Saigon:  Tủ sách Việt Võ Đạo [1971]

https://drive.google.com/file/d/1Hh0moJXFwgl63BM1h2maDYmimxcCxUEe/view

[10] “Về Đại Dương”, Trầm Mặc Vũ, Giai phẩm Xuân Kỷ Dậu Petrus Trương Vĩnh Ký 1969

https://petruskyaus.net/xuan-pk-1969-ve-dai-duong/

[11] “Cho…”, Trầm Mặc Vũ, Gai phẩm Xuân Trương Vĩnh Ký 71

https://petruskyaus.net/xuan-pk-1971-cho/