Nhung nam cai tao da cai tao duoc gi – Nguyen Viet Hung

Sáng nay tôi đến phòng xét nghiệm hơi sớm.

Cửa chưa mở. Ngồi chờ trong xe, chẳng hiểu sao tôi chợt nghĩ đến một buổi sáng cách đây hơn nửa thế kỷ.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Một cuộc chiến kết thúc.

Đáng lẽ đó phải là lúc một đất nước bắt đầu công việc khó khăn nhất sau chiến tranh:

thu nhặt lại con người. Nhưng những người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam lúc bấy giờ đã chọn một con đường rất khác.

Sau ngày miền Nam sụp đổ, rất nhiều quân nhân, sĩ quan, viên chức và những người từng phục vụ chính quyền Việt Nam Cộng hòa được gọi đi “học tập cải tạo”.

Có người được bảo mang theo lương thực ba ngày.

Có người mười ngày.

Có người một tháng.

Chắc hẳn nhiều người khi bước ra khỏi nhà hôm ấy đã nghĩ mình sẽ sớm trở về.

Nhưng có những cuộc chia tay kéo dài năm năm, mười năm, mười lăm năm, thậm chí lâu hơn.

Và có nhiều người không bao giờ trở lại.

****

ĐIỀU ĐÁNG NÓI LÀ CÂU CHUYỆN KHÔNG BẮT ĐẦU SAU NGÀY 30 THÁNG TƯ

Đây là chi tiết khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất. Chủ trương tập trung và “cải tạo” những thành phần thuộc chính quyền miền Nam không phải hoàn toàn nảy sinh trong sự hỗn loạn sau chiến thắng.

Theo những tài liệu sau này, ngày 18 tháng 4 năm 1975, khi chiến tranh còn chưa kết thúc, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 218-CT/TW, trong đó đã đề cập việc tập trung, quản lý, giáo dục, lao động cưỡng bách và “cải tạo lâu dài” đối với một số thành phần của phía bên kia. Nghĩa là trước khi tiếng súng cuối cùng im hẳn, cách xử lý một bộ phận những người sẽ trở thành bên chiến bại đã được tính đến. Điều đó khiến tôi phải đặt một câu hỏi:

Nếu ngay trước khi chiến tranh kết thúc, tư duy dành cho người sắp thua trận đã là phân loại, “tập trung cải tạo” và trả thù, thì cơ hội nào còn lại cho một cuộc hòa giải thực sự ngay từ ngày đầu tiên của hòa bình? Rõ ràng đây là một chính sách được chuẩn bị từ trước. Và chính sách thì lịch sử có quyền hỏi về hậu quả của nó.

****

MỘT ĐẤT NƯỚC NGHÈO LẠI ĐEM MỘT PHẦN NHÂN LỰC CỦA MÌNH CẤT SAU HÀNG RÀO KẼM GAI.

Năm 1975, Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh với một đất nước kiệt quệ.

Thiếu vốn. Thiếu máy móc. Thiếu thuốc men. Thiếu cơ sở hạ tầng. Thiếu gần như mọi thứ.

Trong hoàn cảnh ấy, tài sản quý giá nhất còn lại đáng lẽ phải là con người.

Trong những người bị đưa đi “cải tạo” có những người đã được đào tạo bài bản về y khoa, kỹ thuật, giáo dục, luật pháp, hành chính, hàng không, hàng hải, truyền tin, ngoại ngữ và quản trị.

Vậy mà đúng lúc đất nước cần từng người có kiến thức và kinh nghiệm, một phần nguồn nhân lực ấy lại bị đặt sau hàng rào kẽm gai.

Một bác sĩ bị giữ lại không chỉ là một bác sĩ mất tự do. Đó còn là những bệnh nhân ông không được chữa.

Một giáo sư mất mười năm không chỉ là mười năm của riêng ông. Đó còn là những lớp sinh viên ông không được dạy.

Một kỹ sư bị giam không chỉ là một người mất nghề. Đó còn có thể là những công trình ông không bao giờ có cơ hội xây dựng.

Nhà tù giữ một con người. Nhưng hậu quả của nó có thể giữ lại cả một phần tương lai của xã hội.

****

VÀ MỘT NGƯỜI ĐI “CẢI TẠO” KHÔNG BAO GIỜ CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI CHỊU HẬU QUẢ

Phía sau mỗi người ra đi là một gia đình. Một người cha vắng mặt mười năm nghĩa là một đứa trẻ có thể lớn lên mười năm không có cha. Một người chồng bị giữ lại nghĩa là một người vợ vừa nuôi con vừa chờ đợi, đôi khi chẳng biết ngày nào chồng mình trở về. Và khi người ấy trở về, cuộc đời không đơn giản tiếp tục từ nơi nó đã dừng lại.

Tuổi trẻ đã qua. Nghề nghiệp có thể đã mất.

Gia đình đã trải qua những năm tháng không thể lấy lại.

Có những thứ khi trả tự do cho một con người, người ta không thể trả lại cho họ nữa.

Thời gian là một trong những thứ đó.

****

NHƯNG RỐT CUỘC, HỌ ĐÃ ĐƯỢC “CẢI TẠO” THÀNH GÌ?

Đây mới là nghịch lý. Người ta gọi đó là “học tập cải tạo.”

Vậy sau năm năm, mười năm, mười lăm năm… họ có trở về và yêu chủ nghĩa xã hội hơn không?

Họ có tin tưởng chế độ hơn không? Hay khoảng cách trong lòng họ lại lớn hơn?

Khi cơ hội ra đi xuất hiện, hầu hết cựu tù cải tạo cùng gia đình đã chọn rời Việt Nam. Sau này, chương trình nhân đạo thường được gọi là H.O. đã đưa nhiều gia đình như vậy sang Hoa Kỳ.

Và ở đây xuất hiện một nghịch lý đắng chát:

Một con người bị giữ lại nhiều năm để “cải tạo”, nhưng khi được quyền lựa chọn tương lai, người ấy lại chọn rời khỏi chính xã hội mà mình vừa được “cải tạo” để hòa nhập.

Vậy những năm tháng ấy thực sự đã cải tạo được điều gì?

Người ta có thể bắt một con người lao động. Có thể bắt họ ngồi nghe một bài học.

Có thể bắt họ học thuộc những điều mà người khác muốn họ học.

Nhưng có một thứ rất khó cưỡng bức: niềm tin.

Người ta có thể bắt một con người học thuộc một bài học.

Nhưng không thể ra lệnh cho người ấy tin vào bài học đó.

****

VÀ RỒI NGUỒN NHÂN LỰC ẤY ĐI ĐÂU?

Đây có lẽ lại là một trong những nghịch lý đau đớn nhất.

Những người rời Việt Nam sau đó đến Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp và nhiều quốc gia khác.

Họ bắt đầu lại. Có người tiếp tục nghề cũ.

Có người học lại từ đầu. Có người mở doanh nghiệp.

Có người làm kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, chuyên viên.

Rồi con cái họ trưởng thành trong những xã hội mới, trở thành bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, luật sư, doanh nhân, khoa học gia…

Tuy rằng không phải tất cả đều thành công. Nhưng điều khó phủ nhận là một phần vốn con người rời khỏi Việt Nam đã tiếp tục lao động, sáng tạo và đóng góp ở những quốc gia khác.

Và điều đó tạo nên một câu hỏi đau lòng:

Nếu những con người ấy đã có thể góp phần xây dựng nước Mỹ, Canada, Úc, Pháp…, tại sao họ đã không có cơ hội dùng chính khả năng ấy để xây dựng quê hương mình?

Đất nước không chỉ mất những năm tháng họ nằm trong trại tù.

Đất nước đã mất những năm tháng sau đó của họ, và một phần năng lực của cả những thế hệ tiếp theo. Đó mới là cái giá rất khó tính thành tiền.

****

HƠN NỬA THẾ KỶ SAU, CHÍNH NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN LẠI NÓI VỀ HÒA GIẢI

Tuần này, tháng Chín năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có mặt tại New York.

Trong những thông điệp được đưa ra trong chuyến đi, người ta lại nhắc đến những điều rất đẹp: hàn gắn những vết thương của quá khứ, xây dựng lòng tin và cùng hướng tới tương lai.

Tôi thật tâm mong những điều ấy thành sự thật.

Một dân tộc không thể sống mãi bằng hận thù.

Nhưng tôi vẫn tự hỏi: Nếu năm 1975, sau khi chiến tranh kết thúc, người chiến thắng đã nhìn những người vừa thua trận trước hết như NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM, liệu hơn nửa thế kỷ sau chúng ta có phải nhọc nhằn nói nhiều đến hai chữ “hòa giải” như hôm nay?

Giả sử ngày ấy người ta nói:

“Chiến tranh đã hết. Ai bị cáo buộc phạm một tội hình sự cụ thể thì xét xử bằng pháp luật. Còn những người chỉ vì từng phục vụ chính quyền bên kia, hãy trở về với gia đình và cùng xây dựng lại đất nước.”

Việt Nam hôm nay có khác không?

Chúng ta có quyền đặt câu hỏi. Bởi có những vết thương bắt đầu trong chiến tranh.

Và cũng có những vết thương bắt đầu từ cách người ta đối xử với nhau sau khi chiến tranh đã kết thúc.

****

Sáng nay phòng xét nghiệm cuối cùng cũng mở cửa.

Tôi bước vào. Người ta lấy vài ống máu rồi tôi ra về.

Một buổi sáng rất bình thường. Nhưng trên đường ra xe, tôi vẫn nghĩ đến những người đàn ông của một buổi sáng hơn năm mươi năm trước.

Họ cũng bước ra khỏi nhà. Có lẽ có người còn quay lại nói với vợ con:

“Mười ngày thôi. Anh về.”

Nhưng mười ngày ấy…

với rất nhiều người, đã kéo dài gần hết một đời người.

Thật bi phẫn !!!

hvn
9/27/2926
(viết mà chơi)