Sài Gòn – Gia Định qua mấy vần Ca Dao

BS Phan Giang Sang

Lịch sử đất Sài Gòn  Gia Định

Sai gon Gia dinh 01

Vùng đất Sài Gòn – Gia Định có được là nhờ công lao của ba vị chúa nhà Nguyễn là:

  • Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (阮福瀕)
  • Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (阮福溱)
  • Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (阮福淍)

Vì muốn gây thực lực hùng mạnh hầu chống chọi với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, năm 1620, để tạo mối giao hảo với Chân Lập, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (阮福源)gả con gái của mình là Công Nữ Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (阮福玉萬), cho vua Chân Lạp là Chey-Chetta II (trị vì từ 1618-1628), vào năm 1621, và Công Nữ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa (阮福玉姱), cho vua Champa là Poromé (1627-1651), vào năm 1631. Với tài khôn khéo của Công Nữ Ngọc Vạn, Vua Chey-Chetta II nhượng cho Việt Nam khu dinh điền vùng Mô Xoài để canh tác vào năm 1623. Cùng năm đó, Chúa xin mở trạm thâu thuế người Việt vùng Prey Nokor và Kas Kokey tức Sài Gòn Gia Định bây giờ. Từ đó, các Chúa Nguyễn mở bàn đạp lấn chiếm cả vùng Nam Bộ. Vùng đất Nam Bộ lúc bấy giờ thường hay ngập lụt nên gọi là Thủy Chân Lạp (Le Chan-la des eaux du Basse Cochinchine). Thật ra, trước đây vùng đất nầy của nước Phù Nam bị Lục Chân Lạp (Le Chan-la des montagnes ou Cambodge) chiếm vào thế kỷ thứ VI.

Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên thì vào tháng 2 năm Mậu Dần (1698), Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu phong Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất, cử vào kinh lược xứ Đồng Nai.

Theo đường biển, thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai đến ở tại Cù lao Phố, là một cảng sầm uất nhất miền Nam bấy giờ. Ở đây, Nguyễn Hữu Cảnh đã ra sức ổn định dân tình, hoạch định cương giới xóm làng. Lúc đó Miền Nam chia thành ba dinh lớn:

  1. Trấn Biên dinh (Biên Hòa) có nghĩa là biên thùy
  2. Phiên Trấn dinh (Gia Định)
  3. long Hồ dinh (Vĩnh Long)

Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Đồng Nai lập thành huyện Phước Long, vùng Sài Gòn thành huyện Tân Bình. Hai huyện nầy được đặt dưới quyền của Gia Định thành. Theo cuốn Sai Gòn Năm Xưa (1960) của Vương Hồng Sển, thì người Chân Lạp gọi là Sài Gòn, còn người Hoa thì gọi là Sài Còn. Tên Sài gòn là tên của người Chân Lạp. Về chính trị, mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để quản trị. Nha thuộc có 2 ty là Xá sai ty (coi việc văn án, từ tụng, dưới quyền quan Ký lục) và Lại ty (coi việc tài chính, do quan Cai bộ đứng đầu). Quân binh thì chia ra cơ, đội, thuyền, thủy bộ tinh binh và thuộc binh để hộ vệ. Ông cho mở rộng, khai khẩn đất đai, cho chiêu mộ lưu dân từ Bố Chánh châu trở vô đến đây lập nghiệp. Ông ra đặt ra phường, ấp, xã, thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chia ruộng đất, chuẩn định thuế đinh, điền và lập bộ tịch đinh điền. Con cháu người Hoa ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch.

Năm 1679, dưới đời nhà Thanh, Khang Hy năm thứ 18, các di thần nhà Minh gồm Tổng binh Long Môn Dương Ngạn Ðịch, Phó tướng Hoàng Tiến, và Tổng Binh các phủ Cao, Lôi, Liêm là Trần Thượng Xuyên, Phó tướng Trần An Bình vì không phục nhà Mãn Thanh, đem tùy tùng và gia quyến, trên ba ngàn người trên 50 chiến thuyền chạy sang Việt Nam đầu Chúa Nguyễn. Chúa Hiền chấp thuận cho ở lại và cho giữ nguyên chức tước rồi sai hai tướng Văn Trình và Văn Chiêu đưa những quan quân Minh vào Nam và mang quốc thư của Chúa Hiền yêu cầu vua Chân Lạp đối xử tử tế và cấp đất cho họ khai khẩn. Dương Ngạn Ðịch và tùy tùng được đưa định cư ở Mỹ Tho còn Trần Thượng Xuyên và tùy tùng thì đươc về sống ở vùng Đồng Nai –  đươc đọc trại ra là ‘Nồng Nại’. Nhưng đến năm 1778, một nhóm ở Biên Hòa chạy xuống chiếm vùng Chợ lớn làm ăn buôn bán cho tới ngày nay.

Những người Minh Hương định cư ở vùng đất mới này đã giúp Chúa Nguyễn khai hoang khẩn đất, mở mang lãnh thổ, xây dựng làng xã, lập chợ, xây dựng phố  phường, buôn bán tấp nập. Những nơi như Gia Ðịnh, Biên Hòa, Thủ Ðức, Cần Thơ không mấy chốc trở nên sầm uất vô cùng. Triều đình Chúa Nguyễn lại được thêm thêm đất, thêm dân và thu thêm thuế.

Tuy là lưu dân Việt được vua Chân Lạp Chey Chatta II cho phép vào vùng đất Mô Xoài sinh sống vào năm 1623, nhưng mãi đến 1658 mới được phép làm chủ các vùng đất đã được khai hoang ở Prei Nokor, Đồng Nai và Mô Xoài. Vì sự bất ổn chính trị ở Chân Lạp, mỗi lần tranh giành ngôi vua hoặc có biến là các Hoàng thân Chân Lạp sang cầu cứu với Chúa Nguyễn. Và lần nào cũng vậy, vua Chân Lạp lại cắt đất để đền ơn. Sau 100 năm, kể từ năm 1658 cho đến năm 1759, vùng đất Thủy Chân Lạp (Vùng Đồng Nai, Cửu Long) hoàn toàn thuộc vào Đại Việt.

Năm 1775, Chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại đất Sài Côn, tức Gia Định Thành, ông cho xây Thành Gia Định theo kiểu Tây Âu lại có hình bát giác, hình giống như con rùa, để chống nhà Tây Sơn. Việc xây cất rất công phu, nhiều dân công từ miền Bắc được tuyển vào Nam để xây thành cho nên mới có câu:

Dân Bắc
Đắp thành Nam
nong đã là Đông
Sầu Tây vòi vọi!

Trai tráng rời quê, đi xa lập nghiệp là chuyện thường tình. Trong tâm tưởng của họ Bắc, Trung, Nam đâu đâu cũng là nhà. Tha hương lập nghiệp, chịu đựng gian khổ để chứng tỏ chí khí và bản lĩnh của kẻ mày râu:

Làm trai cho đáng nên trai,
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng.

Thành phố Sài Gòn

Sau khi thống nhất sơn hà, vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802 và chia nước ta thành ba phần để cai trị: Bắc Thành, Trung Thành (Huế) và Gia Định Thành. Nhưng đến năm 1859, dưới đời Vua Tự Đức, Pháp đem quân và chiến thuyền đánh chiếm Gia Định Thành. Sau khi thành Gia Định thất thủ, Pháp chiếm trọn Miền Nam và xây một hải cảng bên bờ sông Sài Gòn vào năm 1860 để giao thương buôn bán, giao lưu văn hóa với Tây Phương. Hải cảng tên là Cảng Nhà Rồng, là hải cảng quốc tế đầu tiên tại Nam Bộ. Từ đó, các thương thuyền tứ xứ lui tới buôn bán rất tấp nập và nhộn nhịp.

Từ từ các dinh thự, công sở được xây cất để phục vụ cho chính phủ đô hộ. Các dinh thự được xây theo kiến trúc Tây Âu nhưng có chút văn hóa địa phương như Nhà Hát Tây, Tòa Đô Chính, Bưu Điện, Tòa Án, dinh Toàn quyền, thương xá Tax, Charner xây năm 1880, Chợ Bến Thành năm 1914 vân vân…Nhờ đó mà Sài Gòn trở nên một thành phố rất xinh đẹp với một nét đặt thù kết tụ từ tinh hoa của hai nền văn hóa Đông, Tây nên nhiều người ngoại quốc đến thăm Sài Gòn đều yêu mến và tặng cho danh hiệu là Hòn Ngọc Viễn Đông..Sài Gòn xưa phồn vinh đông đúc, phố xá khang trang, lại có cây xanh bóng mát hai bên vệ đường, xinh tươi như cô gái đang ở độ xuân thì, duyên dáng, mỹ miều dễ mến.

Sai gon Gia dinh 03
Tòa Đô Chính Sài Gòn trong thời Pháp thuộc

Ngày nay, Sài Gòn mất đi cái đẹp duyên dáng mỹ miều của thuở xa xưa, thành phố bây giờ chật chội với những cao ốc sừng sững khô khan. Những tàn cây cổ thụ để che mát, những vườn cây lá xanh tươi – lá phổi của đô thành để hút thán khí, nay đã biến mất gần hết, và thay vào đó là các nhà chọc trời, đường phố bụi bậm ô nhiễm, không khí lại ẩm ướt, ngột ngạt khó thở, tiếng xe cội inh ỏi suốt ngày

Thương Xá Tax, trước kia là Charner năm 1880, một công trình đồ sộ cổ kính nhứt thành phố Sài Gòn để bán đồ quí đã tồn tại hơn 130 năm qua, nay cũng không còn. Thương Xá Tax là một biểu tượng lịch sử, một đặc trưng văn hóa của người dân Sài Gòn nói chung và Miền Nam nói riêng đã biến mất hoàn toàn.  Nơi đây được xây thành trạm đường hầm xe tram nối lền với trung tâm giải trí nào đó, làm mất đi mỹ cảnh thanh lịch của Đô Thành, mất đi dấu ấn của Sài gòn, hòn ngọc Viễn Đông!

Sai gon Gia dinh 02
Thương xá Tax năm xưa, ngày nay không còn nữa (Ảnh trước năm 1975)

Bến Sông Sài Gòn

Bến sông Sài gòn, một thời nơi mà chiều chiều nam thanh nữ tú dạo chơi hóng mát, nay cũng trở nên xa lạ. Nó đã mất đi cái nên thơ của con đò Thủ Thiêm, người qua kẻ lại nườm nượp ngày đêm, nhứt là vào giờ đi làm và tan sở. Ngày nay, hình bóng cũ của con đò không còn nữa, nhưng nó vẫn còn mãi trong văn chương của người dân Sài Gòn để có thể tìm lại cái thơ trong tâm tưởng:

Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thêm?

Thật đáng buồn cho những ai đã từng đến đây để hẹn hò, tình tự, thề non, hẹn biển với trăm lời hoa mỹ với người trong mộng, muốn trở về nhìn lại những kỷ niệm ngày xưa, nhưng hình bóng cũ đến nay đã xa xăm, con đò Thủ Thiêm đầy những kỷ niệm ngày xưa bây giờ chỉ còn là dĩ vãng:

Ngày đi trăm hoa hẹn hò,
Ngày về vắng bóng con đò Thủ Thêm!

Sông Sài gòn.

Sông Sài Gòn ngày xưa là nơi buôn bán phồn vinh, ghe tàu các nước tấp nập tới lui rất náo nhiệt. Sự tấp nập, phồn thịnh, kẻ bán, người mua đến từ tứ xứ được ghi lại qua những câu ca dao:

Xứ đâu thị tứ bằng xứ Sài gòn,
Dưới sông tàu chạy trên bờ ngựa xe.

….

Dưới sông tàu lửa đậu liền,
Từ đồn Gia Khẩu sắp lên Nhà Bè
Vó Tu Đông Việt, có ghe Bắc Kỳ.
Mười giờ tàu lại Bến Thành
Xúp lê vội thổi bộ hành lao xao.
Trên sông Sài Gòn xưa

Tàu bè, thuyền buôn các nơi muốn ghé bến Sài gòn phải vào cửa biển Cần Giờ, tới Sòi Rạp, Lòng Tàu rồi đi dọc theo sông Nhà Bè tẻ vào sông Sài gòn sau khi qua khỏi Phú Thuận để lên Gia Định.  Sông Gài Gòn dài 256 km, lại phát nguồn từ Hớn Quản tỉnh Bình Phước, qua Dầu Tiếng Tây Ninh rồi Bình Dương mới tới Sài gòn. Đoạn sông Sài gòn dài 80km xưa kia có tên là sông Bến Nghé, hay bến trâu, vì trâu tụ nơi đây. Theo Trịnh Hoài Đức thì sông rộng 142 tầm, sâu 10 tầm, khi nước lên thì cao đến 13 thước ta… Cấu trúc địa lý của sông Nhà Bè và sông Sài Gòn được diễn tả rõ ràng qua hai câu ca dao:

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về.

Sai gon Gia dinh 04
Sông Sài Gòn do Trần Văn Học vẽ năm 1815

Nói về sự sinh hoạt đầy tình tự dân tộc của người trên sông nước Sài Gòn, Gia Định thì không có gì diễn tả rõ ràng hơn:

Ai về Gia Định thì về
Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.
Hết gạo thì có Đồng Nai,
Hết củi thì có Tân Sài chở vô
Đồng Nai gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về.

Nhưng  nếu ai đó, chưa từng đến cảng Bến Nghé bao giờ, đọc những câu thơ sau đây cũng có thể tưởng tượng sự sinh hoạt nhộn nhịp của một bến cảng thương mại quốc tế với những thuyền buôn to lớn, xịt khói mịt mù, đến rồi đi:

Bán buôn vật nọ hàng kia,
Lao xao thương khách xiết vì là đông.
Chiếc qua chiếc lại đầy sông,
Mù mù khói tỏa, đùng đùng máy kêu.
Những tàu đồng dát sắt neo,
Càng nhìn tận mắt càng xiêu cả hồn.
Sợ chi nghịch thủy nghịch phong
Dầu lòng chạy ngực, dầu lòng chạy xuôi.

Cái hay của văn chương, thi ca truyền khẩu là cái gì cũng có thể nói được, cái gì lạ mắt, trái tai đều cũng có thể nói thành thơ. Qua ca dao, những sinh hoạt, sự kiện trong đời sống hàng ngày, qua thời gian cũng trở thành một cái móc lịch sử chẳng hạn như cột cờ Thủ Ngữ ở bến tàu được dựng lên để báo hiệu cho tàu bè qua lại:

Gia Tân nền tảng thuở xưa,
Ngày nay có dựng cột cờ gần bên.

(đó là cột cờ Thủ Ngữ ở bến tàu)

Bến tàu là nơi chấm dứt cuộc tình Việt, Pháp.  Chàng lên tàu về lại quê hương, nàng ở lại quê nhà để rồi se tơ, kết chỉ với người khác:

Mười giờ, ông chánh về Tây
Để cô Ba ở lại lấy thầy thông ngôn.

Nói thì nói vậy chứ người con gái đã yêu ai rồi thì dễ gì đi lấy nước khác:

Thông ngôn kề lục, bạc chục không thèm
Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tai.

Ca dao

Bến tàu cũng là nơi có cảnh biệt ly sầu não của những cặp tài tử, giai nhân. Kẻ đi người ở nó não nùng làm sao?

Tàu xúp lê một, còn thương còn nhớ
Tàu xúp lê hai, còn đợi còn chờ
Tàu xúp lê ba tàu ra biển Bắc
Tay vịn song sắt, nước mắt ròng ròng
Thương em từ thủa mẹ bồng
Bây giờ em lớn, em lấy chồng bỏ anh!

Ngày xưa trong Quốc văn giáo khoa thư có bài lính thú đời xưa nói nói về tâm trạng của người lính xa nhà “chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa”, thì ở đây tâm trạng của người vợ xa chồng cũng không kém phần đau đớn:

Anh đi lưu thú Bắc Thành
Để em ở lại như nhành cây khô.
Phụng hoàng lẻ bạn sầu tư,
Em đây lẻ bạn cũng như phụng hoàng!

Việc buôn bán

Buôn bán là sinh kế hàng ngày của người dân Sài Gòn, hàng hóa, gạo, trái cây, cá thịt từ các vùng khác chở lên Sài Gòn để tiêu thụ. Để việc buôn bán thuận tiện và dễ dàng trong việc thu mua và phân phối nông thủy sản, các thương gia có đầu óc kinh doanh thường xây dựng những vựa hàng cây trái, rau cải, thủy sản…gần sông nước và các phương tiện giao thông để có thể thu mua hàng hóa dễ dàng. Ngoài ra, những vựa hàng nông, thủy sản này cũng thường được xây gần chợ để tiện cho việc phân phối. Bến Chương Dương có chợ Chợ Cầu Muối – Cầu Ông Lãnh là nơi cập bến của thuyền bè, ghe thương hồ mang hàng hóa từ Lục tỉnh lên. Chợ Cầu Ông Lãnh cũng là nơi có các vựa hàng hoa quả từ các tỉnh chuyển về bằng xe hàng.

Nghề buôn bán đôi khá giả nhưng cũng có lúc bấp bênh, gặp chuyện không may, lỗ lã, tiền mất, tật mang v.v…

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.
Đạo nào vui cho bằng đạo đi buôn
Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông.
Anh đi ghe gạo Gò Công
Về Vàm Bao ngược gió giông đứt buồm.

Gắn liền với chợ búa, sông nước là những lao công khuân vát nghèo khổ, ốm yếu làm việc cật lực để kiếm miếng ăn ngày hai buổi. Nhìn họ mình trần, còng lưng khiên các bao hàng hóa nặng chĩu, đi loạng choạng mà thấy đau lòng. Câu ca dao sau đây là nói lên sự khó khăn của nghề khuân vác, lao động chân tay:

Đừng ham hốt bạc ghe chài
Cột còn cao, bao lúa nặng, cấm đòn dài khó đi.
Chợ Cầu Ông Lãnh ngày xưa

Tình tự

Dù giàu, dù nghèo, ở đâu có con trai, con gái là ở đó đều có yêu đương, tình tự, nhớ nhung. Văn chương bình dân mang một tình cảm mộc mạc mà đậm đà, đơn giản lại thiết tha. Lời cao dao tình tự không hào nhoáng, không quanh co, không khúc chiết, gắn liền với đời sống và tâm thức bình dị của người con trai với người yêu của mình:

Một mình vừa chống vừa chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.

…..

Bới chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khuất bóng bần bờ bụi tối tâm.

…..

Em ngồi trước mũi ghe lê
Gió xô sống dập, anh ngồi kề một bên.

….

Ghe anh đỏ mũi tráng lườn
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em.

……

Ai về Bà Điểm Hốc Môn
Hỏi thăm người ấy có còn hay không
Để tôi kiếm sợ chỉ hồng
Chờ ông tơ bà nguyệt kết vợ chồng đôi ta.

…..

Ai đem em đến Sài Thanh
Phồn hoa ai khéo dỗ dành hở em.

Nói về tấm lòng chung thủy của người con gái, thì chẳng gì sánh được. Dù nghèo dù giàu, cô sẽ chờ đợi người mình thương dù hết tháng này, năm nọ, miễn sao chàng biết thương yêu mình, đừng hành hạ mình là được:

Đèn Sài gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu.
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

Đèn nào cao cho bằng đèn sân thượng
Nghĩa nào nặng bằng nghĩa trượng phu
Anh về anh học chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu cũng chờ!

Khi đã yêu rồi thì cô con gái sợ mất người yêu. Cô sợ người yêu mình lên Sài Gòn gặp mấy cô gái tân thời, xinh đẹp ở Sài Thành cám dỗ:

Đường Sài gòn cong cong quèo quẹo
Gái Sài gòn không ghẹo mà theo.

Hay:

Gái đàng mới xem tướng không mới
Trai Bến Thành xét lại chẳng thành.

Trong cái tình cảm gắn bó đó, người con gái mất người yêu như mất một phần của cuộc sống của mình, người yêu đã xa nhưng chỗ nằm hơi thở  của chàng vẫn còn đây:

Ghe lui khỏi bến còn dằm
Người thương xa bến, chổ nằm còn đây.

Sông Sài gòn, sông bao nhiêu nước
Chợ Cũ Sài gòn, kẻ tục người thanh
Mấy ai mà đặng như anh
Người thương xa bến chổ nằm còn đây.
(Dù cho xao xuyến cũng chơn thành với em).

Khi người con gái đã yêu, thì họ luôn luôn coi người yêu là chồng, cho mình là vợ, thật đau xót biết bao, khi bị người con trai xem mình là kẻ qua đường:

Sông Sài gòn, cầu Bình Lợi
Tôi tưởng mình là chồng, tôi là vợ
Tôi chờ tôi đợi hết hơi
Không dè anh kiếm chuyện nói chơi qua đường

Người con trai hễ thấy ai đẹp là xông vào tán tán tỉnh, sau mấy lời tán hươu tán vượn, chợ Sài Gòn mới cất hay những chiếc tàu xinh xắn, chàng đi thẳng ngay vào vấn đề, hỏi thẳng cô gái đã có người thương chưa:

Này em Tám ơi! Chợ Sài gòn cất mới
Ghe tàu lui tới tứ diện rất xinh
Thấy em đẹp dáng tốt hình
Chẳng hay em có chung tình đâu chưa?

Trai Sài Thành đàng điếm, không chung tình, chuyên dụ dỗ gái quê, chàng trai dụ dỗ cô này sang cô khác để phục vụ cho mình:

Sáng nay đi chợ Gò Vấp
Anh mua một xấp vải đem về.
Cho con hai nó cắt, con ba nó may,
Con tư nó đột, con năm nó viền.
Con sáu đơm nút, con bảy vắt khuy.
Anh bước ra đi
Con tám níu, con chín trì

Nhưng rồi cũng có một cô trả thù cho bõ ghét, đến nỗi chàng phải la lên:

Ới em mười ơi!
Sao em để vậy còn gì áo anh?

Người con gái thì khác, luôn luôn là kẻ chung tình, đôi khi nàng cũng thấy thấy lòng mình xao xuyến với sự tán tỉnh của một người con trai nào đó hào hoa phong nhã. Dù sao, khi cơn xúc động đi qua, nàng vẫn luôn luôn chung thủy, vẫn nặng lòng với người mình thương:

Chợ Sài gòn cẩn đá
Chợ Rạch Giá cẩn xi măng
Dù cho xao xuyến cũng một lòng với anh.

Tình yêu trai gái đậm đà như trầu Bà Điểm, như thuốc rê Gò Vấp, khi đã thử ăn trầu và hút thuốc rê vào thì như có một cái gì ràng buộc. Thôi thì hãy ăn đời, ở kiếp với nhau:

Trầu Bà Điểm xé ra nữa lá
Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi
Buồn tình gá nghĩa mà chơi

Hay là anh quyết ở đời với em?
Và đã là vợ chồng rồi, thì anh chồng làm gì, đi đâu, thì cô vợ cũng phải đi theo, chàng say thuốc thì nàng cũng say theo chàng cho đậm đà tình nghĩa vợ chồng:

Thuốc rê chồng hút vợ say,
Thằng nhỏ mồi thuốc lăn quay chín vòng.

Có mấy ai biết được ý trung nhân của mình sau này là ai? Tình nghĩa vợ chồng là duyên, là nợ, có sự xếp đặt trước của ông Trời:

Nồi đồng lại úp vung đồng,
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai,

Nhưng khi đã thề nguyền ăn đời ở kiếp với nhau, phải luôn luôn giữ đúng lời nguyền, suốt đời chung thủy với nhau:

Bao giờ cạn lạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền

Nhưng không phải lúc nào hai người yêu nhau, rồi lấy nhau và sống đời ở kiếp với nhau. Cũng có người chung thủy mà cũng có lắm kẻ bạc tình, tham danh lợi mà quên nghĩa tào khang:

Ghe Sài gòn quay mũi
Tàu Gia Định xúp lê
Giã cô em ở lại lấy chồng
Thuyền anh ra cửa như rồng phun mây.

Ghe lui khỏi bến còn dằm
Giã em ở lại vuông tròn
Anh về Gia Định không còn tới lui.

‘Cầu Bình Điền xe lửa chạy nghiên triền
Anh gập em dưới thủy trên thuyền
Lời phân chưa cạn sao anh lại liền chia tay?’

Chợ Bến Thành đèn xanh đèn đỏ
Anh nhìn cho tỏ đèn màu.
Lấy em anh đâu kể sang giàu,
Rau dưa mắm muối, có nơi nào hơn em?

Chợ Bến Thành dời đổi
Người sao khỏi hợp tan
Xa gần nghĩa tào khang,
Chớ tham quyền thế, phủ phàng nghĩa xưa.
(Chớ ham nơi quyền quề, mà đá vàng xa nhau?)

Nhân Tài

Nhân tài ở vùng Sài Gòn Gia Định thì nhiều vô số. Trong những nhân tài đó đó có bốn danh sĩ nổi tiếng dưới đời các vua triều Nguyễn là Trịnh Hoài Đức, Võ Trường Toản, Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Định.

Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Định thành lập nhóm Gia Định Tam Thi Gia dưới thời vua Minh Mạng, để cùng nhau trao đổi, tranh luận văn chương, thi phú

Ngoài ra,  Gia Định còn có ba vị anh hùng hết lòng phò vua giúp chúa được lưu danh trong sử sách. Ba vị anh hùng này còn được gọi là Tam Hùng: Đổ Thành Nhân ở Biên Hòa, Võ Tánh ở đất Gò Công và Nguyễn Huỳnh Đức ở Tân An. Họ là những hiền tài liều thân phò Chúa Nguyễn Phúc Ánh trên đường dựng nghiệp.

Để tìm tìm hiểu kiến thức của người con trai về đất nước và con người, người con gái không ngần ngại cất tiếng hò để đố người con trai:

Hò ơ… Nghe anh lào thông* sử sách,
Em xin hỏi nhất đất Nam Trung:
Hỏi ai Gia Định Tam Hùng
Mà ai trọng nghĩa thủy chung một lòng? Hò. .. ơ..

(* lào thông: làu thông)

Lời người con trai trả lời:

‘Hò.. ơ..
Ông Tánh, ông Nhâm cùng ông Huỳmh Đức,
Ba ông hết sức phò nước một lòng
Nổi danh Gia Định** Tam hùng:
Trọn nghĩa thủy chung có ông Võ Tánh.
Tài cao, sức mạnh, trọn nghĩa quyên sinh,
Bước lên lầu bát ngát thiêu mình như không!.. Hò.. ơ..

(** vào thời đó Gia Định bao gồm luôn biên Hòa, Đồng Nai, Bình Dương và Tây Ninh).

Sài Gòn lúc bấy giờ cũng có bốn nhà giàu nổi tiếng như và được người dân xếp hạng theo thứ tự: nhất Sĩ, nhì Phưong, tam Xường và tứ Định.

  • Nhất Sĩ tức là Lê Phát Đạt làm thông ngôn tiếng Latin, học tại Penang. Tây cắt đất bán nhưng không ai mua, Tây buộc ông mua và nhờ may mắn mà làm ăn nên, trở nên khá giả. Ông xây nhà thờ gọi là nhà thờ Huyện Sĩ và cái tên “Sĩ” từ đó mà ra
  • Nhì Phương tức ông Đỗ Hữu Phương, ở Chợ Lớn.
  • Tam Xường tức Hộ Xường, tên thiệt là Lề Tường Quan, người Minh Hương, xuất thân làm nghề thông ngôn.
  • Tứ Định là Hộ Định, làm thầu phán.

Ngoài ra còn có ông Diệp văn Cương, có vợ là công chúa, con vua. Vợ chồng ông sanh ra ông Diệp văn Kỳ đậu Cử Nhân Pháp thời đó và cũng là một nhà báo Miền Nam; ông Đinh Thái Sơn v.v..

Kháng chiến

Tình yêu quê hương đất tổ là bản sắc cao quí của người Việt Nam nói chung, và của người Nam Bộ nói riêng. Truyền thống chống ngoại xâm vào bảo tồn văn hóa đã có từ  hàng ngàn năm trước. Cho nên, khi thực dân Pháp đặt nền móng cai trị nước ta, nhiều nghĩa binh nổi lên chống Pháp để mang lại nền độc lập cho quốc gia. Ngoài công việc dùng vũ lực để kháng chiến chống pháp, sử dụng văn chương không kém phần hữu hiệu. Mỗi câu ca dao là mỗi lời kêu gọi người đân đứng chiến đấu dành độc lập cho Tổ Quốc.

Bến Nghé Tàu phung khói mịch

Chợ Bến thành súng nổ vang
Cả tiếng kêu các tổng, các làng
Đứng lên đuổi bọn xâm loàn về Tây.

Hay

Binh tướng có hãy đóng sông Bến Nghé
Ai làm nên bốn phía mây đen
(Ý nói khói tàu phun đen cả bầu trời )

Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
(Thơ cụ Nguyễn Đình Chiểu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Trong những năm dài chinh chiến, nhà thơ Xuân Miên cho:

‘Bạn đã nghe An Phú Đông
Một làng nho nhỏ ven sông
Một năm chinh chiến! Ôi chinh chiến
Sông nước Sài Gòn nhuộm máu hồng’

Tài Liệu Tham Khảo

  1. http://vi.wikipedia.org/wiki/Chúa_Nguyễn
  2. http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Hữu_Cảnh/ Nguyễn Hữu Cảnh
  3. Đương Hoàng Lộc, Một số dấu ấn văn hóa của Sông Sài Gòn, Khoa Văn học và Ngôn ngữ
  4. Hòa Đa, Ca Dao Miền Nam, Nhật Báo Chiêu Dương, số ra mắt ngày 09/12/2006 trang 50
  5. Huỳnh Minh, Lược Khảo lịch sử Gia Định, Nhật Báo Chiêu Dương, số ra mắt ngày 28/9/2006 trang 50
  6. Phan An, Người Hoa ở Nam Bộ, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội
  7. Vương Hồng Sển,  Sài Gòn năm xưa, ebook, http://khotailieu.com/ebook/van-hoc/ebook-sai-gon-nam-xua-vuong-hong-sen.html
  8. Trần Gia Phụng,  Sài Gòn mãi mãi là Sài Gòn, http://vietbao.com/a83595/sai-gon-mai-mai-la-sai-gon, 27/05/2006