Những tiếng chuông chùa

Lê Văn Truyển

(Nguồn: Giai Phẩm Xuân Canh Tý 2020 – Petrus Ký 1966-73 http://veque.com.free.fr/)

Tiếng chuông chùa đã ám ảnh tôi cả một thời thơ ấu. Tiếng chuông đến với tôi từ giấc mộng và quyện vào hồn mỗi lúc chiều buông. Từ năm lên mấy nhỉ tôi đã cảm thấy trong hồn mình tiếng động u buồn đó ? Đó là tiếng của một mặt nước tĩnh, rất tĩnh, khẽ bị dao động bởi một bọt bong bóng vô hình. Đó là khoảng không gian u tịch, không tiếng động, hoàn toàn im hơi, khẽ bị chao nghiêng bởi một cơn gió rất hiền.

Lúc tôi còn bé, bé lắm, lúc ấy vẫn chưa đi học. Nhà tôi ở xế một ngôi chùa nho nhỏ, ban ngày có đi qua đi lại, tôi cũng không dám vào chùa chơi. Bên trong cái cổng bằng gỗ đã hoen màu mưa nắng, ngôi chùa lụp xụp và tối tăm nằm ẩn mình dưới tàng cây bồ đề già cỗi. Thoảng đôi khi ngồi trước hiên nhà, tôi có thấy một tiểu nhỏ ra vào, và lâu lắm, năm họa mười thì mới thấy sư trụ trì xuất hiện từ tam quan. Mỗi lần như vậy tôi lại nhìn chăm chăm vào chùa, đằng sau cái cột đen to lớn kia, ông sư ngủ nơi nào, tiểu ngủ nơi nào ? Những hôm ngày rằm mới thấy có người qua lại. Bà tôi có đi chùa mỗi rằm không tôi cũng không nhớ, bởi thuở ấy, ít khi tôi theo Bà ra chùa lễ Phật. Cho đến lúc tôi ốm, tôi còn nhớ mãi cái ngày ấy, Bà tôi bế tôi quấn trong cái chăn đơn chỉ lòi ra đúng hai con mắt, sang chùa xin thuốc. Mờ mờ trong cái gian chính điện, tôi thấy sư cụ ngồi bắt mạch cho tôi. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông rõ ràng đến thế. Hết cơn bệnh tôi không còn được Bà bế sang bên ấy nữa, nhưng từ đấy, tôi bắt đầu mon men đi nhặt đá xanh quanh cửa ra vào, và đôi khi vô thẳng chính môn để nghe sư cụ đọc kinh.

Ngôi chùa nghèo và buồn bã, mái ngói cong cong đen đúa bụi thời gian, bùi ngùi nhìn cuộc đời dĩ dả trôi ngang, như thảng ngoài những đám mây trôi trên trời cao kia, chẳng còn gì vướng bận.

Tiếng chuông chùa cũng thừa cái yên ả của buổi chiều mà buông lên, ngân dài ra tới tận đâu đâu, rồi lặng lẽ chìm khuất vào bóng đêm mới vừa ngoi lên ở chân trời. Thuở đó cái thành phố của tôi chưa có xe hơi hay xe gắn máy, chưa có những cột ăng ten trên mỗi mái nhà và rất ít máy phát thanh, nên tiếng chuông chùa buổi chiều làm bâng khuâng, làm thanh tịnh tâm hồn những người nghe. Nói làm sao được một cái không gian không định kỳ và nhạt nhẽo thế, nhưng tiếng chuông chùa đã thành một thói quen, cứ đúng giờ ấy, lúc trời chưa tờ mờ lắm, cái âm thanh ấy lại gióng lên, cảnh đã tịch mịch lại càng thêm tịch mịch.

Tiếng chuông chùa lúc ấy chỉ làm cậu bé lên năm thấy thích thích thế thôi, bởi nó êm đềm và buồn bã. Tôi còn nhớ mãi những buổi chiều vin cành dâu bên cạnh ban công, nghe tiếng chuông chiều mà buông cành dâu lúc nào không biết. Tiếng chuông chùa lúc ấy đã nghe vào là nhớ mãi, hôm nào có chuyện gì đi vắng, về nhà như thấy thiếu thiếu một cái gì !

Nhiều buổi chiều tôi thơ thẩn ra ngõ, ngồi trên cái gò đất cao cạnh ngôi chùa, nhìn lên trời cao nơi có mấy con diều lặng lờ trong gió, để chỉ chờ tiếng chuông ngân. Uumm ! rồi um… um… u …, mãi ngân ra. Tôi lờ đờ như thấy con diều đứng yên, cánh không còn kêu lật phật nữa. Nghe tiếng chuông xong tôi mới chịu về nhà. Đêm đến, Bà tôi bắt đầu niệm Phật. Bà cụ lần tràng hạt và hay khấn lầm thầm, thỉnh thoảng lại gõ khẽ vào cái chuông con. Tiếng chuông của Bà và tiếng chuông chùa trở thành những âm thánh quen thuộc lúc tôi còn bé.

Nhà tôi ở là một căn gác cho hai gia đình thuê, chúng tôi chiếm một góc lớn vì có tám người. Góc còn lại là một gia đình chỉ có hai mẹ con bà bán bánh bèo, cậu con trai vừa thi xong trung học (thời ấy là giỏi lắm vì đã có thể vào học trường Sĩ Quan), buổi sáng dậy sớm giúp mẹ chuẩn bị quang gánh ra phố bán rong. Khu phố hiền lành sống với nhau, ai cũng biết ai. Tám giờ tối cả xóm đã lặng yên, phố vắng không một bóng người. Khoảng năm giờ sáng tiếng chuông công phu sớm lại vọng lên, tiếng chuông rất nhẹ nhàng, khe khẽ bay lênh đênh vào giấc ngủ. Mẹ tôi đã dậy trước đó để kịp lên Chợ Lớn Mới mua hàng. Bà bán bánh bèo nghe tiếng chuông cũng lục đục thức giấc. Ngoài đường có tiếng rao bánh giò bánh chưng nóng. Sinh hoạt khu xóm xoay quanh tiếng chuông chùa. Có một câu chuyện Bà kể ám ảnh tôi lúc bé. Chuyện ngày xưa trong một ngôi chùa nhỏ, một đêm sư trụ trì nằm mộng thấy một người đàn bà bụng mang dạ chửa đến khóc lóc vật vã với ông, xin sư cụ hôm nay đừng dóng chuông như mọi hôm. Sáng sư cụ dậy sớm sửa soạn đãnh lễ, chợt nhớ giấc mơ ông dừng lại. Tiếng khóc van nài còn rõ mồn một bên tai nên ông tự nghĩ, ừ thì để trễ một chút có sao, rồi ông đi tụng kinh mà không đánh chuông. Mãi sau có ông hàng xóm chuyên làm lái lợn, mỗi ngày ông chờ tiếng chuông để dậy làm thịt heo, chạy sang trách : hôm nay sư cụ quên thỉnh chuông nên tôi dậy trễ, con lợn nhà tôi nó đã đẻ sáng nay một bầy bốn con heo sữa, heo nái thì buôn bán làm sao ? À, hóa ra người đàn bà ấy là cô heo nái, nhờ tiếng chuông của sư trụ trì mà đẻ được đàn con rồi mới chết. Chuyện nghe có vẻ ngây ngô nhưng tôi tin lắm. Tiếng chuông chùa do đó còn là tiếng chuông đi reo rắc từ bi.

Đến rằm tháng Bảy, mùa xá tội vong linh, ngôi chùa mới bắt đầu rộn rịp, vì mỗi năm vẫn có ngày rước hội từ chùa Long Hoa ngoài phố vào. Đám rước linh đình đông đủ màu sắc làm rộn lên khu phố. Xen lẫn trong màu áo nâu sòng là những sắc vàng mã lộng lẫy, màu xanh màu tím của những người đi trẩy hội, ánh nắng chiếu làm lập lòe những sợi dây chuyền trên cổ áo các bà hay những đôi hoa tai sang trọng. Ngày hôm ấy chuông nhiều hơn và chuông liền liền những lúc đoàn đi giáp một vòng. Những lúc như thế tôi chẳng buồn nghe, tôi ngồi xem đàn kiến đi ra đi vào hay đi tìm bát cơm nguội ăn chờ cho hết hội. Rồi buổi lễ cũng qua, người ở đâu về lại đấy, trả ngôi chùa lại cho tôi với cái sắc thái nhẹ nhàng. Cánh cửa gỗ lại chỉ he hé mở ra rồi lại nhè nhẹ khép vào, lắm khi nghe rõ tiếng một trái mận bị sâu ăn rơi xuống hàng hiên.

Tôi ở đó không bao lâu thì nhà tôi dọn về Vườn Bà Lớn. Ở đây không có chùa gần nhà, mỗi bận muốn lên chùa, tôi phải dắt Bà tôi đi bộ rõ xa. Tiếng chuông chùa không còn ngân vang lên mỗi chiều như khi trước, mà chỉ là một ám ảnh, một ám ảnh rất trừu tượng qua màn sương phủ bé thơ. Tôi thấy tiếng chuông ngân, tôi thấy mùi hương ngát ngùi ngùi, và thấy cả hồn mình bay dài trong đó. Từ đó tôi chỉ còn tiếng chuông khe khẽ của Bà và những lời khấn thầm thì lúc nửa đêm. Những lời khấn càng lúc càng dài theo những biến động thời cuộc và nhất là khi trong nhà có ai bệnh tật hoặc đi thi.

Sau biến cố Mậu Thân, tôi nghe nói ngôi chùa đã cháy nhưng tôi không có dịp ghé qua. Đời sống rồi bận rộn hơn cho cậu học trò nhỏ, tôi vật vã với cuộc đời quên luôn tiếng chuông chùa của ngày xưa. Năm lớp 12 tôi trở về xóm cũ thăm lại người quen, ngôi chùa đã được cất cao lên làm Khu Học Chánh Phật Sự. Cái ngõ cũng ồn ào hơn với tiếng xe, tiếng hát ka­raoke. Ngôi chùa « của tôi» đã liệm chết lúc nào không biết. Nhìn lên cái thềm cũ, tôi vẫn thấy những viên đá xanh, sắc đến làm chảy máu tay tôi khi xưa, từng dấu chân tôi ấu thời vẫn còn trên đó. Cây bồ đề già cỗi ngày xưa đã biến mất, người ta trồng lại một cây khác, non hơn. Cây mận đã bị bứng gốc thay bằng hai chậu kiểng rõ lớn, và cái mái cong cong đen đen khi xưa bây giờ không còn nữa, thay vào đấy là chiếc mái khắc hình rồng rất xa hoa. Chùa đã cất lầu cao, rất cao.

Rồi tôi xa quê hương đem theo tiếng chuông chùa cùng khắp. Những ngày có dịp ngồi nhìn đêm xuống, trong ánh sáng mờ mờ ở chân trời, tôi lại nhớ tiếng chuông chùa ngày xưa, nhớ cả tiểng thỉnh chuông nhè nhẹ của Bà tôi trong đêm vắng. Những tiếng chuông lai láng trong hồn, vỗ vào không gian chung với gió, với tiếng trái mận rơi xuống đất, tất cả đã trở thành tiếng vọng đời mình.

Bây giờ tôi không dễ gì đến đó mỗi ngày, ngôi chùa dù sao cũng đã chết rồi. Sư trụ trì ngày xưa chắc đã viên tịch, Bà tôi nay cũng đã ra người thiên cổ, không biết Phật có còn tá túc ở đó hay không ? Nhưng chiều nay ngồi đây, tôi vẫn còn nghe như mình vừa sống lại tuổi ấu thơ, thoảng như tiếng chuông chùa vừa ngân lên đâu đó quanh tôi.

Lê Văn Truyển

Viết cuối năm 1977 khi nhận được thư báo tin Bà tôi đã mất.