Như Nước Trong Nguồn

Phila Tô Văn Cấp

Đã mấy lần tôi lôi cổ chúng ra khỏi túi hành trang mà tôi đã chuẩn bị để lên đường nhập trại thì bà cụ lại chờ lúc tôi không có mặt lén bỏ chúng vào. Ngày 15 tháng 6 năm 1975, ngày chót theo lệnh trình diện của ủy ban quân quản th.p “Hồ chí Minh” bắt các sĩ quan chế độ cũ vào trại giam. Tôi ra đi và xách cái túi lên thì lại thấy đôi dép râu và bộ bà-ba đen đã nằm lại trong đó từ lúc nào. Bực quá tôi lấy ra và quăng vào góc nhà rồi lững thững xách túi ra đi như người mất hồn, không buồn chào tữ giã Mẹ. Bà cụ không nói gì nhưng tôi biết cụ đang ngồi dưới đất, miệng móm mém nhai trầu, ngước mặt lên nhìn theo con, tay quẹt nước mắt, tôi nghe như có tiếng nấc nghẹn trong cổ của mẹ già.

Ngày xưa khi còn chiến tranh, súng nổ đạn bay, mẹ tôi thường lo âu sợ hãi có một ngày nào đó các anh lính ở hậu cứ tiểu đoàn sẽ đến nhà báo tin Mẹ đi nhận xác con. Chuyện đó chưa xảy ra thì nay “hòa bình” đến, con lại đành bỏ Mẹ để đi tu huyền tù.

Và Mẹ con tôi xa nhau từ đấy!

 Những ngày “lao động là vinh quang” trên rừng núi miền Lào-Cai, Yên-Bái, Hoàng Liên Sơn vùng thượng du Bắc Việt, tôi mới thấy không có giầy dép nào chịu nổi với gai góc, đá ong, đá tai mèo, ngoại trừ đôi dép mà Mẹ tôi đã tiên liệu mua cho nhưng tôi lại vất đi! Những đôi dép được phát minh ra từ vỏ bánh xe hơi mà những “anh bộ đội” miền Bắc gọi là dép-râu vượt Trường-Sơn hay phi hành gia Phạm Tuân hãnh diện gọi là:

 “Đôi dép lốp bay vào vũ trụ”!

Còn cô gái miền Nam thì buồn rầu chán nản:

“Đôi dép lốp đạp tan đời son trẻ

Nón tai bèo che khuất cả tương lai.”

Ai nói gì thì nói, nhưng với tôi thì những khi “vác tre đốn gỗ trên ngàn”, kéo từng bó lứa từ trên núi xuống, ngồi rửa chân bên dòng suối, nhìn đôi giầy vải không còn là hình thù đôi giầy nữa, nó đã được khâu vá bằng đủ mọi vật liệu cũng không ngăn được những vết cắt nơi bàn chân, lúc đó tôi ước ao có đôi dép bằng vỏ xe ô-tô, đôi dép thích hợp và tiện dụng nơi rừng rú nhưng thật là “khó coi” trên đường phố, đó là lúc tôi nghĩ đến Mẹ nhiều nhất, thương thân thì ít, thương Mẹ thì nhiều:

“Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Núi Thái Sơn ở đâu, cao bao nhiêu không ai biết, nhưng những ngọn núi quanh đây làm tôi sợ, làm tôi đổ mồ hôi, nhờ dòng suối như dòng sữa Mẹ, nhờ nước trong nguồn chảy ra đã cứu tôi khỏi chết khát, nước trong nguồn rửa sạch cái mặt bôi vôi, nước trong nguồn giúp tôi trở thành con người “sạch sẽ”.

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra không bao giờ cạn, đổ ra biển thành “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”. Cũng tương tự như thế, tình thương của Mẹ bao la, khi con trẻ dại nghịch dao đứt tay khiến Mẹ lo lắng. Khi cha cầm chổi lông gà nhịp-nhịp giả bộ đánh dòn dạy con trai thì Mẹ dùng thân mình để che chở cho con, đỡ cho con những roi đòn từ tay bố. Có lẽ vì vậy mà chúng ta chỉ nghe đến cái tên thân yêu là “Mẹ Việt Nam” chứ không nghe ai nói “Bố Việt Nam”, mái trường Mẹ Võ-Bị chứ không có trường bố Võ Bị.

Tám năm sau “lao động là vinh quang”, từ miền Bắc trở về miền Nam, trại giam Xuân Lộc Z30D, tôi ước mong được Mẹ đến thăm để con có dịp nói lời xin lỗi Mẹ vì con đã làm Mẹ buồn khi cất bước ra đi tù nhưng bà Mẹ thân yêu của tôi đã không còn đến được nữa!

Mỗi khi gia đình đến thăm tại trại giam, câu nói đầu tiên với người thân đến thăm là tôi luôn luôn hỏi tin tức về Mẹ, hỏi cụ có khỏe không thì lúc nào cũng nghe câu trả lời có sẵn:

– “Mẹ vẫn khỏe”.

Tôi mơ ước được Mẹ đến thăm nhưng cụ lại đến trong ác mộng, điều đó linh tính báo cho tôi biết chuyện chẳng lành, có thể Mẹ tôi đã không còn nữa.

Tôi kể lại chuyện này với gia đình trong lần kế tiếp thứ N thì lúc đó gia đình mới thú thật rằng sau khi lần lượt tiễn chân các con đi tù, 3 con trai, 2 con rể thì Mẹ tôi đã khóc hết nước mắt khiến mắt cụ lòa, không còn thấy đường để đi thăm các con và cụ đã mất rồi! Khi Mẹ tôi nhắm mắt lìa đời, điều an ủi là có đầy đủ con cháu, em và anh cả của tôi cũng đã được thả ra.

Ông anh cả của tôi lúc ấy đang trong tình trạng “ruột để ngoài da” (theo nghĩa đen). Anh đi tù, năm 1984 tại trại giam Z30A Xuân Lộc, nhờ tiếng nổ AK47 “cướp cò của bò vàng” khiến anh đổ ruột, ruột đứt nhiều khúc nhưng vì lòng súng AK nhân đạo (!) ngắm chim trời “bắn nhầm” chịm của người tù lầm than nên anh tôi thoát chết và được tha về với ruột để ngoài da!

Không ngờ ngày tôi trình diện đi tù cũng là lần cuối Mẹ con ở bên nhau, nhưng con thì bực bội giận hờn, Mẹ thì thương con đau lòng nuốt nước mắt. Nghe tin Mẹ chết, lòng tôi không còn chỗ chứa những nỗi buồn mà hối hận nhiều hơn.

Nhớ lại khi có lệnh đi “học tập cải tạo” một tháng (!), thiên hạ đồn rằng ai mặc uần áo bà-ba đen đi dép-lốp thì sớm được về. Thế là cụ tìm mua cho các con, 3 trai, 2 rể mỗi đứa một bộ với tất cả số tiền dành dụm bấy lâu. Thương mẹ nhưng tôi không thể xỏ chân vào đôi dép râu khi vừa mới bị cởi bỏ đôi giầy trận “bốt đờ sô”, tôi vất dép đi là vì vậy.

Con nào cũng có lúc lầm lỗi đối với Mẹ Cha, khi Cha Mẹ còn sống thì khó khăn mở miệng nói câu xin lỗi, khi các Người đã đi rồi thì hối hận, hối hận mãi mãi. Nhà tâm lý Vicky Ngô khi còn sinh tiền nói rằng nếu ai ở trong trường hợp đó hãy viết một lá thư xin tha thứ và đem đốt trước phần mộ của các Người coi như một lời xin lỗi.

Xin đa tạ lời hướng dẫn của nhà tâm lý, tôi viết “Như nước trong nguồn” nhân ngày của Mẹ, nhưng thực ra chỉ để tự an ủi mình, tự lừa dối cho mình an lòng, Mẹ tôi và tất cả các bà Mẹ Việt Nam khác, lúc nào cũng đã tha thứ cho các con rồi.

Mẹ luôn luôn thương con và hy sinh cho con, bất cứ dân tộc nào, kể cả các súc vật, mẹ gà xoè cánh che chở đàn con khi nghe tiếng chim cú.

 Ngày nay người Việt sinh sống khắp 5 Châu nên chúng ta lại có dịp so sánh thì mới thấy “Mẹ Việt Nam” thật là tuyệt vời! Nhất là các bà Mẹ miền Nam lại kiêm nhiệm thêm vai trò “làm Cha” sau 30-4-1975, những bà Mẹ trẻ ở độ tuổi thanh xuân, cái tuổi mà ngày xưa quan tòa Hồ Xuân Hương đã cho phép có quyền bước thêm bước nữa:

“Hay cho con bé Thị Đào, nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?”

Thưa rằng đợi “bố cháu” chứ còn đợi ai nữa, thực tế đã chứng minh điều đó, từ bà Ba đến cô Tư, dì Năm, cô Hồng, Mai, Lan, Trúc, chị Phượng, chị Cúc v.v..  và cả “mai-hom” nữa.

Giả sử rằng “nhà nước ta” bắt các bà đi “lao động là vinh quang” để các cha kiêm vai trò làm Mẹ thì chắc gì các con đã có cá mà ăn (xảy cha ăn cơm với cá, xảy Mẹ liếm lá đầu đường) nói chi tới chuyện tìm đường vượt biển, vượt biên để ngày nay sau khi đã được “công thành danh toại” thì các con lại ngại ngùng đến bên Mẹ an ủi khi buồn, bóp chân cho Mẹ khi đau nhức!

Sự yêu thương và hy sinh của Mẹ thì không ngôn ngữ nào có thể diễn tả hết, nhất là đối với các bà mẹ trẻ lại bị “làm cha” sau ngày mất nước, nhưng nếu không nêu một vài thí dụ cụ thể thì các “cậu cử, cô tú, bà luật, ông đốc v.v..” trưởng thành trên đất Mỹ này sẽ không thể hiểu nổi tại sao mình lại có được tương lai tươi sáng như ngày hôm nay.

Hãy tưởng tượng một phụ nữ ở độ tuổi 30 mà chồng bị chết bất ngờ, (bị CS bắt đi cải tạo coi như chắc chết-chết chắc), không có và không còn bất cứ thứ gì ngoài mấy đứa con còn nhỏ dại, các Mẹ trẻ này đã phải chống chọi với muôn vàn vất vả và khó khăn để bảo vệ con, hy sinh tất cả vì con, thắt lưng buộc bụng và buộc cả chính mình để có thể đem được các con vượt trùng dương, đi vào cõi chết để tìm cái sống trên bến bờ tự do.

Khi các con được an toàn trên xứ lạ thì cũng là lúc các Mẹ trẻ đã bước vào tuổi 50, cái tuổi quá trẻ để xin tiền già, mà quá già để đi học lại. Thôi thì tất cả vì con, đề cho con có điều kiện học hành, con đi trường học thì mẹ phải đi “trường đời”, Mẹ đi học đại, lấy bằng “C.C MD” để sớm có việc làm, có tiền nuôi con ăn học để con trở thành những MD, DDS, Ph.D v.v.. sau này.

Phục thay, phục thay, nhưng những nhà khoa bảng trí thức tuổi trẻ này có biết cái văn bằng “C.C M.D” nghĩa là gì không? 

Xin lỗi các bà Mẹ đã tốt nghiệp văn bằng “C.C M.D”. Mọi công việc đều đáng quý, tôi không có ý gì khác mà buộc lòng phải nói thật cho các nhà trí thức này biết cái VINH của các con có được là do cái không VUI mà các Mẹ phải chịu đựng ngày qua ngày vì cái bằng này.

Vui làm sao được khi phải còng lưng với Trời, cúi mặt nhìn đất để cắt móng tay, dũa móng chân cho người! Chỉ vì mong cho con học hành có cái bằng MD mà Mẹ đành cong lưng chà chân “MĐ” (CCMĐ), mờ mắt cắt chỉ, mỏi gối đạp máy trong xưởng may để “cắt chỉ may đồ” (CCMD)! Cả hai nghề vất vả này đều viết tắt là “C.C MD”, là mẹ của những mảnh bằng đích thực MD.

Đừng quên ơn của Mẹ các con ơi, các nhà khoa bảng ơi!

Với các ông thì… tuy lúc nào cũng vỗ ngực tự xưng mình là phái mạnh, nhưng thực ra chúng ta yếu đuối hơn các bà nhiều, không chịu đựng được chay tịnh, vì thế dân gian mới có câu chế diễu rằng:

“Bà ơi, bà chết thì thiệt thân bà, ông tôi sắp sửa dọn nhà rước dâu”

Người phụ nữ Việt Nam vừa là Mẹ vừa là Cha khi ông bố ngao du sơn thủy, Mẹ là đầy tớ cho các con, nhưng đôi khi còn làm “mẹ chồng” nữa kìa.

Trong vở hài kịch của trung tâm âm nhạc nọ, Hồng Đ.. nói với QM:

“Em là vợ, kiêm vai đầy tớ và còn làm Mẹ của anh nữa kìa”.

Khán giả nữ cười thích thú, cười chảy nước mắt với câu nói thực tế này.

Làm vợ để bảo tồn nòi giống là rõ ràng. Làm đầy tớ để nấu nướng, đi làm, đi chợ, rửa chén, lau nhà, lo tất cả mọi việc trong gia đình cho chồng cho con thì khỏi bàn cãi, và ngày nay ở hải ngoại còn nổi bật vai trò bà nội, bà ngoại làm “bê-bi-sít”, chạy theo cháu muốn hụt hơi, bế cháu cụp xương sống, nhưng làm “mẹ chồng”, tức mẹ của chồng thì tôi chưa thấy.

Tưởng chuyện đùa cho vui nhưng lại có thật, tôi vừa chứng kiến tận mắt một hình ảnh cảm động, người vợ kiêm thêm vai trò làm người Mẹ của chồng:

Trong buổi đại nhạc hội gây quỹ giúp TPB của Hội HO và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam CA vào ngày 23-4-XXXX, anh thương binh Võ Tường Đông, một tay chống nạng một tay chùi nước mắt khi thấy bạn bè đơn vị cũ đến bắt tay hỏi thăm Đông thì chị Đông quàng tay qua vai chồng vỗ nhè nhẹ như ru à-ơi cậu con cưng:

“Thôi nín đi.. cưng, thôi nín đi, đừng khóc nữa, khóc nữa mà làm gì!”.

Một hình ảnh đẹp, đẹp vô cùng, không chỉ làm người thương binh Tường Đông hạnh phúc mà đồng đội của Đông-những phái mạnh khác cũng thích được làm “con” như thế thay vì bị làm cháu của bà  “nội”!

Công ơn sinh dưỡng của người Mẹ dù bất cứ dân tộc nào, thời đại nào cũng được nói đến nhiều, 2000 năm trước các con đã ca tụng Mẹ, 2000 năm sau và mãi mãi Mẹ vẫn là tình thương nhưng điều quan trọng là con phải cư xử với Mẹ như thế nào để khỏi phải hối hận về sau.

Người Mỹ họ tính lương của một bà mẹ làm việc ở nhà là $134,121 một năm và những món quà thích nhận được trong ngày “Má” là nữ trang, hoa đủ thứ, đi ăn nhà hàng v.v..Nhưng có lẽ món quà mà các bà Mẹ Việt Nam thích và hạnh phúc vẫn là tiếng thủ thỉ của các con bên tai mẹ khi các bà đang lúi húi trong bếp lo bữa cho chồng con:

“Mẹ nấu món này ngon quá, để con phụ với mẹ một tay nha”.

Nói thương Mẹ thì dễ, nhưng làm thế nào để bày tỏ tình thương đó?

 Hằng ngày trên TV Mỹ có chương trình giáo dục của ông Maury, ông hỏi những cô bé thích mang bầu ở độ tuổi 12, 13 rằng có thương yêu Mẹ không, thì cô nào cũng “Yép” nhưng vẫn nhất định đòi làm Mẹ khiến các bà Mẹ buồn muốn khóc!

Tuy các gia đình Việt Nam trên đất tạm dung chưa quá độ như trên, nhưng việc thực hành lời nói “con thương yêu Mẹ” vẫn còn hạn chế và có chiều hướng suy giảm! Sợ đến một ngày nào đó lại phải nghe câu ca:

“Mẹ thương con như Trời như bể, con nuôi Mẹ con kể từng ngày!”

Ở Mỹ sẽ không phải kể từng ngày vì Mẹ già đã có SSI và nursing-home!

Sống trong xã hội “thì giờ là tiền bạc”, tài sản để lại cho con là ngân hàng, nhà cửa xe cộ, nhưng lại thường quên đi tài sản quý báu là “tình gia đình”.

Theo các tài liệu nghiên cứu, nếu một em bé được bú mẹ từ 6 tháng đến một năm đầu, thay vì bú bình, thì sau này đa số các em sẽ mạnh khỏe, thông minh.

Nếu được bố mẹ bế bồng, được ngồi ăn cơm chung, chuyện trò cùng gia đình mỗi buổi chiều thì đa số sẽ trở thành những đứa con biết thương yêu cha Mẹ.

Ai mà không biết điều đó, nhưng làm thế nào bây giờ?

 Mỗi cây một hoa, mỗi nhà một cảnh, lại còn phải tùy vào độ tuổi, độ trưởng thành của con mà sắp xếp sinh hoạt gia đình sao cho ấm cúng.

Tôi không dám lạm bàn về chuyện dạy con sao cho lên người mà nhân ngày “Má-đây” xin nhắc tóm tắt những điều thực tế cụ thể mà các cô gái đã lập gia đình thì nên cư xử với Mẹ Việt Nam như thế nào cho “Vừa Lòng Mẹ”.

Những điều này dựa trên lời giảng của các tôn giáo và ngay cả kinh nghiệm qua ba đời, ba thế hệ của từng gia đình “một Mẹ hai con, hai Mẹ một con”, nói cho dễ hiểu là sống trong một gia đình gồm 3 thế hệ: Bà, Mẹ và con gái.

Những ai còn Mẹ, còn được mang “bông hồng cài áo” thì thật là hạnh phúc, nhất là những con đã có gia đình. Các cô, các cậu đã sinh con lại còn được ở chung với Mẹ thì không còn gì hạnh phúc hơn. Các con đã có gia đình thì lại cần lưu ý đến vai trò của những con dâu và con rể, chắc sẽ có những bất đồng giữa 2 thế hệ, nhưng hãy chứng tỏ mình là người trí thức, trí thức không phải là có bằng cấp cao mà là hiểu biết đạo làm người, đạo làm con. Vì thế dù cho là Mẹ chồng, Mẹ vợ hay Mẹ đẻ thì tất cả đều là Mẹ cả, đã là con thì phải nhớ công sinh công dưỡng.Bởi vì:

– “Có nuôi con mới biết lòng cha Mẹ”

Bởi vì: Những ngày Mẹ ở với chúng ta không còn bao lâu nữa đâu!

Hãy làm những gì có thể làm được để Mẹ hài lòng và tránh những điều gì khiến Mẹ ứa nước mắt hầu sau này khi Mẹ đi rồi sẽ không bị hối hận.

– Thời gian quý báu bên Mẹ ngày càng ngắn ngủi đi.

– Đừng xem Mẹ là gánh nặng, đừng trách Mẹ già là lẩm cẩm.

– Dạy con cái biết kính trọng và yêu thương Bà (nội-ngoại) chính là đầu tư tài sản quý giá cho các con về sau này.

– Đừng càu nhàu khi Mẹ săn sóc “quý tử” của mình không đúng với tiêu chuẩn của Mỹ.

Người Mỹ họ không “bú mớm” cho con như Mẹ Việt Nam đã từng bú mớm cho chính bản thân mình khi xưa.

Có lẽ các cô cậu sẽ lắc đầu le lưỡi khi nghe nói một bà Mẹ Việt Nam “mút mũi” cho con, vì sợ chùi bằng khăn mũi con sẽ đau.

Không có sữa guigoz, sữa vàng sữa bạc, không có chương trình bê-bi xyz như trên đất Mỹ, Mẹ Việt Nam đã ngồi nhai cơm cho nhuyễn để mớm cho con, nuôi con cho khôn lớn và ngày nay con có mũ áo xe cộ nhà cửa xênh-xang thì lại chê Mẹ là nhà quê!

– Đừng chờ tới ngày “Má-đây” (mother day) mới ới Má một tiếng đi ra nhà hàng xì-phút (sea food) để Mẹ chờ xì khói trong 60 phút mới được chén súp! Hoặc đưa Mẹ tới nhà hàng “ôn-diu-khen-ít” mà chẳng ít được cái chi.

– Đừng chờ “Má-đây” mới phôn cho tiệm bán hoa nhờ một anh “xì” tới thăm Mẹ với một bó bông và tấm thiệp in sẵn theo tiêu chuẩn “trả nợ quỷ thần”.

 Ngày nay trên đất Mỹ, tôi thường nghe các bà Mẹ hỏi con:

-“Hôm nay các con muốn ăn món gì mẹ nấu cho”..

Có nghĩa là mẹ chiều theo ý con, nhưng các con thì lúc nào cũng hỏi ngược lại mẹ:

“Mẹ muốn ăn gì không thì con mua cho”!

Đừng bao giờ hỏi một câu vô duyên nhất trong những cái vô duyên như vậy.

 Mẹ Việt Nam không bao giờ nói thích ăn món này cái kia, mà thưởng từ chối với lý do rất “Mẹ Việt Nam”:

“Thôi, Mẹ không ăn đâu, mua làm gì cho tốn tiền”.

Ở với Mẹ mấy chục năm rồi mà không biết Mẹ hợp với khẩu vị gì sao?

 Một bát bún, tô miến gà, miến lươn tu-gô, một túi nhãn, trái mãng cầu v.v.. Hãy tự động mua về mang tới tận tay, bảo đảm các cụ sẽ cảm động ứa nước mắt, sẽ sống thêm 24 giờ vì tấm lòng của con chứ không vì món ăn đựng trong gói giấy, các cụ không ăn thì con cháu hưởng lộc.

Hãy nói câu: “Để con phụ bếp với Mẹ nhé”.

Nói xong rồi chạy đi chơi không phụ mẹ cũng được, Mẹ vẫn cười vui vì tiếng nói của con.

Thường xuyên gọi điện thoại hỏi thăm sức khỏe Mẹ, ít nhất mỗi tuần một lần:

“Mẹ khỏe không? Cẩn thận nhé kẻo bị té, nhớ uống thuốc cho đều v.v..”

Tùy theo trình độ hoặc sở thích của Mẹ mà mua tặng Mẹ sách báo, những CD, DVD âm nhạc, cải lương, câu kinh tiếng kệ mà ngày xưa Mẹ yêu thích. Nếu có điều kiện, thỉnh thoảng nên đưa Mẹ đi vãn cảnh chùa chiền, thánh đường, tu viện, thiên nhiên.

Tuổi già sẽ có những nét dễ thương như hồi còn bé, nên đối với những bà Mẹ cao niên, các con lại cần lưu ý hơn.

Nhớ lại khi xưa, mỗi khi lãnh lương xong tôi biếu Mẹ vài đồng để “ăn trầu”, Mẹ nói Mẹ không lấy nhưng ánh mắt Mẹ rất vui, rồi cụ cất tiền thật kỹ vào túi áo trong, cài ba bốn cái kim băng. Và rồi ít lâu sau, khi thấy con trai Mẹ nhăn nhó thiếu tiền mua thuốc hút, cụ gỡ kim gài túi áo lấy tiền mà khi xưa con biếu mẹ, cho lại con, miệng mỉm cười:

 “Tiền đây, cha bố anh”.

Những đồng tiền để dành này, sau ngày 30/4/75, Mẹ tôi đã đem mua dép-râu cho các con để các con bảo vệ đôi chân trong lao tù (nhưng tôi lại quăng nó đi!).

Ngày nay tại hải ngoại, tuy các bà Mẹ không túng thiếu nhưng hãy biếu Mẹ dăm ba đồng để Mẹ ăn trầu, Mẹ cúng dường, Mẹ đem chia sẻ niềm hạnh phúc với người khốn khó, đó là những viên gạch để xây nhà cho Mẹ trên Thiên Quốc.

Đừng lơ là nhiệm vụ làm con khi Mẹ còn sống.

Người viết bài này không còn Mẹ để thăm viếng, không còn Mẹ để phụng dưỡng, chỉ còn có “Mẹ các cháu”, nhưng không biết có quà gì giá trị để tặng cho Mẹ các cháu đây?

Thôi thì theo gương các niên trưởng, mỗi cuối tuần xin tặng Mẹ cháu một món quà rẻ tiền nhưng có thể giúp bảo vệ đôi tay búp măng, đó là cái máy “rửa chén” biết nói và một Rô-bô biết nấu những món ăn, dù là phở bò, phở gà, bún thịt nướng, bún bò, bún riêu, bún thang, bún mộc, mì quảng, một mình Rô-bô làm hết, còn ăn được hay không là tùy người đối diện./.