Lưu Vĩnh Phúc (thủ lãnh Cờ Đen)
McAleavy, Black Flags in Vietnam (1968)

Ghi chú: Theo qui ước riêng của chúng tôi, tháng 1, 2, 3, 4, … là tháng Tây Lịch còn tháng Giêng, Hai, Ba, Tư …Một, Chạp là tính theo Âm Lịch.

Tuy chỉ là một tướng cướp, Lưu Vĩnh Phúc (劉永福) đã nổi danh trong lịch sử nước ta. Nhắc đến tên ông, người đọc sử không thể không gắn liền với hai chiến công giết hai sĩ quan Pháp, Francis Garnier và Henri Rivière ở cùng một địa điểm là Cầu Giấy ở phủ Hoài Đức, ngoại ô thành Hà Nội. Tiểu sử viên tướng gốc Tàu này được ghi nhận khá chi tiết trong nhiều tài liệu lịch sử, lắm khi mang một vẻ thần kỳ. Ông được miêu tả như một cường đạo nhưng cũng là một anh hùng dân tộc vì đã chống Pháp, kháng Nhật vốn được coi như nghĩa cử trong quan niệm gần đây. Chính vì thế, chúng tôi không nhắc lại tiểu sử trong một thiên khảo luận ngắn mà mục đích là trình bày một số văn bản hiếm bằng Hán văn liên quan đến những biến cố tại Việt Nam.

Lưu Vĩnh Phúc gốc người Khâm Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa), còn có tên là Lưu Nghĩa, biệt danh Uyên Đình. Theo một số tài liệu, họ Lưu vốn đi theo Thiên Địa Hội. Sau khi Thái Bình Thiên Quốc thất bại, ông ta đem đồng bọn chạy sang Việt Nam. Sử Trung Hoa chép:

Năm Ất Sửu (1865) khi Lưu 29 tuổi, nhân ban đêm mới nói với mọi người rằng:

Hiện nay nước An Nam bị giống người Dao Bạch Miêu (tức người Mèo, một giống dân thiểu số ở Bắc Việt) chiếm lãnh xưng hùng xưng bá, giày xéo đất Việt, dân chúng không biết kêu vào đâu. Quân Việt Nam tiến đánh thì chúng chạy sang phía bắc. Chúng ta nay ở Quảng Tây, không có việc gì làm, mà đất này là đất của ông cha mình, không lẽ quấy phá, mà quan quân thì cũng không dùng mình, theo ngu kiến của mỗ, chúng ta chạy sang đất An Nam rồi tuỳ cơ ứng biến, các anh em thấy có nên không?[1]

Năm Ất Sửu (1865) nhằm năm Tự Đức 18 của Việt Nam, Đồng Trị 4 của nhà Thanh. Quân của Lưu Vĩnh Phúc gọi là quân Cờ Đen hay Hắc Kỳ Quân. Khi mới sang Việt Nam, lực lượng của Lưu Vĩnh Phúc còn yếu nên bị quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh (黄崇英) đánh đuổi nhiều phen. Về sau, quân Cờ Vàng bị quân triều đình truy bức nên thế lực của Lưu Vĩnh Phúc mỗi lúc một tăng gia.

Theo báo cáo của Trương Thụ Thanh, tổng đốc Lưỡng Quảng ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1882) [Quang Tự 8, Tự Đức 35][2] thì:

… Phúc sinh ra trên một cái hang núi nhỏ ở Khâm Châu (Quảng Đông), thuở bé theo cha di cư đến châu Thượng Tư (Quảng Tây) cư ngụ trên đồi Thiên Long, vốn là kẻ ngu đần tầm thường không hiểu biết gì cả. Đến năm Canh Ngọ đời Hàm Phong[3] thì sang Việt Nam, được quan đưa theo đánh giặc mới tâu lên đội ơn nhà vua lục dụng, thăng quan chức. Năm trước được lệnh hội tiễu một cánh giặc ở Hà Dương, được đề đốc Quảng Tây họ Phùng [Tử Tài] thưởng cho quân công lam linh chỏm mũ tứ phẩm …

Thống đốc Hoàng Tá Viêm (tức Kế Viêm) mới dụ Lưu Vĩnh Phúc rằng:

– Bức tường chống giữ Bắc Kỳ không có ông thì không xong?

Vua Tự Đức vì thế mới phong cho Lưu Vĩnh Phúc làm Bảo Thắng Phòng Ngự Sứ (保勝防禦使). Năm 1873, Francis Garnier tấn công chiếm thành Hà Nội, tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương rồi nhịn đói, chịu đau mà chết (20-12-1873). Hoàng Tá Viêm và Lưu Vĩnh Phúc đem quân mai phục ở Hoài Đức, giết được đại uý Francis Garnier ở Cầu Giấy. Quân Cờ Đen chặt đầu Garnier và quân Pháp phải lui về cố thủ Hà Nội.

Năm 1883, một lần nữa quân Cờ Đen lại chiến thắng, giết được đại tá Henri Rivière. Trong trận chiến Pháp Thanh, lực lượng triều đình Huế gần như vô dụng thì quân Cờ Đen phối hợp với quân Thanh đánh với Pháp ở Sơn Tây, Hưng Hoá, Lạng Sơn và bao vây thành Tuyên Quang.

Khi Pháp và Trung Hoa ký hoà ước đình chiến Thiên Tân (1885), quân Thanh phải rút ra khỏi biên giới Việt Nam thì Lưu Vĩnh Phúc cũng bị triệu hồi về Quảng Tây và được phong cho chức tổng binh Quảng Đông. Năm 1894, Lưu Vĩnh Phúc được phái tới Đài Loan và sau hoà ước Mã Quan (Shimonoseki) thì họ Lưu lại thành một anh hùng kháng Nhật và đã có lúc đóng vai quyền tổng thống chính phủ Đài Loan dân chủ quốc.

Sau cách mạng Tân Hợi (1911), Lưu Vĩnh Phúc giữ chức tổng trưởng dân đoàn Quảng Đông, đến năm 1917 thì qua đời. Sách vở chép rằng ông ta không biết chữ, lại nghiện thuốc phiện, từ một kẻ ít học trở thành đầu đảng cướp rồi thành một danh nhân chống ngoại xâm, được phong nam tước, đề đốc Tam Tuyên (ba tỉnh Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang), chết đi lại có tượng đồng bia đá, kể cũng là một kỳ nhân.

Quân Cờ Đen
Hocquard, Une Campagne au Tonkin (1999)

Về quân Cờ Đen, lịch sử cũng như tiểu thuyết đã nhắc đến nhiều, bao gồm cả những chi tiết do loan truyền mà không kiểm chứng được. Bản thân người viết được biết tới quân Cờ Đen, ngoài môn lịch sử thời trung học, còn một đoạn văn nhiều ấn tượng tả viên tướng Cờ Đen của nhà văn Lan Khai:

Người phóng ngựa đi đầu, chắc là chủ tướng. Trạc tuổi độ năm mươi, gầy đét như con mắm. Đầu đội chiếc mũ nhung úp ra ngoài cái đuôi sam kết chỉ đỏ to bằng cổ tay. Mặt dài, màu da cháy nắng thẫm như sành. Trên trán, mấy đường gân nổi to như chão. Cặp lông mày chổi xể đứng dựng trên hai mắt tròn và trắng giã (sic). Một vết sẹo sâu hoắm ở gò má bên trái thêm cho vẻ mặt hung ác một nét thảm đạm hãi hùng. Mình mặc một cái áo cánh nhiễu rộng tay; lưng thắt đai điều; chân đi giày bít gót; hai ống quần bó sát trong đôi sà cạp màu quan lục. Cạnh sườn bên trái, một thanh quất thấp thoáng dưới tay áo rộng. Vai đeo khẩu súng thập tam[4]

Cầu Giấy
Iconographie Historique de L’Indochine Franҫaise (1936)

Cũng theo Vũ Ngọc Phan thì Lan Khai đã nghiên cứu kỹ lưỡng sách vở của thời đó nên miêu tả của ông “đúng như lời các ông già bà cả đã từng trông thấy thuật lại và như in những bức hoạ trong các quyển sách Pháp nói về giặc Cờ Đen”.[5] Lan Khai viết cuốn tiểu thuyết này cách thời gian quân Cờ Đen hoạt động mới độ 50 năm nên bao gồm những chi tiết có thể tin cậy được.

Quân Cờ Đen cũng được kiểm học Sơn Tây là nhà giáo Phạm Xuân Độ ghi chép khá tường tận trong Sơn Tây tỉnh địa chí (1941) như sau:

… Nguyên hồi bấy giờ, quân Cờ-đen đang được Triều-đình Huế trọng-dụng và quan ta tín-nhiệm. Vì chúng đã hại được Đại-úy Francis Garnier ở Cầu-giấy (1873) và Đại-tá Henri Rivière ở phía tây thành Hà-nội (1882) . Chúng vốn là dư-đảng bọn giặc Taï-ping (Thái-bình) nổi lên ở tỉnh Quảng-tây bên Tầu. Lúc mới tràn sang nước Nam, chúng có chừng ba, bốn nghìn người đặt dưới quyền viên thủ-lĩnh Ngô-Côn. Khi Ngô-Côn mất, đảng phân làm hai : một ở dưới quyền Lưu-vĩnh-Phúc, cờ hiệu đen nên lấy tên là Cờ- đen, một theo Hoàng-sùng-Anh cờ hiệu vàng nên lấy tên là Cờ-vàng. Sau vì tư-lợi, xung-đột nhau, quân Cờ-vàng bị hại, chỉ còn quân Cờ-đen ẩn-núp ở Bắc-kỳ. Năm 1883, tướng Lưu-vĩnh-Phúc đã 69 tuổi, đầu râu tóc bạc, mà vẫn còn quắc-thước.[6] Quân Cờ-đen cũng như các lính Tầu do Triều-đình Mãn-Thanh chiêu-mộ, phần nhiều cao lớn hơn người ta. Họ mặc áo ngắn, quần rộng và thắt lưng ra ngoài. Chân quấn sà-cạp, đi đất hay đi giầy vải sơn đen. Chúng đều dùng súng kiểu Winchester hay Remington, bên mình đeo một lưỡi lê trần, một đoản-đao, một túi đạn và một thứ bao vải đựng chăn áo cùng các đồ nhật-dụng. Nhiều kẻ, vì mê-tín, quàng ở cổ các thứ trừ tà như bùa, dấu, vuốt cọp, v.v… Trên đầu, chúng quấn đuôi-xam (sic), chít khăn mầu đen, đỏ hay xanh và đội nón tre rộng, có chỏm nhọn. Các tướng tá hay các binh-lính ngoài 40 tuổi mới được để râu. Các sĩ-quan cũng mặc y-phục thường, chỉ khác là đội mũ lụa đen chỏm đỏ, và đeo ở mũ hoặc ở trước ngực những bông tua nhỏ làm bằng lụa đỏ hay lụa vàng. Thiếu-úy đeo một tua; Trung-úy, hai ; và Đại-úy, ba. Duy các thượng trưởng-quan là ăn-vận có phần xa-xỉ, thường lại cưỡi ngựa, khoác áo dài mầu rực-rỡ, đi giày cao ống và đeo súng lục. Theo Dick de Lonlay, tác-giả cuốn « Au Tonkin, 1883-1885 », trong các hàng thượng trưởng-quan, có lẫn ít nhiều người Anh, người Mỹ hay người Đức. Sách ấy có đoạn thuật lại rằng khi quân Pháp đánh chiến-lũy Phù-xa, tại Sơn-tây, hiện nghe thấy trong quân Cờ-đen có ngưòi dùng tiếng Pháp hô binh. Lúc hạ thành Sơn-tây, binh-sĩ Pháp lại nhận được tử-thi ba sĩ-quan người Âu : một người Mỹ và hai người xét ra không khác gì người Đức.

Quân Cờ-đen khỏe-mạnh, có tài đi bộ, can-đảm[7] và tàn-ác. Họ bắn súng giỏi, lúc bắn thì kề bạng súng dưới cánh tay và ngắm thẳng vào hàng địch-quân, chứ không nhằm riêng một người nào. Họ hay ẩn-núp ở ruộng lúa hay ở dọc đê, ít khi chịu dàn quân. Họ phần nhiều nghiện hút và lúc lâm-trận lại đi từng bọn từ 10 đên 15 người. Tác-giả cuốn « Au Tonkin » cho rằng các sĩ-quan người Âu có khuyên-lơn, họ cũng không nghe theo, nên trong hàng quân Tầu thường bao giờ cũng nhiều binh-sĩ tử-trận hơn phía người Âu. Quân Lưu-vĩnh-Phúc dùng một lá cờ vuông, mầu đen, viền đỏ, ngọn cờ là một miếng sắt nhọn.[8]

Theo Histoire Militaire de l’Indochine Franҫaise (Hanoi-Haiphong: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1930) Tome I, tr. 55 thì ngày 10 tháng 5 năm 1883 (mồng 4 tháng Tư năm Quí Mùi), Lưu Vĩnh Phúc đã sai thủ hạ treo một tấm bảng với lời lẽ lăng mạ thách đố người Pháp giao chiến với họ ở Phủ Hoài (tức Hoài Đức).[9]

Thư Lưu Vĩnh Phúc khiêu chiến

Trong bản tâu của Bắc Dương đại thần Trương Thụ Thanh ngày mồng 2 tháng Năm (6-6-1883), năm Quang Tự 9 (tức năm Quí Mùi, 1883) Tự Đức 36 trước khi vua Tự Đức qua đời không lâu (16 tháng Sáu, tức 19-7-1883) có sao lại một tờ dụ của vua Tự Đức hồi tháng Ba và thư khiêu chiến của Lưu Vĩnh Phúc.

(劉永福挑戰書) [10]

雄威大將軍兼署三宣提督劉為懸示決戰事:

照爾法匪,素稱巨寇,為國所恥,每到人國,假稱傳道,實則蠱惑村愚,謠慾縦橫。

借名通商,實則陰謀 土地,行則譬如禽獸,心則竟似虎浪。自抵越南,陷城戕官,罪難了髮;占關奪税,惡不勝誅。以致民不聊生,國幾窮窘,神民共怒,天地難容。

本將軍奉命討賊,三軍雲集,鎗砲如林,直討爾鬼巢,掃清醜類。第國家之大事,不忍以菏內而作戰場,惟恐波及於商民。

為此先行懸示,爾法匪既稱本領,率鳥合之眾,與我虎旅之師,在懷德府屬曠野之地,以作戰場,兩軍相對,以決雌雄。

倘爾畏懼不來,即宜自斬爾等統轄之首遞 來獻納,退還各處城池。本將軍好生之德,留爾蟻蟲。倘若遲疑不決,一旦兵臨城下, 寸草不留,禍福尤(攸)關,死生在即,爾等熟思之,切切特示。

Hùng Oai đại tướng quân kiêm thự Tam Tuyên đề đốc Lưu, nay gửi thư quyết chiến:

Giặc Pháp các ngươi, tự coi cướp lớn, thật đáng hổ thẹn. Mỗi khi đến đâu, lấy cớ truyền đạo, mê hoặc dân quê, phao chuyện hoang đường.

Mượn tiếng thông thương, âm mưu chiếm đất, hành động như cầm thú, lòng dạ tựa hổ lang. Từ khi đến đất Việt Nam, hãm thành giết quan, tội nhiều như tóc; chiếm cửa thu thuế, ác chết không vừa, khiến cho dân không sống nổi, đất nước cùng quẫn, thần người cùng giận, trời đất khó dung.

Bản tướng quân phụng mệnh đánh giặc, ba quân đông đảo, súng ống như rừng, đánh thẳng đến sào huyệt bọn quỉ các ngươi, quét sạch giống xấu. Thế nhưng việc lớn của quốc gia không nỡ lấy Hà Nội làm bãi chiến trường, e sóng gió phạm đến người dân buôn bán.

Vậy nên treo báo cáo trước, bọn phỉ Pháp các ngươi nếu như có bản lãnh thì hãy đưa đám quân ô hợp kia, ra đánh với quân hùm beo của bản chức ở phủ Hoài Đức là nơi đồng trống rộng rãi, lấy đó làm bãi chiến trường, hai bên đối trận, quyết một trận thư hùng.

Còn như ngươi sợ sệt không dám đến, thì hãy chém đầu thống lãnh tại đây dâng tới, rút đi trả lại các thành trì. Bản tướng quân vì đức hiếu sinh, nên tha cho cái mạng sâu kiến của chúng bay. Còn như chần chừ không quyết, một sớm quân đến dưới thành, một tấc cỏ cũng không để sót, hoạ phúc quan đầu, sống chết trong chớp mắt, chúng bay hãy nghĩ cho kỹ. Nay thiết tha báo cho biết. (NDC dịch)

Thư Lưu Vĩnh Phúc ước chiến

Có lẽ sau khi gửi thư khiêu chiến, người Pháp bằng cách nào đó nhận lời nên Lưu Vĩnh Phúc lại gửi ra thêm một lá thư ước chiến (định ngày hai bên giao tranh). Đối chiếu với bản dịch trong trong tập II, bộ sách The International Relations of the Chinese Empire (3 tập) của H. B. Morse, Phụ Lục (Appendix E) tr. 474-475, chúng tôi tìm ra nguyên văn chữ Hán trong Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Sử (中法越南交涉史) sao lục sau đây:[11]

雄威大將軍三省提督劉,為約期開戰事:

查爾外寇,雄據歐洲,虎視海宇,奪其詐謀,逞其兇暴,無土地不垂貪涎,無財賄不思恣噬;

以傳教為兆民之蟊蠹,以通商為各國之鯨鯢,窮兇極惡,恃勢宣滛; 神人之所共憤,天地之所不容。

猶復乘間柢隙,謀倂越南,藉通商之名,倡背盟之義,以愚天下,以逞雄心,奪邑攻城,戕官奪稅,使無辜蒼赤,塗肝腦於郊原,縱狡黠黨,肆毒逋於遠邇,書其罪則罄南山之竹而難窮,念其恥則決西江之水而難滌。

本將軍奉詞討罪,師出有名,誓率三軍,戮爾醜類。

本欲飜擧星馳,雷轟電擊,直搗兔穴,痛殄狐群,大快人心,聿彰天討;

第念河内亦國家故壤,商旅皆安分之良民,不忍城郭作邱墟,老雉罹鋒鏑,為此佈告俾得週知。

檄到之日,爾外寇,旣形跋扈,自恃豪雄,其率爾羊犬之群,以當我獠熊之旅,約於旬日内,共決雌雄,擬於懷德府空曠之地,為本將軍逢績塲。

倘知螳臂不可以當車,狐喙徒足以膏斧,思延殘喘,以保餘生,即日斬爾等頭目首級,詣轅獻納;

并匿爾窟穴,退還我城池,本將軍上天好生之德,承國家息事之心,必不殺降,以鳴得意。

倘遲疑不决。貪得為懷,一旦兵臨,禍將不測! 嗟嗟當機而效順,勿情預以受誅,爾其深思。毋貽後悔。檄到祈各傳知。切切 。

Hùng Oai đại tướng quân đề đốc ba tỉnh Lưu, nay ước định ngày giờ khai chiến:

Xét bọn cướp nước ngoài các ngươi, hùng cứ ở châu Âu, mắt dòm ngó hải ngoại, dùng điều trá mưu, thích việc hung bạo, không đất nào là không thèm thuồng, không tài vật nào là không thoả thuê xâu xé.

Lấy việc truyền giáo để đục khoét nhân dân, lấy việc thông thương để làm đàn anh các nước, cùng hung cực ác, cậy thế lan tràn, thần lẫn người đều công phẫn, trời đất không dung.

Nhân vì bên trong có những sơ hở nên mưu chuyện thôn tính Việt Nam, lấy cái tiếng buôn bán, nêu cái nghĩa bội minh để lừa thiên hạ, để thoả hùng tâm, đoạt ấp công thành, giết quan đoạt thuế, khiến cho kẻ vô tội đầu xanh phải tan nát gan óc nơi đồng xa, tập hợp đảng xảo trá, gieo rắc cái độc ác khắp xa gần, chặt hết trúc núi Nam không chép hết tội, khơi hết nước Tây giang không rửa được nhục.

Bản tướng quân nhận lệnh đánh dẹp, ra quân có danh nghĩa, thề đưa ba quân, tiêu diệt giống xấu xa.

Vốn muốn giương cao cờ tinh vụt đến, sấm ran chớp giựt, đánh thẳng vào hang muông, giết sạch chồn cáo để cho lòng người thống khoái, làm rõ sách trời.

Nay nghĩ Hà Nội vốn là cố đô, người buôn bán đều là dân lành an phận, không nỡ để thành quách biến thành gò đống, già trẻ phải vào nơi tên đạn, nên nay ra bố cáo cho mọi người cùng biết.

Tính từ ngày hịch này đến nơi, các ngươi là ngoại khấu, vốn dĩ ương ngạnh, tự cho là hào hùng thì hãy đem đám quân dê chó của các ngươi đem ra chống với quân hùm beo của ta, định trong một tuần, quyết một phen sống mái, ở nơi đồng trống ngoài phủ Hoài Đức, gặp bản tướng quân làm chiến trường.

Nếu biết càng con bọ ngựa không chống được bánh xe, chồn sói không đỡ được búa rìu, nghĩ đến việc giữ chút hơi tàn, bảo tồn kiếp sống thì hãy lập tức chém đầu bọn đầu mục, đem hiến trước quân doanh,

Rồi trốn về hang ổ, trả lại thành trì cho ta, khi đó bản tướng quân sẽ nghĩ đến đức hiếu sinh của trời đất, theo cái lòng nghỉ ngơi của quốc gia mà không giết kẻ ra hàng để vươn ý tốt.

Còn như chần chừ không quyết, vẫn giữ bụng tham, một khi binh tới, hoạ không lường được!

Than ôi, nếu biết thời mà qui thuận, vì tình mà không bị diệt tru, các ngươi hãy suy nghĩ cho kỹ, đừng để hối hận về sau.

Gửi hịch truyền cho các nơi đều biết.

Thiết tha hiểu dụ. (NDC dịch)

Nội dung hai bức thư khiêu chiến này đại đồng, tiểu dị và đều thách đố người Pháp đem quân ra nơi có đồng trống rộng rãi là phủ Hoài Đức để hai bên giao chiến.

Nếu tính đúng thời gian, có thể lá thư này đã khiến cho Henri Rivière chạm tự ái và đem quân ra một trận thư hùng với Lưu Vĩnh Phúc nên đã tử trận và bị quân Cờ Đen chặt đầu ngày 19-5-1883 (13 tháng Tư, năm Quí Mùi).  Nói chung hai lá thư ước chiến và khiêu chiến ở trên được gửi ra [hay được sao ra dán ở nhiều nơi trong thành Hà Nội] cách nhau không lâu, tuy có đôi chỗ khác biệt nhưng nội dung cùng một đề nghị là sẽ giao chiến ở một khu vực đã được định trước theo mẫu hình rất “Tàu” trong tiểu thuyết chương hồi.

Sở dĩ chúng tôi đặt tên thư khiêu chiến (thách đánh) và thư ước chiến (định ngày đánh) vì lá thư sau có định trong một tuần sẽ giao tranh.

Henri Rivière bị phục kích ở Cầu Giấy
Les Grands Dossiers de l’Illustration l’Indochine (1987)

Việc Henri Rivière bị giết trong một trận phục kích ở Cầu Giấy được tường thuật trong nhiều sách vở đương thời cũng như sau này. Chúng tôi chỉ sao lục một số tài liệu tương đối giá trị.

Khi ông ta rời Hà Nội để giao chiến với quân Cờ Đen ngày 19-5-1883, Henri Rivière đã hình dung ra được sự mạo hiểm mà mình đang làm. Trước đây không lâu, ông đã yêu cầu nhà đương cục Pháp ở Saigon gửi thêm quân vì biết mình sẽ phải đối phó với những trận đụng độ khốc liệt. Đối với cộng đồng dân Thiên Chúa Giáo và triều đình Việt Nam thì trận địa mù mờ giữa Henri Rivière và quân Cờ Đen khiến cho họ lo lắng khủng khiếp.

Paul Puginier (nhà truyền giáo Pháp), người vẫn xem sông Hồng là con đường của công tác truyền đạo, đã thường nói rằng quân Cờ Đen là một thách đố nghiêm trọng cho sứ mạng của giáo hội…

Đến tháng 5-1883, quân đội Pháp đã ra lệnh chuẩn bị một cuộc chiến toàn diện với Trung Hoa. Trên tàu ở ngoài khơi bờ biển đông bắc Việt Nam, đô đốc Meyer, tư lệnh hải quân Pháp khu vực Trung Hoa và Nhật Bản đã cảnh báo thống đốc Thomson ở Saigon rằng Trung Hoa đã điều động lực lượng một vạn quân từ Vân Nam sang Bắc Kỳ.

Chiều ngày 19-5, trong khi bóng ma chiến tranh đã bao trùm trên biển và trên bộ, Henri Rivière, Berthe de Villers và một lực lượng viễn chinh bao gồm 100 lính Pháp đã ra khỏi Hà Nội để lùng kiếm doanh trại quân Cờ Đen. Quân do thám của Cờ Đen liền lặng lẽ theo dõi họ. Khi lực lượng nhỏ của Pháp này di hành, quân thám báo liền ra hiệu cho các cánh quân Cờ Đen và Việt Nam khác tiến vào vị trí, bao vây ba mặt lực lượng của Rivière. Khi quân Pháp đã vào trong tầm súng , quân Cờ Đen bèn vây chặt, bắn xối xả. Rivière bị trúng đạn trong trận đánh, nằm chờ chết trong khi Berthe de Villers đưa toán quân còn lại triệt thoái.[12]

Sáng hôm sau, quân Cờ Đen trưng bày khoảng 20 thủ cấp của quân Pháp, trong đó có cả Rivière bên ngoài cửa phía tây của thành Hà Nội. Việc bêu đầu nhằm một mục tiêu quen thuộc, đó là một sự phô trương cho quần chúng, biểu dương sức mạnh của quân Cờ Đen. Bêu đầu cũng còn là một dấu hiệu chiến thắng …(NDC dịch)[13]

Henri Rivière 
Iconographie Historique de L’Indochine Franҫaise (1936)

Theo tài liệu quân sự thì phía Pháp chết 33 người trong dó có 5 sĩ quan từ trung uý đến đại tá, 51 người bị thương trong đó có 6 sĩ quan.[14] Còn phía địch, theo tin tình báo, quân Cờ Đen chết 110 người, trong đó có cả phó thủ lãnh chỉ huy đội quân, được tính bằng tiền tương đương với giá của 1.500 khẩu súng trường.[15]

McAleavy trong Black Flags in Vietnam (1968) tường thuật khá chi tiết về trận đánh này, tuy một số diễn tiến có hơi khác.

… Để làm gia tăng cường độ của sự đe doạ (thư khiêu chiến), quân Cờ Đen đã gửi những đội tiền sát đến thôn xóm giữa phủ Hoài và Hà Nội càn quét các cộng đồng người theo đạo Chúa ở vùng này. Lợi dụng đêm tối, họ cũng pháp kích vào Hà Nội với đại bác đã được chở đến bằng voi.

Henri Rivière cảm thấy bị tù túng bên trong các tường thành và quyết định – như các thuộc cấp của ông ta kể lại – ra ngoài để hưởng chút khí trời trong trẻo. Cuộc hành quân được thảo luận công khai và thoải mái đến nỗi các người tôi tớ trong khu sĩ quan đều biết kế hoạch hành động, và tin đó đã truyền tới tai Lưu Vĩnh Phúc.

Sáng sớm ngày 19 tháng 5 năm 1883, 450 quân Pháp theo đường lên phủ Hoài trong một tinh thần hết sức phấn khởi, vừa đi vừa cười cợt hát vang. Rivière đi theo quân trên một chiếc xe ngựa cho thấy sự bạc nhược của ông ta. Chỉ mới đi được vài trăm thước thì đám lính Tàu đằng sau những luỹ tre viền quanh con đường đã thấy họ nhưng Rivière hẳn đã cho rằng đây chỉ là quân thám báo nên ra lệnh cho đoàn quân tiếp tục tiến lên bằng tốc độ tối đa để đội quân chủ lực của địch khỏi vuột mất. Một trong những sĩ quan tham mưu cảnh cáo rằng việc truy kích như thế rất nguy hiểm nhưng ông ta không nghe và thúc giục tiến cho nhanh. Hậu quả của tính bốc đồng này đã rõ ràng khi họ tiến sâu thêm một đoạn nữa đến một địa danh tên là Cầu Giấy và rơi vào một tình trạng cực kỳ nguy hiểm.

Từng đoàn quân Cờ Đen túa ra từ các làng mạc chung quanh như định chặn đường rút của quân Pháp. Quân Pháp thu hẹp lại nhưng lại càng dễ làm mục tiêu cho quân Cờ Đen nhắm bắn, họ đành dừng lại và bắt đầu rút lui. Những khẩu đại pháo dã chiến họ đem theo nay đưa lên đầu – trái hẳn với kỹ thuật tác chiến – và các xạ thủ của một trong số đó đã bị giết khiến khẩu súng có thể sẽ lọt vào tay địch.

Henri Rivière xuống xe, tay chỉ cầm một chiếc gậy chỉ huy, dẫn đầu một toán lính tới tiếp ứng. Trong khi đang nỗ lực cứu khẩu đại pháo, ông ta trúng phải mấy phát đạn và ngã lăn ra đất. Mất tinh thần vì cái chết của chủ tướng và sự khốc liệt của cuộc tấn công, quân Pháp vội vàng rút trở về thành Hà Nội.

Chúng ta không biết rõ Henri Rivière trút hơi thở ra sao. Người Pháp thì nghe nói rằng ông ta bị thương ở trên cầu và bị quân Cờ Đen đưa đến một ngôi chùa gần đó, nơi Lưu Vĩnh Phúc đã ra lệnh hành quyết mọi tù binh bị đưa đến gặp y. Lưu nói rằng một trong những phó tướng tín cẩn nhất của y đã bị giết, trong cơn thịnh nộ Lưu ra lệnh cắt cổ Rivière. Quả thực Lưu có mất một người bạn thân trong trận đánh này nhưng sự thực như thế nào thì không ai có thể biết được.

Một điều chắc chắn là thủ cấp của Rivière và những người Pháp tử trận đều bị cắt rời, ướp muối và được trưng bày như chiến lợi phẩm. Ngày hôm sau, người Pháp gửi một số thương nhân người Hoa từ Hà Nội đến thương lượng việc chuộc lại những xác chết, và theo như lời kể thì tới lúc đó Lưu Vĩnh Phúc mới biết được rằng viên chỉ huy bị giết chính là Henri Rivière chứ không phải chỉ là một sĩ quan trong bộ tham mưu của ông ta.

Sau đó như chính Lưu Vĩnh Phúc đã kể lại, việc này hết sức quái đản, nếu không nói rằng không thể tin được, nếu không chứng minh bằng những chứng cớ rõ ràng. Theo như tính toán của quân Cờ Đen thì riêng tử thi của Henri Rivière không thôi cũng đã là một món tiền lớn nên họ đã quyết định rằng những ai dự phần sẽ nhận được tuỳ theo mảnh xác mà họ kiếm được. Những người đầu tiên thì lấy mấy ngón tay nhưng chỉ chốc lát thì khung cảnh đã biến thành một thớt thịt điên rồ, từng mảng được xẻo ra từ mọi phần cơ thể nên khi Lưu nhìn thấy thì các xác chết đã bị băm vằm và việc dùng để đòi tiền chuộc không còn thực hiện được nữa.

Thế nhưng người Pháp vẫn không bỏ cuộc, đến tháng 9 năm 1883, giám mục Puginier đã được một giáo dân tiết lộ về nơi chôn những quân nhân Pháp. Những thủ cấp – chôn ở một nơi khác – được khai quật trước. Đầu của Henri Rivière được để trong một cái hộp chôn giữa đường cái, nơi mà hàng ngày súc vật và dân chúng vẫn đi qua. Khi lần tìm những thi thể thì người ta thấy viên chỉ huy cũng được đối xử khác với những người còn lại. Các quân nhân khác bị vứt chung vào những hố chôn tập thể trong khi thi thể ông ta được vùi trong một cái rãnh nông, trên phủ một lớp đất mỏng. Ngoài cái đầu, hai tay cũng bị cắt rời và viên giám mục nói với chúng tôi rằng những gì còn lại của cái xác là một đống xương gói trong một cái áo đầy máu, còn bao nhiêu thịt thì đã lóc đi cả rồi. Chúng ta đã nghe về sự tàn bạo của người Pháp và xem ra cũng công bình đối với những gì họ đã làm. Xương của Henri Rivière được đưa về chôn tại một nghĩa trang gia đình tại Montmartre. [McAleavy trích theo E. Louvet, Vie de Mgr. Puginier (Hanoi, 1894) tr. 440-443]

Trận giao tranh ngày 19-5-1883 đã khiến cho phía Pháp chết 50 người, bị thương 76 người. (NDC dịch)[16]

Sau khi nghe tin Pháp và Việt Nam ký hoà ước Harmand chấp nhận quyền bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ, Lưu Vĩnh Phúc muốn rút quân về vùng biên giới Vân Nam. Thanh triều ra lệnh cho Lưu Vĩnh Phúc tiếp tục chiếm giữ các tỉnh miền bắc và thưởng cho họ Lưu 10 vạn lượng bạc đồng thời đốc thúc các tỉnh biên giới Hoa Việt tiếp tục đổ quân sang. Nhà Thanh cho rằng nếu họ chiếm được một số tỉnh của Việt Nam thì khi nghị hoà với Pháp, đường biên giới sẽ được vẽ lại để lãnh thổ Trung Hoa mở rộng.

Trong khi đó, chính quyền Pháp muốn mua chuộc và dụ hàng Lưu Vĩnh Phúc để dùng quân Cờ Đen ngăn chặn quân Trung Hoa bành trướng. Đó chính là lý do tuy Lưu Vĩnh Phúc là kẻ cựu thù, người Pháp vẫn tìm cách lôi kéo để có thêm vây cánh như trước đây đã dụ được quân Cờ Vàng về với họ.

Tài liệu của Trung Hoa còn có hai bức thư bằng chữ Hán, có vẻ như rút ra những tin tức mà nhà Thanh lấy được từ những “mật báo viên” của họ ở Việt Nam. Trong thời kỳ này, tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Thụ Thanh đã xây dựng một mạng lưới tình báo qua chi bộ Chiêu Thương Cuộc là một cơ sở chuyên vận tải lương thực do nhóm Đường Đình Canh, Mã Phục Bôn điều hành và đã thiết lập những phân cuộc của họ ở Hải Phòng, Thuận An ở nước ta. Bề ngoài Chiêu Thương Cuộc chỉ là một cơ quan buôn bán, vận chuyển thóc gạo đường biển nhưng bên trong cũng là những cơ quan thu thập tin tức, nhất là những gì có liên quan đến người Pháp, được coi như kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Hoa lúc bấy giờ. Ngoài ra, quân Thanh còn đang đóng rất đông trên các tỉnh ở Bắc Kỳ nên mọi diễn biến ở nước ta họ đều có rất đầy đủ.

Hai bức thư đó là một bức thư người Pháp gửi Lưu Vĩnh Phúc và một bức thư Lưu trả lời được chép lại nguyên văn và bản dịch sau đây.

1/ Thư người Pháp dụ hàng Lưu Vĩnh Phúc[17]

大法國北圻吏部尚書兼掌通國正事務生,詞於黑旗大將劉提督知悉。

我大法國已與提相攻,是天命不順乎提,而胡不順承天也!

提若善推,則今何國而保永後大利?我大法雖擊提黨,而亦惜提是通明智勇之將,提兵亦是勇悍之兵; 假使歸我大法,則得為大臣名望及盛利諸事;

若仍前與大法拒逆,則不惟失其名職各款,設立屯壘,據險以守,抑或逃出山林,潛囘清國,無可得也!

本為天下惜才,經禀法元帥大臣咱,許本職諭提來降,則准許提一大權,與才相稱,毋為各爵; 而我大法國官與提團同心,毋得作逆是好!

如提欲情願如何?卽宣詞來本職知照;抑欲本職派人將通行札文毋致阻礙者,亦卽詞囘,俾提得遇我大法官與商辦大事可也。茲寄。

Bộ trưởng bộ Nội Vụ nước Pháp tại Bắc Kỳ kiêm toàn quyền Sinh,[18] gửi thư cho đề đốc họ Lưu là đại tướng của quân Cờ Đen được biết

Nước Đại Pháp ta đã cùng đề đốc giao tranh, xem ra thiên mệnh không thuận cho đề đốc, mà đề đốc cũng không thuận với mệnh trời nữa.

Nếu đề đốc duy nghĩ cho chín, thử hỏi hiện nay nước nào sau khi bảo hộ sẽ mãi giữ được đại lợi? Đại Pháp ta tuy tấn công quân của đề đốc nhưng vẫn tiếc rằng đề đốc là một tướng thông minh trí dũng, quân của đề đốc đều là dũng mãnh chi binh; nếu như quay về theo Đại Pháp, thì sẽ là danh vọng đại thần rất nhiều lợi lộc,

Còn như vẫn chống lại với Đại Pháp như cũ, thì không những mất hết tên tuổi chức vụ, thiết lập đồn luỹ, giữ chỗ hiểm, hoặc phải chạy trốn vào rừng sâu, trốn sang nước Thanh, đều không được vậy.

Bản nhân tiếc cho người tài trong thiên hạ nên đã bẩm lên nguyên soái đại thần nước Pháp bằng lòng để cho bản chức dụ đề đốc về hàng và hứa sẽ giao cho đề đốc đại quyền, và tiền bạc tương xứng; không chỉ tước vị mà quan viên Đại Pháp ta sẽ cùng đoàn quân của đề đốc một lòng, không còn thù nghịch gì nữa.

Vậy thì đề đốc ý nguyện ra sao? Hãy lập tức công bố gửi cho bản chức biết, bản chức sẽ phái người đem thông hành, trát văn để cho khỏi ai ngăn trở, lại sẽ gửi thư trả lời để đề đốc có thể cùng các quan Đại Pháp bàn chuyện đại sự.

Nay gửi. (NDC dịch)

Sau khi nhận được thư, Lưu Vĩnh Phúc đã nổi giận viết thư trả lời, nguyên văn như sau:

2/ Thư Lưu Vĩnh Phúc trả lời[19]

越南國三宣提督義良男劉,致書法國吏部尚書生知悉。

大凡為國之道,必須上順天理,下順人心,方能長治久安,各保疆土。

我越南幷未失禮,爾法國無故相侵,本爵提督以旅之師,與爾鏖戰多年,爾之損兵折將,亦已多矣。

我越南之民,慘羅兵刃亦甚苦矣。

是兵端之始禍在爾,天怒人怨,必有所歸,若果再不知悔,必為天下之所不宥矣!

爾國縱欲逞忿,借國債,僱黑奴,逆天行事,希圖報復; 然爾占水,我占山,我有無窮之餉源,爾無支久之兵費; 爾縱設立碼頭,我必頻年興兵,殺爾人,焚爾居,擾爾商政,使爾不得安枕,雖有江河之利,爾法人豈得久孚哉?

今爾尚書深知天理不可強違,念我越南民人久遭塗炭,欲與本爵提督議和,其意甚善; 然本爵提督大清廣西省人也,父母之邦不可背; 又越南國極品元戎也,知遇之恩不可忘;

爾尚書若以息兵保民,各國仍歸和好為言,本爵提督,敢不相聽。倘如來書,以大權盛利相誘,欲隔本爵提督為不忠不孝不仁不義之人,本爵提督心如金石,豈為爾所動揺!

況高爵厚祿大權盛譽,本提督之所固有,又何賴於爾國耶!

今爾尚書果欲真意講和,望卽將各國如何和益之處,據實言明,以待本爵提督奏請大清國越南國,同派欽差,一同會議,以期永遠無弊,得以長久相安,

使海外各皆知本爵提督暨爾尚書大公無私之意,豈不美哉!

倘再恃强逞兇,執迷不悟,爾兵頭必有安鄴,李威耶之禍,悔之晚矣!

耑此覆寄。

Tam Tuyên đề đốc của Việt Nam là Nghĩa Lương Nam[20] họ Lưu, gửi thư cho bộ trưởng bộ Nội Vụ nước Pháp là Sinh được biết.

Phàm đạo của một nước, ắt là trên phải thuận với lẽ trời, dưới thuận với lòng người, có thế mới trị được lâu dài, yên ổn trường cửu, giữ được lãnh thổ.

Nước Việt Nam ta chưa từng thất lễ, nước Pháp các ngươi vô cố đến xâm lăng, bản tước đề đốc chỉ huy quân lữ, cùng các ngươi chiến đấu lâu năm, các ngươi tổn binh chiết tướng, kể cũng đã nhiều rồi.

Người dân Việt Nam ta, chịu cảnh binh đao nên cũng rất là khổ sở. Thế nhưng khởi đầu việc tai hoạ cũng đều từ các ngươi cả, trời giận, người oán, ắt phải có nơi quay về, nếu như không biết hối hận, ấy là cái điều thiên hạ không thể tha thứ vậy.

Nước ngươi nếu như ngang ngược gây hấn, vay quốc trái, thuê hắc nô, làm việc nghịch thiên, toan tính chuyện báo thù nhưng phía ngươi chiếm được biển thì ta chiếm được núi, ta có tài nguyên lương hướng vô cùng, ngươi không thể cứ tiêu binh phí kéo dài mãi được. Nếu các ngươi thiết lập bến bãi thì ta luôn luôn hưng binh, giết người của ngươi, đốt nơi ngươi ở, quấy nhiễu việc buôn bán, để ngươi không thể ngủ yên được, tuy có lợi về sông ngòi nhưng người Pháp các ngươi liệu có tin tưởng mãi không?

Nay bộ trưởng của các ngươi biết rõ rằng thiên lý không thể vi phạm, nghĩ đến dân chúng Việt Nam ta lâu ngày đồ thán, muốn cùng bản tước đề đốc nghị hoà, ý đó rất tốt. Thế nhưng bản tước đề đốc là người tỉnh Quảng Tây nước Đại Thanh, nước của mẹ cha không thể quay lưng, còn Việt Nam thì là nguyên nhung cực phẩm, cái ơn tri ngộ cũng cần báo đáp.

Lính Pháp ở Bắc Kỳ 
Iconographie Historique de L’Indochine Franҫaise (1936)

Bộ trưởng các ngươi nếu quả muốn dừng chuyện binh đao, bảo vệ dân chúng, nói chuyện các nước hoà hảo thì bản tước đề đốc, lẽ nào lại không nghe theo.

Còn như gửi thư đến để đem đại quyền, lợi lớn mà dụ, muốn ép bản chức đề đốc làm người bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, bản tước đề đốc dạ như vàng đá, lẽ nào ngươi có thể lay chuyển được?

Huống chi tước cao, lộc hậu và tiếng tăm quyền thế, bản đề đốc nay đều đã có cả rồi, lẽ nào lại phải nhờ cậy vào nước ngươi hay sao?

Nay bộ trưởng của nước ngươi nếu quả thực có ý giảng hoà, vậy hãy xét xem việc giảng hoà ấy đối với các nước thì ích lợi ở chỗ nào, cứ nói cho rõ ra, đợi bản tước đề đốc tâu lên hai nước Đại Thanh và Việt Nam, cùng phái khâm sai, chung nhau hội nghị, định kỳ mãi mãi không còn tệ hại, để được yên ổn lâu dài.

Khiến cho hải ngoại các nơi đều biết bản tước đề đốc và bộ trưởng các ngươi có ý đại công vô tư, thế có phải tốt đẹp không?

Còn như vẫn cậy mạnh hung hăng, chấp mê không tỉnh, thì các đầu lãnh quân của các ngươi sẽ gặp hoạ như An Nghiệp (Francis Garnier), Lý Uy Da (Henri Rivière), có hối cũng không kịp.

Nay trả lời. (NDC dịch)

Xem nội dung, chúng ta biết rằng Lưu Vĩnh Phúc đã từ khước việc mua chuộc của người Pháp. Không những thế, y còn nặng lời thoá mạ. Hai bức thư dụ hàng và trả lời này được viết sau lá thư khiêu chiến vì trong thư trả lời Lưu Vĩnh Phúc có nhắc đến cái chết của Henri Rivière nên biết rằng khi đó Rivière đã bị giết.

Để trả thù cho Rivière, quân Pháp nhất định đánh Sơn Tây là nơi tập trung lực lượng tinh nhuệ nhất của quân Cờ Đen. Trận đánh này Sơn Tây tỉnh địa chí (1941) tr. 20-21 chép như sau:

Ngày 27 tháng mười năm 1883, Thủy-sư đô-đốc Courbet dự-định đánh thành Sơn-tây. Trong thành có chừng một vạn binh-sĩ ; trên bờ thành cắm chông-chà, ngoài La-thành có lũy tre kiên-cố ; đằng xa, về mạn Hồng-hà, lại có chiến-lũy Phù-xa, nên việc hạ-thành không phải là dễ-dàng. Ngày 14 tháng chạp, đô-đốc Courbet hạ lệnh đánh Phù-xa. Quân Pháp chia làm 2 đội-ngũ : một mặt 3.300 người do đường bộ đánh vào, một mặt 2.600 ngưòi do đường thủy đánh lên. Tấn-công từ 11 giờ rưỡi sáng đến tối, quân Pháp vẫn chưa chiếm được lũy Phù-xa. Đại-úy Doucet tử-trận. Suốt đêm 14 rạng ngày 15, người Tầu không để cho quân Pháp lúc nào nghỉ, đển nỗi hải-quân bộ-binh đã phải gọi đêm ấy là một đêm khủng-khiếp. Nhưng sáng hôm sau, chiến-lũy Phù-xa bị phá và quân Pháp thẳng tiến đến dưới thành Sơn-tâỵ, cơ lê-dương đi đầu. Trong hai ngày 15 và 16, binh-sĩ Pháp vây thành và luôn luôn có pháo-binh trợ-chiến. Đúng 5 giờ chiều ngàv 16, đô-đốc Courbet, đóng quân ở giữa khoảng Hạ-trại và Phú-nhi, hạ lệnh tổng công-kích. Đại đội quân lê-dương đánh cửa Hậu ; đồng thời một ít lê-dương khác cùng hải-quân tấn-công theo cửa Tiền. Đại-tá Mehl bị đạn chết ; nhưng quân Pháp vào được thành, hạ ba chiếc cờ đen và cắm cờ tam-tài lên thay. Ngày hôm sau, mới biết quân Lưu-vĩnh-Phúc đã lui về Hưng-hóa, để lại gạo, cốt-mìn, tiền bạc, các công-văn của Lưu-vĩnh Phúc cùng 900 tử-thi. Còn quân-lính bị thương có tới một nghìn người. Mặt trận Pháp, 83 người thiệt mạng, trong số đó có 5 sĩ quan tức là các Đại-úy Godinet, Doucet, Melh, Cuny, cùng Trung-úy Clavet ; 320 người bị thương, kể cả 22 sĩ-quan. Ngày 17 tháng chạp tây, đô-đốc Courbet phát cho binh-sĩ Pháp bản nghị-sự : «Hỡi các bộ-binh và thủy-binh ! Từ nay chiến-lũy Phù-xa và thành-trì Sơn-tây sẽ nổi danh vì lòng dũng-cảm của các ngươi. Các ngươi đã chiến-đấu. Các ngươi đã hạ được kẻ thù ghê-gớm. Lại một lần nữa, các ngươi đã tỏ cho hoàn-cầu biết rằng nước Pháp bao giờ cũng trông cậy vào các con dân mình được. Các ngươi nên tự-hào về cuộc chiến-thắng này : Vì nó mà ta bình-phục được xứ Bắc-kỳ. »[21]

Quân Pháp đánh Sơn Tây
Les Grands Dossiers de l’Illustration l’Indochine (1987)

Tháng 6-2021

ƯỚC CHIẾN THƯ và HỊCH VĂN CỦA LƯU VĨNH PHÚC

Cuối tháng Giêng Âm Lịch năm Nhâm Dần (2022), tôi nhận được qua e-mail từ ông Lê Công Lý, một vi hữu ở Việt Nam cho biết một người quen của ông là bác Trương Ngọc Tường có nhã ý gửi tặng tôi một bản sao một cuốn cổ thư có nhan đề Lưu Vĩnh Phúc binh thư.

Thực tình mà nói, khi nhận được tin này, qua ấn tượng sẵn trong đầu, Lưu Vĩnh Phúc không phải là một người học thức cao, có nơi còn nói ông ta không biết chữ. Điều đó có thể đúng vì cuộc đời họ Lưu từ nhỏ đến lớn không có giai đoạn nào đèn sách đến trường, e rằng viết một lá thư thường cũng khó khăn nói gì đến soạn binh thư mặc dù ông ta đã lập nhiều chiến công khá lừng lẫy.

Tuy nhiên – dẫu chỉ là một bản nguỵ thư do một người khác chấp bút – người đọc vẫn có thêm những chi tiết cụ thể và đầu tay (first-hand accounts) về giao tranh giữa quân Cờ Đen và người Pháp, bổ khuyết cho những gì từng biết về những trận đánh ở Bắc Kỳ cuối thế kỷ XIX. Biết thêm những tên người, tên đất là những chi tiết quan trọng trong việc nghiên cứu vì đôi khi từ một chi tiết nhỏ bị lãng quên có thể đóng góp lớn trong việc giải mã một nghi án lịch sử lớn. Mấy ngày sau khi nhận được bản chụp bộ sách này, những hiểu biết của tôi và những suy nghĩ ban đầu đã thay đổi.

Đây không phải là một bộ binh thư như chúng ta thường nghĩ, viết về cách bài binh bố trận, mưu kế, chiến thuật, chiến lược mà thực sự chỉ là một tập hợp văn bản tương đối hiếm có. Tôi dùng chữ tương đối vì nhiều văn thư trong bộ sách này đã xuất hiện trong những tài liệu khác và cũng có thể đã ghi chép trong đáng án của nhà Thanh. Tuy nhiên, với người Việt chúng ta, những tài liệu đó rất khó kiếm và cũng khó có đủ điều kiện để khai thác nếu không am hiểu về tình hình của Việt Nam, Trung Hoa và Pháp trong một hoàn cảnh rất phức tạp.

Theo bài Tựa thì đây là một số tài liệu mà gia đình họ Quan ở Hải Nam sưu tầm được trong khoảng 8 năm [từ năm Giáp Thân (1884) đến năm Nhâm Thìn (1892)]. Tuy bìa sách đã bị hư hại khá nhiều, chúng ta cũng còn đọc và đoán được là Lưu Vĩnh Phúc Binh Thư (劉永福兵書). Bộ sách này được khắc in do công lao của bốn người con chủ nhân Quan Cẩm Chương (關錦章) [hiệu Diệu Đường 曜堂] là Quan Dịch Cơ, Quan Dịch Vinh, Quan Dịch Lâm và Quan Dịch Trung. Người đề tựa văn bản này là Quan Dịch Cơ (關奕基), hiệu Bật Thần (弼臣) chính là anh cả trong số bốn anh em. Bài Tựa viết năm Nhâm Thìn đời Quang Tự nhà Thanh (1892) có kèm theo hai con dấu, trên là Quan Dịch Cơ Ấn, dưới là Bật Thần. Bộ sách này cũng có in ở giữa trang hàng chữ Hồng Đô Các tàng bản (鴻都閣藏板).[22]

Triện Quan Dịch Cơ và Bật Thần

Bìa và bài Tựa của bộ Lưu Vĩnh Phúc binh thư

Cũng trong bài tựa này, Bật Thần cho biết đây là một tập hợp trong đó có cả tấu nghị của Trương [Bội Luân], chiến lược của Bành [Ngọc Lân] và binh thư của Lưu [Vĩnh Phúc]. Binh thư ở đây không phải là sách về phép dùng binh mà là những thư từ, tài liệu về việc quân của viên tướng Cờ Đen. Theo mục lục tập sách, chúng ta thấy có theo thứ tự sau đây:

1. Thượng dụ của vua Quang Tự nhà Thanh ra lệnh cho các tổng đốc, tuần phủ dọc theo duyên hải tập trung binh lính phòng thủ

2. Thư của Tăng Kỷ Trạch gửi cho đại thần nước Pháp

3. Bàn luận của Bành Ngọc Lân về việc tập trung binh lính phòng thủ

6. Thư trả lời bạn bè cùng quê của Lưu Uyên Đình (Vĩnh Phúc)

7. Thư của Lại bộ thượng thư Sinh nước Pháp gửi đề đốc Lưu Uyên Đình

8. Thư đề đốc Lưu Uyên Đình trả lời  Lại bộ thượng thư nước Pháp

9. Bản dịch các văn kiện của đại thần Trung Pháp gửi qua lại

10. Sớ của Trương Bội Luân tâu lên về việc thua trận tại Mã Vĩ

11. Lời tâu của Hà Như Chương về việc ngăn chặn quân Pháp không cho đổ bộ lên bờ

12. Bàn về việc đánh và giữ trên bộ ở quan ngoại

13. Trên đường đi nghe tin Lạng Sơn bị thua trận nên gửi thư lên triều đình

14. Luận về lục nghệ

15. Thư răn dạy em và cháu

16. Khoá sử luận

17. Trữ tài luận

Trong đoản văn này, chúng tôi sẽ dịch hai văn bản (số 4 và 5) mà bộ sách cho là của Lưu Vĩnh Phúc. Đó là hịch văn ước chiến – tức giao hẹn so tài của viên tướng Cờ Đen với quân Pháp, khi đó do Henri Rivière chỉ huy. Cuộc so tài này đưa tới việc Henri Rivière bị phục kích ở Cầu Giấy và tử trận ngày 19-5-1883. Văn bản thứ hai là hịch văn gửi binh sĩ để khuyến khích và cam kết tưởng thưởng nếu đạt thắng lợi. Văn bản này có lẽ được công bố sau tháng Sáu năm Quí Mùi (1883) vì có nhắc đến quốc tang vua Tự Đức và việc người Pháp ép triều đình Huế ký hoà ước Harmand 1883 và Patenôtre 1884.

Theo chúng tôi được biết, tiền nhân ông Trương Ngọc Tường – chủ nhân bộ sách – là những nhà ái quốc hoạt động trong phong trào Đông Du cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân khi lưu lạc qua Quảng Tây đã mua được và tàng trữ trong tủ sách gia đình từ trên 100 năm qua. Nhân đây người viết xin chân thành cảm tạ ông Trương Ngọc Tường đã tặng cho một bản chụp của bộ cổ thư hiếm quí này và bạn Lê Công Lý đã sốt sắng chuyển giao.

Trong sự dè dặt, theo sự suy đoán của chúng tôi thì  các văn bản này do giới văn thân Việt Nam chấp bút. Với hiểu biết khá sâu rộng về tình hình Việt Nam, Trung Hoa và Pháp (kể cả tiểu sử Napoléon I) có lẽ đây là một sĩ phu miền bắc viết thay cho viên tướng Cờ Đen. Vì cách dùng từ ngữ và điển tích rất uyên thâm, hàm súc, việc những văn bản hùng tráng xuất hiện và phổ biến bởi một nhóm thổ phỉ ít học cũng là một việc khác thường trong di văn chống Pháp. Dù ai là tác giả, những tài liệu này cũng nên được lưu trữ trong thể loại văn thư yêu nước trong lịch sử nước ta.

Số trang trong nguyên văn chữ Hán chúng tôi để theo Lưu Vĩnh Phúc binh thư.

Nguyễn Duy Chính

3-2022

劉永福約戰檄文[23]

[13a] 越將劉永福又名義。本粵人。同治初年率其黨避難至越。越王授以官。勦匪有功。封將軍。授提督。其所統數萬人。人稱爲黑旗。拓越南荒地方七百餘里。寓兵於農。自食其力。因法人凌越將與法戰。先發檄傳之。

雄威大將軍三省提督劉,為約期開仗事:

查得爾外寇,雄據歐洲,虎視海宇,奪其詐謀,逞其兇暴,無土地不垂貪涎,無財賄不思恣噬;

以傳教為兆民之蟊蠹,以通商為各國之鯨鯢,窮兇極惡,恃勢宣滛; 神人之所共憤,天地之所不容。

猶復乘間柢隙,謀倂越南,藉通好之名,倡背盟之義,以愚天下,以逞雄心,奪邑攻城,戕官奪稅,使無辜蒼赤,塗肝腦於郊原,縱狡黷黨徒,肆毒逋於遠邇,書其[13b]罪則罄南山之竹而難窮,念其恥則決西江之水而難滌。

本將軍奉詞討罪,師出有名,誓率三軍,殲爾醜類。

本欲飈擧星馳,雷轟電掣[擊],直搗兔穴,痛殄狐群,大快人心,聿彰天討;

第念河内亦國家故壤,商旅皆安分之良民,不忍城郭作邱墟,老稚罹鋒鏑,為此佈告俾得週知。

檄到之日,爾外寇,旣形跋扈,自恃豪雄,其率爾羊犬之群,以當我熊羆之旅,約於旬内,共決雌雄,擬於懷德府空曠之地,為本將軍建績之塲。

倘知螳臂不可以當車,狐喙徒足以膏斧,思延殘喘,以保餘生,即當自斬爾等頭目首級,詣轅獻納;

并匿爾窟穴,退還我城池,本將軍體上天好生之德,承國家息事之心,必[14a]不殺降,以鳴得意。

倘遲疑不决。貪得為懷,一旦兵臨,禍將不測! 嗟嗟當見機而效順,勿恃頑以受誅,爾其深思。毋貽後悔。檄到其各傳知。切切 。

按。此檄以越南朝廷。因外人肆其憑陵。敵氛日熾。亦欲悉索敝賦。與外人從事疆場。以決勝負。再作良圖。而黑旗劉義。則更懷憤激。仗義同仇。振作士氣。誓殲勁敵。已選精兵數千。屯於懷德府屬。並聯合黄旗以助聲援。故爲此檄。

Dịch nghĩa

Tướng Việt Nam Lưu Vĩnh Phúc còn có tên là Nghĩa. Gốc người tỉnh Việt [Quảng Tây]. Đồng Trị sơ niên đem đồng đảng sang Việt Nam tị nạn. Vua Việt ban cho quan tước. Dẹp giặc có công được phong tướng quân, cho chức đề đốc, thống thuộc có đến mấy vạn người, người đời gọi là quân Cờ Đen. Khai thác hoang địa ở Việt Nam đến hơn 700 dặm, ngụ binh ư nông, tự cày cấy lấy mà ăn. Nhân vì người Pháp coi thường tướng Việt Nam nên đánh với Pháp, trước đó gửi ra tờ hịch này.

Hùng Oai đại tướng quân đề đốc ba tỉnh Lưu, nay ước định ngày giờ khai chiến

Xét bọn cướp nước ngoài các ngươi, hùng cứ ở châu Âu, mắt dòm ngó hải ngoại, dùng điều trá mưu, thích việc hung bạo, không đất nào là không thèm thuồng, không tài vật nào là không thoả thuê xâu xé.

Lấy việc truyền giáo để đục khoét nhân dân, lấy việc thông thương để làm đàn anh các nước, cùng hung cực ác, cậy thế lan tràn, thần lẫn người đều công phẫn, trời đất không dung.

Nhân vì bên trong có những sơ hở nên mưu chuyện thôn tính Việt Nam, lấy cái tiếng buôn bán, nêu cái nghĩa bội minh để lừa thiên hạ, để thoả hùng tâm, đoạt ấp công thành, giết quan đoạt thuế, khiến cho kẻ vô tội đầu xanh phải tan nát gan óc nơi đồng xa, tập hợp đảng xảo trá, gieo rắc cái độc ác khắp xa gần, chặt hết trúc núi Nam không chép hết tội, khơi hết nước Tây giang không rửa được nhục.

Bản tướng quân nhận lệnh đánh dẹp, ra quân có danh nghĩa, thề đưa ba quân, tiêu diệt giống xấu xa

Vốn muốn giương cao cờ tinh vụt đến, sấm ran chớp giựt, đánh thẳng vào hang muông, giết sạch chồn cáo để cho lòng người thống khoái, làm rõ sách trời

Nay nghĩ Hà Nội vốn là cố đô, người buôn bán đều là dân lành an phận, không nỡ để thành quách biến thành gò đống, già trẻ phải vào nơi tên đạn, nên nay ra bố cáo cho mọi người cùng biết

Tính từ ngày hịch này đến nơi, các ngươi là ngoại khấu, vốn dĩ ương ngạnh, tự cho là hào hùng thì hãy đem đám quân dê chó của các ngươi đem ra chống với quân hùm beo của ta, định trong một tuần, quyết một phen sống mái, ở nơi đồng trống ngoài phủ Hoài Đức, gặp bản tướng quân làm chiến trường.

Nếu biết càng con bọ ngựa không chống được bánh xe, chồn sói không đỡ được búa rìu, nghĩ đến việc giữ chút hơi tàn, bảo tồn kiếp sống thì hãy lập tức chém đầu bọn đầu mục, đem hiến trước quân doanh,

Rồi trốn về hang ổ, trả lại thành trì cho ta, khi đó bản tướng quân sẽ nghĩ đến đức hiếu sinh của trời đất, theo cái lòng nghỉ ngơi của quốc gia mà không giết kẻ ra hàng để vươn ý tốt.

Còn như chần chừ không quyết, vẫn giữ bụng tham, một khi binh tới, hoạ không lường được!

Than ôi, hãy biết thời mà qui thuận, đừng vì bướng mà bị diệt tru, các ngươi hãy suy nghĩ cho kỹ, đừng để hối hận về sau.

Gửi hịch truyền cho các nơi đều biết.

Thiết tha hiểu dụ.

Án. Triều đình Việt Nam vốn bị ngoại nhân áp bức, càng lúc địch càng hung hăng. Vì thế nên muốn đem hết sức lực để cùng ngoại nhân một trận sống mái rồi sẽ tìm cách nào hoàn hảo hơn. Quân Cờ Đen của Lưu Nghĩa thì cũng đang căm giận, hai bên trượng nghĩa đồng cừu khiến cho tinh thần binh sĩ dâng cao, thề giết sạch kình địch. Do đó mới chọn tinh binh vài nghìn người, đóng ở vùng phụ cận phủ Hoài Đức, lại liên hợp với quân Cờ Vàng[24]để trợ thanh thế. Cho nên mới có bài hịch này.

劉永福誓師檄文

[15a]越將劉永福檄文一道。眞覺義正詞嚴慷慨激烈。大有拔劍斫地。焚香告天之慨。足以驚風雨而泣鬼神。茲錄其檄於下。

雄威大将軍三宣提督劉為誓師事。

嗚呼。皇天無親。明德是輔 [25]。聖人有訓。佳兵不祥[26]

我越南自白雉入貢以來。知中國有聖人。不敢自外託於帡幪覆幬之中者。數千年於茲。中國亦待之以誠撫之以惠愛如骨肉而親若家庭。偶有外患内憂。莫不煩天朝之綏靖。

越南臣民惟知有中國。不知有他國。故與各外國絕不相通。蠢茲外夷逞其强悍。恃其機械輒敢肆焉蠶食。恣厥鯨吞。毒此長蛇 [27]。貪逾封豕[28] 。既竊踞夫西貢。又潛窺夫東京。外託保護之名。[15b]中懷巨測之志。試思分疆畫界。各有臣民。各有政教[29] 。何待越徂代謀。是其藉辭行詐。包藏禍心可以不言而喻。况自外兵東來之後。攻城掠地。荼毒越民。越南之倉庫據爲己有。

越南之叛民以添其翼。隳越南之險阻以快其心。種種狂悖之行。神人之所共忿。天地之所不容。我越人凡有血氣。莫不痛心疾首。透爪裂皆[30] 。願得外人之肉。寢外人之皮。眞有一夫大呼。巿人皆左袒之勢。

永福以覊旅之身。受國王恩遇。資以土地。授以甲兵。其初一成一旅之眾。得所藉手。十年[16a]生聚十年敎訓。積數十年之心力。有勁卒數萬人。賴以保障東南。用資戰守。三軍之士。當知食毛踐土 [31]。恩義並隆。去順效逆。殃咎立至。

越南雖褊小。向為中國不侵不叛之臣。今越南有難。中國必爲援助。茲者滇撫唐中丞。粵西撫徐中丞。皆已帶甲百萬。分道出關。兵遥駐。聲勢赫濯。粵督張制軍。粵東撫裕中丞。亦皆部署周至。轉應不窮。近又特簡彭宮保。來粵督師。以守爲戰。韓范坐鎭。西賊喪膽。我軍有此奥援。士氣定當益壯。

本提督不過中原一武夫。流寓來越。荷蒙國王恩禮有加。重資委任。爾眾士亦屢蒙[16b]大惠。祿養有年。三軍銘挾纊之恩。多士戴如春之澤。固宜激發忠義。竸作干城。

如況中朝大皇帝特沛殊恩。寄以重任。本提督固責無旁貸。爾眾士亦義不容辭。當思受國王之恩養。咸懷報主之忱。荷中朝之化裁。彌切尊王之義。先登陷陣。奮不顧身。飢剝外夷之膚。湯飮外夷之血。滅此朝食。所向無前。

外夷之機械。適足自阱。外夷之兇暴。適足自戕。前者西拿破侖第一。頗善用兵。其國人稱之天神擐甲執兵。千人辟易。彼鄙恃其武勇橫暴不已。卒爲英人所俘。爲世大辱。厥後拿破侖第[17a]三。率乃祖之攸行。志在開疆。性喜用武。橫征暴歛。戢怨小邦。

天怒人憤。蘊久必發。爰假手普國。殲厥臣辰魁。燬其國都。外人之氣爲之不揚。歐西各國羞與爲伍。似此亦可稍自歛跡矣。而乃猶復怙惡不悛。不敢吐氣於他邦。轉欲逞志於我國。

我越南雖僻處海𣾉。號稱積弱。然師以曲直爲老壯。兵以順逆爲勝負。外夷雖强。曾何足懼。自外夷入寇。狼奔豕突。跋扈鴟張。幾於目無越人。

本提督率爾有眾。起而力爭。一戰而悅未學授首[32] 。再戰而波滑遁逃。科烈不能逞其凶。夏文[33]不能施其計。大旗所指。蚩尤熸光。長戈所揮。淵日再起。賊軍矢窮糧盡。困守一隅。以海防河内爲負嵎之恃。而我軍分[17b]道以擾之。亟肆以疲之。奇兵正兵。互爲策應。攻城攻野。動合機宜。

南定驚草采之兵。海東懔烽烟之警。賊軍皆墨 (?)。我武維揚。外夷猶敢執迷不悟。逼我順化。蹙我都城。乘我國之新喪。利援兵之道遠。遂乃抑勒新主。强爲要盟。夫要盟神勿之福。盟可要亦可寒。何足措意。而外夷乃自爲得志。益復驕橫又敢窺我北寧。侵我桑臺。中朝之大度。則藐爲畏葸。我軍之果敢則視若仇讐。

不恤眾口之交議。不顧天心之弗順。國狗之瘈。噬遍乎友邦。巴蛇之吞。肯遺夫象郡。賊與我勢不兩立。我與賊義不俱存。今與爾有眾共伸天討。各奮神威。轉戰無前。有進勿退。得外夷首一級。賞銀五十兩。賊目倍[18a]之。獲兵船一艘。賞如其船之數。燬鐵艦者倍之。

其有我國遊民爲外夷所羅致。脅令當兵者。倘能悔罪自拔。悉予免究。反戈攻後固而獲勝者。仍論功行賞。弗問前愆。惟外夷及其所部之黑夷。則盡殺無赦。必使東京之餘孼掃蕩無遺。西貢之腥聞。湔除淨盡。

上以副天朝倚畀之隆。中以報國王休養之德。下以舒越人怨毒之心。成敗利鈍所不遑計。爾眾士欲不世之奇勲。成不杇之偉業。惟本提督馬首是瞻 [34]。功多有厚賞。不迪有顯戮。爾眾士惟時懋哉。檄到如律令。

Dịch nghĩa

Đây là một bản hịch văn của tướng Việt Lưu Vĩnh Phúc. Quả thực nghĩa lý thẳng thắn, lời lẽ nghiêm trang, khẳng khái, quyết liệt chẳng khác nào rút kiếm mà chém xuống đất, đốt hương khẳng khái cáo trời, quả là gió mưa kinh, quỉ thần khóc. Hịch này sao lục dưới đây.

Uy võ đại tướng quân Tam Tuyên đề đốc Lưu gửi đến binh sĩ.

Than ôi! Trời không thân thiết với ai, chỉ có kẻ nào có đức thì trời giúp thôi. Thánh nhân có dạy rằng, việc dùng binh là điều chẳng lành vậy.

Nước Việt Nam ta từ khi đem trĩ trắng sang cống đến nay, đã biết rằng Trung Quốc có thánh nhân, không dám đứng ngoài vòng che chở. Mấy nghìn năm là như thế. Trung Quốc cũng lấy lòng thành vỗ về để đối đãi, yêu thương ân huệ không khác gì người thân trong gia đình. Nếu như có hoạn nạn từ bên ngoài, lo lắng ở bên trong thì cũng không phiền việc nhờ thiên triều đánh dẹp.

Thần dân Việt Nam chỉ biết có Trung Quốc mà thôi, không biết nước nào khác nên với ngoại quốc hoàn toàn không giao thiệp.

Vậy mà ngoại di cậy mình hung hăng, ỷ vào cơ giới nên đã phóng tứ, xâm lấn dần dần, toan bề nuốt chửng.

Độc như thuồng luồng, tham quá heo lớn. Cho nên đã chiếm được Saigon, lại toan dòm ngó Đông Kinh (Hà Nội).

Bên ngoài lấy tiếng bảo hộ, bên trong mang dạ khó lường. Nếu như chia đất đai, vạch biên giới thì đâu chẳng có thần dân, đâu chẳng có chính giáo.

Đâu phải đến khi mưu đánh Việt Nam. Lúc ấy mới mượn lời mà làm điều gian trá. Bụng dạ gây hoạ mà không nói ra.

Từ khi bên ngoài đem quân sang Á Đông, công thành cướp đất, tàn hại dân Việt, chiếm kho đụn của Việt Nam làm của mình.

Bọn phản dân của Việt Nam lại phụ vào như chắp thêm cánh. Phá huỷ những nơi hiểm trở của Việt Nam cho thoả lòng. Bao điều càn rỡ sai trái khiến cho thần người phẫn nộ, trời đất không dung.

Người Việt ta ai còn huyết khí, không thể không đau lòng nhức óc, dựng tóc nghiến răng. Mong được ăn thịt ngoại nhân, lột da ngoại nhân. Nếu có một người đứng ra kêu gọi thì người trong phố ai cũng trịch vai áo mà theo.

Vĩnh Phúc này một thân lưu lạc, được ơn nghĩa của quốc vương, ban cho đất đai, trao cho binh giáp. Ban đầu chỉ một đội quân để làm chỗ dựa. Mười năm vun trồng, mười năm rèn luyện, gom góp tâm lực thành vài ba vạn sau một thập niên. Dựa vào che chắn phía đông nam, làm thế tiến thủ. Ba quân binh sĩ đều biết rằng lá rau mảnh đất đều là của vua ban nên ân nghĩa càng thêm lớn. Còn kẻ nào bỏ thuận, theo nghịch, tai ương ắt tới ngay.

Việt Nam tuy nhỏ hẹp nhưng vốn dĩ là bầy tôi không xâm phạm, không chống đối Trung Quốc. Nay Việt Nam có nạn, Trung Quốc ắt phải viện trợ. Gần đây tuần phủ Đường trung thừa [Đường Quýnh] của tỉnh Điền [Vân Nam], tuần phủ Việt Tây Từ trung thừa [Từ Diên Húc] đều đã đem binh giáp trăm vạn, chia đường xuất quan. Binh đóng ở xa xa, thanh thế vang dậy. Đề đốc Quảng Đông là Trương chế quân [Trương Bội Luân], tuần phủ Quảng Đông là Dụ trung thừa [Dụ Khoan] cùng các bộ thuộc đều đến, tiếp viện không ngừng.

Gần đây lại đặc phái Bành cung bảo [Bành Ngọc Lân] sang đất Việt (Quảng Tây) chỉ huy quân, lấy thủ làm chiến. Họ Hàn [?], họ Phạm [?] chỉ huy chiến trận khiến cho giặc Tây mất mật. Quân ta có thêm viện binh, tinh thần binh sĩ càng hăng hái.

Bản đề đốc bất quá chỉ là một kẻ võ phu ở trung nguyên, sang lưu ngụ Việt Nam, may được quốc vương ban thêm ân lễ, trọng đãi tin dùng, quân sĩ các ngươi cũng được hưởng ơn lớn, thụ lộc nhiều năm. Ba quân đều no ấm, được ân trạch khác gì mùa xuân, vậy các ngươi nên hăng hái tỏ dạ trung nghĩa, là kẻ bầy tôi bảo vệ xã tắc.

Còn như đại hoàng đế Trung triều ban nhiều ơn huệ, giao cho trách nhiệm lớn, bản đề đốc cũng không dám đẩy cho người khác. Binh sĩ các ngươi vì nghĩa cũng không thể từ chối được.

Nay nghĩ đến việc nhận ân dưỡng của quốc vương, lo tính việc báo đền ơn chúa, lại tưởng đến việc vun đắp của Trung triều, gắng gỏi cái nghĩa tôn vương nên trước xông lên hãm trận, không kể thân mình, mong sao ăn thịt lột da ngoại di, uống máu ngoại di, chưa giết giặc thì chưa ăn, xông lên không gì ngăn trở được.

Ngoại di có cơ giới thì cũng tự sa xuống hố, ngoại di dẫu hung bạo thì cũng sẽ tự giết mình. Trước đây bên tây có Nã Phá Luân đệ nhất, rất giỏi dùng binh, người trong nước coi y như thiên thần bên trong áo giáp, ai ai cũng sợ. Y cậy mình vũ dũng mà hoành hành không cấm kỵ gì cả, sau chết vì bị người Anh bắt được, thật là đại nhục trên đời.

Con cháu là Nã Phá Luân đệ tam, cũng đi theo chân ông cha, toan tính mở rộng bờ cõi, thích dụng võ, ham chiến tranh, sưu cao thuế nặng, gây thù oán với các nước nhỏ.

Trời giận, dân phẫn, tích lâu thì bùng lên nên đã mượn tay nước Phổ, tru diệt những kẻ đầu sỏ, phá huỷ toàn bộ kinh đô, khí thế bên ngoài không còn nổi lên, các nước Âu Tây không còn làm bạn, từ đó mới phải thu mình dấu vuốt.

Thế nhưng quay lại hung ác không chừa, vì không thể ra oai nơi nước khác nên chuyển sang đè nén nước ta.

Nước Việt Nam tuy lánh mình nơi góc biển, vốn đã yếu đuối. Thế nhưng dùng binh nếu sai trái  ấy là quân già lão, còn như chính đáng thì là kẻ tráng thời, thuận sẽ thắng mà nghịch sẽ thua. Ngoại di tuy mạnh, có gì đáng sợ đâu. Từ khi chúng vào phá phách, lang sói bỏ chạy mà heo lợn nổi lên, bướng bỉnh phô trương, xem như không còn người Việt nữa.

Bản đề đốc đưa các ngươi lấy sức mà tranh, hễ đánh là thắng chứ chưa từng khuất phục. Đánh lần nữa thì bọn gian kia bỏ chạy, Khoa Liệt (?) không thể luông tuồng hung ác, Hạ Văn (?) không thi hành được kế mưu. Cờ nghĩa chỉ ra, Xi Vưu tắt ngúm. Giáo dài vung lên, ngày Uyên (?) trở về. Quân giặc cạn đạn dược, hết lương ăn, cố giữ một vùng, lấy Hà Nội, Hải Phòng làm nơi nương tựa. Thế nhưng quân ta chia đường quấy nhiễu khiến cho chúng mỏi mệt. Kỳ binh chính binh, hai bên ứng tiếp cho nhau. Đánh thành chiếm đất, hoạt động cơ nghi tương hợp.

Quân Nam Định kinh sợ cỏ rau, Đất Hải Đông hãi hùng thiêu đốt. Giặc đều cháy xém (?), còn ta diệu võ dương oai. Ngoại di vẫn u mê chưa tỉnh, ép sát Thuận Hoá, bức bách kinh đô. Thừa việc nước ta mới có tang, nhân vì viện binh chưa kịp đến. Cho nên ép uổng chúa mới, cưỡng bách hoà minh. Việc ký hoà ước là điều may cho sinh linh, có thể đòi mà cũng có thể bỏ, có đâu cần phải quan tâm. Thế nhưng ngoại di lấy làm đắc chí, càng thêm càn rỡ toan điều dòm ngó Bắc Ninh, tấn công Tang Đài (?). Trung triều bao dung thì cho rằng sợ hãi, quân ta quả cảm lại coi như cừu thù.

Không đếm xỉa đến lời người đàm tiếu, chẳng nhìn xem lòng trời thị hay phi. Điên rồ như cho dại cắn càn, lây sang bằng hữu. Tham lam như trăn to nuốt chửng, Tượng quận không ngoài. Giặc với ta thế không cùng đứng, ta với giặc nghĩa chẳng cùng chung. Nay cùng với các ngươi theo mệnh trời mà thảo nghịch, phải tỏ thần uy, trận đánh này trước chưa từng có, chỉ có tiến mà không lùi.

Ai cắt được một đầu ngoại di, thưởng cho 50 lượng bạc. Nếu là chỉ huy thì được gấp đôi. Ai lấy được một chiếc thuyền của giặc, thưởng cho bằng giá chiếc thuyền, huỷ được thuyền sắt của giặc thì được thưởng gấp đôi.

Còn như dân nước ta phục dịch cho ngoại di, áp bức phải làm lính cho chúng, nếu biết hối tội bỏ ngũ thì miễn tra cứu. Còn như quay mũi giáo mà đạt thắng lợi thì sẽ tuỳ theo công mà thưởng, không hỏi đến tội nghiệt cũ. Riêng có ngoại di và bộ thuộc da đen thì giết sạch không tha. Quét dư nghiệt ở Đông Kinh không còn một mống, tẩy tanh hôi ở Tây Cống cho sạch sành sanh.

Trên là đáp đền sự nương tựa to lớn của thiên triều, giữa là báo ơn đức nuôi dưỡng cả quốc vương, dưới là nguôi cái tâm oán hận của dân Việt, còn thành bại sắc cùn không tính đến.

Binh sĩ các ngươi nếu muốn được rạng rỡ trên đời, lập thành vĩ nghiệp không hủ nát thì hãy sống chết đi theo bản đề đốc. Lập nhiều công thì được hậu thưởng, nếu trái lời thì sẽ bị tru diệt ngay.

Binh sĩ các ngươi cùng nhau gắng gỏi.

Hịch gửi ra cũng là luật lệnh.

1. Boudet, Paul và André Masson. Iconographie Historique de l’Indochine Française: documents sur l’histoire de l’intervention française en Indochine. Paris: Les Éditions G. Van Oest, 1931.

2. Davis, Bradley Camp. Imperial Bandits: Outlaws and Rebels in the China-Vietnam Borderlands. Seattle and London: University of Washington Press, 2017.

3. Devillers, Philippe. Franҫais et Annamites – Partenaires ou ennemis? 1856-1902. Denoël, 1998.

4. Histoire Militaire de l’Indochine Franҫaise des débuts à nos jours (Juillet 1930), Tome I, II (2e édition, revue et complétée). Hanoi-Haiphong: Imprimerie d’Extreme-Orient, 1930.

5. Hocquard, Édouard. War and Peace in Hanoi and Tonkin (A Field Report of the Franco-Chinese War and on Customs and Beliefs of the Vietnamese 1884-1885) Bangkok: White Lotus Press, 1999. (Walter E. J. Tips dịch từ nguyên tác Trente Mois au Tonkin trong bộ Le Tour du Monde, Vols. 57-61, 1889-91, Paris)

6. La, Hương Lâm (羅香林), Lưu Vĩnh Phúc lịch sử thảo (劉永福歷史草), Thượng Hải: Chính Trung thư cục, 1947.

7. Le Livre de Paris. Les Grands Dossiers de l’Illustration l’Indochine. Paris, 1995

8. Long Chương (龍章). Việt Nam Dữ Trung Pháp Chiến Tranh (越南與中法戰爭). Ðài Bắc: Ðài Loan thương vụ, 1996.

9. Lưu, Bá Khuê (劉伯奎), Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Sử (中法越南交涉史). Đài Bắc, Đài Loan học sinh thư cục, 1980.

10. McAleavy, Henry. Black Flags In Vietnam – The Story of a Chinese Intervention. New York: The Macmillan Co., 1968.

11. Morse, Hosea Ballou. The International Relations of the Chinese Empire (3 tập) London : Longmans, Green and Co., 1910.

12. Neis, P. The Sino-Vietnamese Border Demarcation 1885-1887 (trans by Walter E. J. Tips from Sur les Frontières du Tonkin, 1887). Bangkok: White Lotus Press, 1998.

13. Phạm, Xuân Độ, Sơn Tây Tỉnh Địa Chí, 1941.

14. Quách Đình Dĩ, Vương Duật Quân (郭廷以, 王聿均) (chủ biên). Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Đáng 中法越南交涉檔 (tái bản) 7 tập. Đài Bắc: Trung Ương Nghiên Cứu Viện Cận Đại Sử Nghiên Cứu Sở, 1983.

15. Quan gia tàng bản. Lưu Vĩnh Phúc Binh Thư (劉永福兵書), khắc in đời Quang Tự (1892).

16. Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện Đại, quyển IV, tập Thượng, (tái bản lần III). Saigon: Thăng Long, 1959.


[1] La Hương Lâm (羅香林), Lưu Vĩnh Phúc Lịch Sử Thảo (劉永福歷史草), Chính Trung thư cục, 1947, tr. 33. (NDC dịch)

[2] Trung Pháp Việt Nam giao thiệp đáng (1983), tập I, tr. 219.

[3] Đời Hàm Phong (1851-1861) không có năm Canh Ngọ. Năm Canh Ngọ gần nhất là 1870, Đồng Trị 9.

[4] Lan Khai, Gái Thời Loạn (tiểu thuyết lịch sử). Phổ Thông Bán Nguyệt San số 20, Hà Nội: Tân Dân, 1938, tr. 7-8. Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện Đại, quyển IV, tập Thượng, (tái bản lần III) (Saigon: Thăng Long, 1959) Lan Khai, tr. 973-974.

[5] Vũ Ngọc Phan, sđd., tr. 974.

[6] Chi tiết này không chính xác. Lưu Vĩnh Phúc sinh năm 1837, mất năm 1917, thọ 80 tuổi. Năm 1883, ông ta mới 46 tuổi.

[7] Cước chú trong Sơn Tây tỉnh địa chí: Cũng trong cuốn « Au Tonkin », Dick de Lonlay tin rằng lòng can-đảm của quân Cờ-đen một phần lớn do sự nghiện-hút mà ra, vì khi đã say-sưa thì cảm-giác như tê-liệt, không biết sợ-hãi là gì. Như trong trận đánh Sơn-tây, quân Lê-dương sau khi hạ thành, thấy một vị quan Tầu đang nghiễm-nhiên nằm hút trong một khung-thất. Một tên phó-quản tiến lại định bắn. Vị quan ấy ung-dung ra hiệu bảo chờ một lát, rồi lại hút thêm một điếu; đoạn nhấc người dậy và chìa đầu vào miệng súng sáu, một cách thản-nhiên…

[8] Phạm Xuân Độ, Sơn Tây tỉnh địa chí (1941) tr. 18-20.

[9] Enfin, le 10 mai, LUU-VINH-PHUOC faisait afficher par ses agents, dans Hanoi même, un placard in­jurieux contre les Français, les provoquant au combat dans les plaines de Phu-Hoai.

[10] Trung Pháp Việt Nam giao thiệp đáng (中法越南交涉檔), tập 2, văn kiện 428, tr. 870. Khiêu chiến thư này tương tự nội dung bản dịch tiếng Anh trong Black Flags in Vietnam của Henry McAleavy, tr. 203.

[11] Lưu Bá Khuê (劉伯奎), Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Sử (中法越南交涉史) (Đài Loan: Học Sinh thư cục, 1980) tr. 22-23.

[12] Theo Histoire Militaire de l’Indochine Franҫaise (1931) chú thích trang 58, thì từ các nguồn tin của dân địa phương đại tá Henri Rivière [bị thương ở vai] bị quân Tàu bắt được và đưa tới nơi Lưu Vĩnh Phúc đóng quân ở phủ Hoài Đức. Tại đây ông bị chặt đầu theo lệnh của chủ tướng Cờ Đen. (D’après les témoignages concordants de nombreux indigènes, le commandant RlVIÈRE, amené devant LUU-VINH-PHUOC, fut décapité à Phu-hoai-duc sur l’ordre du chef des Pavillons Noirs). Berthe de Villers cũng là một trong số 5 sĩ quan tử thương theo tài liệu của Pháp. Histoire Militaire de l’Indochine Franҫaise (1931), tr. 58.

[13] Bradley Camp Davis, Imperial Bandits: Outlaws and Rebels in the China-Vietnam Borderlands (Seattle and London: University of Washington Press, 2017) tr. 101-102.

[14] Theo McAleavy trong Black Flags in Vietnam (1968) tr. 205 thì quân Pháp chết 50 người, bị thương 76 người (xem ở dưới).

[15] Histoire Militaire de l’Indochine Franҫaise (1931), tr. 58.

[16] Black Flags in Vietnam (1968), tr. 203-205.

[17] Lục Lưu danh dự Việt sự bị khảo tố lược (錄劉名譽越事備考素略), quyển 2 dẫn nguyên văn. Trích Lưu Bá Khuê (劉伯奎): Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Sử (中法越南交涉史) (Đài Bắc, Đài Loan học sinh thư cục, 1980) tr. 20.

[18] Không rõ là ai, có lẽ là Champeaux làm khâm sứ Bắc-Trung Kỳ từ 30-8-1883 đến 29-01-1884. Xem danh sách Gouverneurs et résidents généraux của Pháp từ 1861-1908 trong Philippe Devillers. Franҫais et Annamites – Partenaires ou ennemis? 1856-1902 tr. 480-481. Khi toàn quyền Harmand đến nhậm chức ông ta cũng được lệnh phải dụ hàng Lưu Vĩnh Phúc nhưng tên ông này thì Trung Hoa dịch là Cáp Nhĩ Môn Thoát (哈爾門脫).

[19] Lưu Bá Khuê (劉伯奎): Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Sử (中法越南交涉史) (1980) tr. 21-22.

[20] Theo Đại Nam Thực Lục, quyển 70, đệ Tứ kỷ thì Lưu Vĩnh Phúc được phong Nghĩa Lương Nam vào tháng Sáu năm Quí Mùi (Tự Đức 36, 1883). Việc dụ hàng do đó phải xảy ra sau ngày này.

[21] Cước chú trong Sơn Tây tỉnh địa chí: « Soldats et marins ! Les forts de Phù-xa et la citadelle de Sơn-tây sont désormals illustrés par votre vaillance. Vous avez combattu. Vous avez vaincu un ennemi redoutable. Vous avez montré une fois de plus an monde entier que la France peut toujours compter sur ses enfants. Soyez fiers de vos succès. Ils assurent la pacification du Tonkin.» (tr. 21)

[22] Toàn bộ quyển sách bao gồm 61 tờ, in một mặt theo lối gập ở giữa là cách in đời xưa, có chừa một khoảng trống giữa hai trang mà người ta gọi là thư khẩu (書口) giữa nửa bên phải (a) và nửa bên trái (b).

[23] Bản văn này trích trong Lưu Vĩnh Phúc binh thư (劉永福兵書) từ trang 13a-14a và cũng xuất hiện trong Trung Pháp Việt Nam giao thiệp sử (中法越南交涉史) của Lưu Bá Khuê (劉伯奎) (Đài Loan: Học Sinh thư cục, 1980) tr. 22-23. H. B. Morse, tập II có bản dịch ở Phụ Lục Appendix E tr. 474-475. Đối chiếu bản trong Lưu Vĩnh Phúc binh thư và trong Trung Pháp Việt Nam giao thiệp sử có một số chữ khác nhau nhưng ý nghĩa không có gì thay đổi.

[24] Thực ra là quân Việt Nam của Hoàng Tá Viêm.

[25] Thượng Thư: Trời không thân với ai, ai có đức thì trời giúp. Lòng dân không nhất định, ai cho ơn huệ thì ghi nhớ thôi (尚書:皇天無親,唯德是輔。民心無常,惟惠之懷。)

[26] Lão Tử: Việc dùng binh là điều chẳng lành (夫佳兵者,不祥之器)

[27] Trường xà là con rắn lớn ở sông hồ tức con thuồng luồng (Sơn Hải Kinh)

[28] Con heo lớn, chỉ kẻ tham lam vô đạo.

[29] Chính trị và giáo hoá. Chính trị là cai trị dân, giáo hoá là dạy dỗ dân.

[30] Biện Khổn đời Tấn đánh với Tô Tuấn bị giết chết. Về sau khi mộ bị đào lên thì xác vẫn còn nguyên, mặt công phẫn, tay nắm chặt, móng tay mọc ra xuyên qua bàn tay nên có tích “ác quyền thấu chưởng” (握拳透掌).

[31] Quân Cờ Đen theo chính sách ngụ binh ư nông, quân lính canh tác lấy mà sống.

[32] Đầu hàng hay bị giết

[33] Khoa Liệt, Hạ Văn có thể là phiên âm tên người Pháp.

[34] 馬首是瞻 (Thành ngữ) Chỉ biết sống chết đi theo chủ tướng.