Trường ca “Hội trùng dương”
Vưu Văn Tâm
“Âm nhạc Phạm Đình Chương bát ngát sức trai, nồng nàn hương sắc của núi rừng đồng nội. Căn cứ vào những ca khúc đầu tiên của ông ‘Leo rừng’, ‘Được mùa’, ‘Tiếng dân chài’ hay ‘Ra đi khi trời vừa sáng’, người ta cảm nhận một sức sống rạt rào, nao nức. Cái nao nức của một cuộc lên đường, một bước vào đời có gian lao vất vả nhưng cũng phơi phới tin yêu. Có một vẻ gì đó giống như một thách thức hào hứng.
Nếu chúng ta, ai có dịp nghe Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) hát một lần, trong một quán rượu về khuya hay hát một mình với ly rượu trong tay và bằng cái giọng một nửa tưởng chừng bị cháy vì khói thuốc, nửa kia được dập tắt bằng rượu mới thấy được hết cái hay của giọng hát Hoài Bắc. Ông không chỉ là nhạc sĩ, ông còn là một ca sĩ nữa”
(Nguyễn Đình Toàn)
“Phạm Đình Chương, người nhạc sĩ tài hoa đã làm phong phú cho gia tài âm nhạc Việt-Nam. So với một số các nhạc sĩ nổi tiếng khác, số lượng sáng tác của ông không nhiều lắm nhưng có rất nhiều ca khúc đã đi vào cõi bất tử. Nhạc của ông sẽ có tuổi thọ hơn ông nhiều lần. Những ca khúc quen thuộc của ông đã trở thành một phần trong đời sống hàng ngày của người Việt-Nam”
(Nguyễn Mạnh Trinh)
“Bộ bốn dĩa nhạc ‘Phạm Đình Chương – Tình khúc tiêu biểu’ là một công trình thu thanh, khởi đầu thực hiện từ năm 2012 và hoàn tất vào năm 2015. Tôi quyết định bắt tay vào việc này vì trước đó tôi có phát hành một cuốn tập nhạc mang tên ‘Phạm Đình Chương – Toàn bộ sáng tác’ . Mục đích thực hiện tác phẩm này là để có được một cuốn tập nhạc với đầy đủ các tác phẩm Phạm Đình Chương, nội dung chính xác của tác giả và theo tiêu chuẩn in ấn sách nhạc của Hoa-Kỳ”
(Phạm Thành, trưởng nam nhạc sĩ Phạm Đình Chương)
*****
1. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (1929-1991) sinh ra ở Hà-Nội trong gia đình có truyền thống văn nghệ. Ông là em trai của kịch sĩ Phạm Đình Sĩ (thân phụ ca sĩ Mai Hương), kịch sĩ Phạm Đình Viêm (ca sĩ Hoài Trung), ca sĩ Thái Hằng và là anh của ca sĩ Thái Thanh. Ở tuổi thiếu niên, Phạm Đình Chương được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Trong những năm đầu kháng chiến, ông cùng các anh chị em gia nhập ban văn nghệ quân đội ở Liên Khu IV. Năm 1951, ông trở về thành và cùng các anh chị em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng lập ban hợp ca Thăng Long rồi chuyển vào miền Nam sinh sống vào năm 1953.

Sáng tác đầu tiên “Ra đi khi trời vừa sáng” và “Hò leo núi” mang không khí hào hùng, tươi trẻ. Bên cạnh những nhạc phẩm vui tươi đón mừng ngày mới như “Ly rượu mừng”, “Đón xuân”, “Ngựa phi đường xa”, v.v… là những bài ca mang tâm trạng hoài hương như “Khúc giao duyên”, “Được mùa”, “Tiếng dân chài”, “Xóm đêm”. Khi cuộc sống hôn nhân lâm vào ngả rẽ, ông sáng tác ít hơn và chỉ là những bản tình ca mang nỗi bất hạnh như “Đêm cuối cùng”, “Thuở ban đầu”, “Người đi qua đời tôi”, “Nửa hồn thương đau”. Bản trường ca “Hội trùng dương” là tâm sự của ba dòng sông (sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long) đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam của quê hương Việt-Nam yêu dấu.


Đất nước lâm lụy, ông vượt biển đến Mã-Lai-Á rồi được định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1979. Nơi miền đất mới, ông tiếp tục sáng tác và đi trình diễn khắp nơi cho đến khi qua đời vì bạo bệnh.


2. Bản trường ca “Hội trùng dương”



Hội trùng dương là bản trường ca được sáng tác trong 4 năm trời và được nhà xuất bản An Phú phát hành ngày 29 tháng 7 năm 1954, vài ngày sau khi hiệp định Genève chia cắt cắt đất nước nước ở vĩ tuyến 17 được ký kết.
Tuy mang âm hưởng dân ca nhưng bản trường ca được sáng tác trên nền nhạc Tây phương. “Hội trùng dương” gồm một đoạn mở đầu và ba phiên khúc, mỗi phiên khúc đại diện cho tâm sự của mỗi dòng sông ở ba miền đất nước. Hồng Hà ở miền Bắc, Hương Giang ở miền Trung và Cửu Long Giang chảy qua vùng châu thổ trù phú của miền Nam Việt-Nam. Phương pháp “nhân cách hóa” cho mỗi dòng sông là tiếng lòng của ba thiếu nữ và cũng là nỗi niềm của người dân ba miền trước cuộc sống mưu sinh vất vả trên miền quê hương điêu tàn vì chinh chiến cũng như thiên tai.
Phần dạo đầu của bản trường ca là lời tâm sự của trùng dương với muôn ngàn con sóng. Dòng nhạc chậm rãi như đưa từng con nước, từng khúc sông trôi xuôi ra biển lớn. Và ba con sông lớn trên mảnh đất hình chữ “S” sau khi chảy qua bao núi đồi, ghềnh thác cũng xôn xao hội tụ về nơi miền biển Đông bát ngát ..
“Trùng dương chốn đây ngàn phương
Có ba dòng sông cuốn xuôi biển Đông nhắc câu chờ mong
Về khơi, sóng muôn triền tới
Nước non buồn vui
Đây hội trùng dương đầy vơi”
* Tiếng sông Hồng
Từ miền thượng du, nước sông Hồng trôi về miền châu thổ và bồi đắp cho ruộng đồng được xanh tốt. Người dân nơi này vốn dĩ cần lao, chung thủy với đất quê và gắng sức tạo dựng một cuộc sống tươi đẹp ..
“Vẩn vơ nắng quái vương trên phù sa
Có những cô thôn mờ xa đón bầy dân đánh cá Ngày qua trai gái sống vui một miền
Quanh năm anh cuốc, em liềm vun xới ruộng mùa lúa chiêm”
Nước sông thượng nguồn từ Lào-Cai, chảy qua Việt-Trì, Sơn-Tây và dẫn ra vùng quê biển Thái-Bình. Gọi tên những miền đất thân yêu mới hiểu được công khó của tiền nhân đã góp sức gìn giữ để đất trời, sông núi này còn mãi cùng năm tháng ..
“Gối đầu trên Lào-Cai, Việt-Trì
Em nằm tóc xõa bãi cát dài
Thả hồn mơ tới Thái Bình qua Sơn Tây
Nhớ ngày nao dân chúng lên đường
Đem thịt xương ngăn giữ nương đồng
Đem vinh quang thắm tô sông Hồng”
** Tiếng sông Hương
Nếu làn điệu “Hò dô ta” sôi nổi được ít nhiều sáng tạo trong “Tiếng sông Hồng” thì nơi miền đất Thần Kinh, điệu “Hò mái đẩy” được diễn tả chầm chậm như muốn kể lể cuộc sống người dân khó nhọc trên miền đất khô cằn sỏi đá, hết thiên tai đến chiến cuộc đã gây ra bao thảm cảnh khổ nghèo ..
“Quê hương em nghèo lắm ai ơi
Mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn
Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm
Khiến đau thương thấm tràn ngập Thuận-An”
Ai nấy cũng cố gắng làm lụng, chịu đựng và mơ ước một ngày bình yên sẽ sớm về lại trên mảnh đất đất đã mang nhiều tang thương. Giây phút đoàn viên được đánh đổi qua nhiều thế hệ giữa nỗi ngậm ngùi và niềm hân hoan hoan ..
“Bao giờ máu xương hết tuôn tràn
Quê miền Trung thôi kiếp điêu tàn
Cho em vang khúc ca nồng nàn
Ngày vui, tan đao binh
Mẹ bồng con sơ sinh
Chiều đầu xóm xôn xao đón người trường chinh
Ngậm ngùi hân hoan tiếng cười đoàn viên”
*** Tiếng Cửu-Long (Tiếng sông Cửu-Long)
Vô miền Nam gặp được mảnh đất phù sa màu mỡ nên nét nhạc được cởi mở và khỏe khoắn hơn để ca tụng sự sung túc mà thiên nhiên đã ban tặng cho miền châu thổ này. Phiên khúc này nổi bật với hai câu hò theo điệu “Hát ru con” ở miền Nam ..
“Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp em”
Sông nước mênh mang, cá lội ngù ngờ. Những cánh đồng xanh tổt ở Vĩnh-Long, Cần-Thơ hay Long-Xuyên hứa hẹn một mùa vàng bội thu. Cuộc sống người dân được ấm no, lúa thóc đầy bồ và trời Nam trào dâng mạch sống ..
“Một sáng em ra khơi Vĩnh-Long vui cười
Và Cần-Thơ, Long-Xuyên lừng hương cau lúa chín
Đời vươn lên thuyền ghé bến
Sống no nê dân quê một miền”
Dẫu trải qua bao ngăn cách bởi địa lý và chinh chiến dai dẳng nhưng biển khơi muôn trùng vẫn ấp ôm ba dòng sông như từ muôn thuở. Ba chị em dù ở ba miền nhưng tình thương được nối liền từ một ngôn ngữ, từ ý chí vun đắp cho đất này được trường tồn và vinh quang mãi với thời gian ..
“Ba chị em là ba miền
Nhưng tình thương vẫn nối liền
Gặp nhau bên trời biển Đông thắm duyên
Hẹn nhau, pha hòa sóng lan bốn phương trời
Vang dội tiếng tranh đấu bao người
Cho quê hương ấm no muôn đời”
TV, 22.09.2026

