VỀ QUÊ ĂN TẾT

Nguyễn Năng Tín

(Nguồn: Giai Phẩm Xuân Canh Tý 2020 – Petrus Ký 1966-73 http://veque.com.free.fr/)

Những ngày sắp Tết, nhiều người bắt đầu rời thành phố trở về quê nhà ăn Tết và đoàn tụ với gia đình. Làn sóng về quê đông dần cho đến sát ngày Tết. Các bến xe, nhà ga xe lửa, sân bay mấy ngày này trở nên quá tải. Nhìn làn sóng này, tôi thường nhớ lại những ngày tuổi thơ thời thập niên 60 đã từng về quê ăn Tết với những kỷ niệm và ấn tượng khó quên.

Tôi sinh ra ở Sài Gòn nhưng ba má tôi gốc từ Long Xuyên, kết hôn và lập nghiệp trên đất Sài thành. Gia đình chúng tôi có 6 anh chị em, thời đó cũng là bình thường vì truyền thống ông bà xưa là sinh sản tự nhiên, trời sinh voi thì sinh cỏ. Hồi xưa má tôi gần như mỗi năm sinh thêm 1 đứa nên ông anh cả chỉ lớn hơn đứa em út có 7 tuổi. Tết đến cả nhà 8 người lớn bé cùng chất lên chiếc xe Peugeot 203 nhỏ xíu về quê ăn Tết cùng với ông bà. Ba tôi lái xe, đứa bé nhất ngồi trong lòng má tôi trên hàng ghế trước, 5 đứa còn lại nhét hết vào hàng ghế sau, nhích lên nhích xuống cũng vừa lọt.

Từ Sài Gòn đi Long Xuyên khoảng 200 cây số, mất ít nhất khoảng 5 tiếng. Đầu tiên phải qua 2 cây cầu dài qua 2 nhánh sông Vàm Cỏ là Bến Lức và Tân An. Thời trước cầu hẹp nên chỉ chạy 1 chiều và nhiều lúc phải chờ đến chiều mới được qua cầu. Sau đó còn qua 2 cái phà hồi xưa gọi là qua bắc : bắc Mỹ Thuận qua sông Tiền Giang, và bắc Vàm Cống qua sông Hậu Giang. Mùa Tết nhiều xe nên thường phải chờ qua phà và qua cầu khá lâu.

Trong các chuyến về quê, nơi thích nhất mỗi lần đi qua là các bến phà. Do xe phải dừng chờ qua phà nên các bến phà là nơi buôn bán rất sầm uất. Nơi đây bán đủ loại thức ăn hấp dẫn từ trái cây, các loại bánh của miền Tây như bánh tráng, bánh bò, bánh ít, bánh tét, nem… nhưng ấn tượng nhất với tôi là các cửa hàng nướng thịt bốc mùi thơm phức, đặc biệt là mấy con chim nướng mập tròn ăn với bánh mì nóng dòn nhìn thèm không chịu nổi. Rỉ tai má tôi mua ăn nhưng má tôi không chịu vì đám hạm đội đang lớn ăn dữ quá, nếu mua chắc bị thâm thủng ngân sách. Khi xe đã lên phà, tôi thích ra khỏi xe tìm chổ ngồi trên phà, vừa được hưởng làn gió sông mát mẻ lại được xem các sinh hoạt trên phà.

Về quê ăn Tết, điều thích nhất là được ăn uống thoải mái. Trái cây có sẵn trong vườn của ông bà, chỉ cần xách lồng đi hái, còn nước uống ưa thích là nước dừa và nước mía. Dừa và mía trồng trong vườn nên lúc nào cũng có sẵn ở nhà nhưng phải biết chặt dừa và róc mía mới ăn được. Thức ăn ngày Tết thì rất nhiều thứ đã chuẩn bị sẵn từ nhiều ngày trước, từ các món mặn đến các loại bánh mứt phần lớn do bà làm cùng mấy đứa cháu ở quê.

Ở nhà đông con nên ba má tôi luôn bắt tất cả các con phải theo khuôn phép, ăn uống chia phần ra cho từng đứa. Hồi xưa đi chợ ngày nào nấu ăn ngày đó, không có nhiều thịt cá, thường nấu mặn vừa ăn được nhiều cơm mà ăn không hết có thể để dành không bị hư thiu. Thời đó chưa có tủ lạnh, nhà nào cũng có một tủ gạc-măng-giê để chứa thức ăn, vách cửa lưới và chân rộng nước để kiến không vào được. Đến thế hệ con tôi bây giờ không biết gì về loại tủ trữ thức ăn này nữa. Mấy ngày Tết ở quê là được ăn uống thả giàn,thích gì ăn nấy không bị ai rầy la.

Mấy ngày Tết còn cái thú nữa là được đánh bài và chơi bầu cua cá cọp. Hồi nhỏ mặc dù đông anh em nhưng chơi bài hay bầu cua vẫn chưa đủ tay vì mấy đứa em nhỏ chưa biết chơi. Về quê sáng mùng 1 có tiền lì xì là có ngay mấy đám bầu cua của mấy người trong xóm và con nít xúm ra chơi. Không có nhiều tiền nên tôi đứng xem nhiều hơn chơi, không khí thật là náo nhiệt. Chơi vài ván ở đám này rồi nhảy qua đám khác chơi vài ván, thường cuối cùng không ăn thua nhiều vì ham vui là chính chứ thiếu máu cờ bạc. Đánh bài thì chủ yếu chỉ chơi trong nhà khi có khách thân với gia đình có con cùng trang lứa. Hồi đó vụ bài bạc này chỉ diễn ra trong 3 ngày Tết trong xóm ở quê.

Một thú vui khác là đốt pháo mấy ngày Tết. Ở quê không đốt pháo nhiều và dài như ở Sài Gòn, thành phố có nhiều nhà buôn bán lớn hoặc trụ sở các công ty hãng xưởng có tiền đốt nhiều pháo.

Thường mỗi nhà ở quê chỉ đốt 1 phong pháo 100 viên, nếu pháo tốt sẽ nổ gần hết còn không tốt sẽ còn nhiều pháo lép không nổ. Đám con nít thường đứng xem và chờ pháo nổ xong sẽ nhảy vào lượm mấy viên pháo chưa nổ rơi xuống đất. Pháo phải mua nhiều tiền nên ở quê tôi có một số người chơi nổ trong ống tre gọi là đốt ống lói. Ống lói là khúc tre già lớn dài khoảng 1 mét, có khoét 1 lỗ để châm nổ. Chất nổ là khí đá (đất đèn) dùng để giú trái cây, cho vào ít nước rồi lắc lắc để cho ra khí đốt. Khi châm lửa phát ra tiếng nổ lớn và vang như súng nghe rất ấn tượng. Nổ xong lại đổ vào ít nước và lắc lắc cho có khí là có thễ nổ tiếp.

Ông tôi mất năm 1967, Tết Mậu Thân 1968 cả nhà cũng về quê ăn Tết cùng với bà. Tết này đốt pháo nhiều hơn mọi năm rồi biến cố chiến tranh nổ ra khắp miền Nam. Những con đường liên tỉnh đều bị gián đoạn, gia đình tôi bị kẹt lại ở Long Xuyên một thời gian dài không nhớ chính xác là bao lâu. Các trường học cũng đóng cửa dài ngày nên khi lên được Sài Gòn, hình như vẫn không bị trễ lớp học ở trường Petrus Ký.

Năm 1968 là năm cuối cùng cả nhà tôi về quê ăn Tết. Sau đó thỉnh thoảng có về quê nhưng không đi chung cả nhà vào dịp Tết nữa. Sau năm 1975, đường xá xe cộ đi lại khó khăn hơn nên càng ít khi về quê hơn.

Bây giờ sau nhiều năm trưởng thành đi làm việc ở nhiều nơi trong và ngoài nước, về quê ăn Tết đối với tôi vẫn luôn là những ký ức đẹp của thời tuổi thơ không thể nào quên.

Tháng 01/2020

Nguyễn Năng Tín