Nhớ Thạnh An, đảo “Ra đô” của 40 năm về trước

Kinh Bồng (Trần công Bình)

–         Tui, Đệ Thạnh An đây anh Bình, anh nhớ tui hôn?

Một giọng nói mộc mạc, chơn chất, bên kia đầu điện thoại gọi đến. Tôi không khó để nhận ra dù đã hơn 30 năm xa cách. Đệ, thư ký Ủy Ban Xã Thạnh An huyện Cần Giờ trong thời gian tôi công tác ở đó.

“Anh nhớ tui hôn?”, câu hỏi ngắn gọn, thật thà của một người trong bổn đạo Cao Đài, nhà anh lại gần Thất, cái Thất độc nhất có trên đảo, nơi mà tôi từng trú ngụ… Ngần ấy thứ như sóng biển dạt dào đập vào bờ sau hè dãy nhà dân, bỗng chốc tràn ngập vào tim tôi, trái tim vô tình đối với hòn đảo …”Ra đô” (!)

Cuộc điện thoại với Đệ gần cả tiếng, mặc dù anh gọi tôi, nhưng tôi thấy sốt ruột cho tiền điện thoại, tính xin ngưng, nhưng anh nói không sao đâu, nói hết tiền rồi ngưng luôn cũng được !.

Trời, dễ thương như vậy đó.

Sống 8 năm ở cái xứ “máng đáy là vét nồi”(*) tôi hiểu cái tính khí hào phóng của ngư dân là thế nào. Hễ không có tiền thì thôi, nếu có hễ gặp bạn là dứt khoát rủ vô quán uống nước. Dân Thạnh An tuy có khác Cần Giờ, Long Hòa, nhưng cũng không sống dè sẻn như dân vùng nông nghiệp.

Sau cuộc gọi điện, tôi thấy có lỗi với Thạnh An, có lỗi với cái hòn đảo mang nhiều nỗi nhớ. Vậy mà, từ khi có Fanpage “Ban Liên Lạc Bạn Cần Giờ”, tôi chưa bao giờ …Nhớ về Thạnh An.

Bài viết này là cả nỗi niềm tâm sự chuộc lại lỗi lầm ấy !

Tôi qua Thạnh An lần đầu tiên trong Đoàn công tác Hợp Tác Hóa Ngư Nghiệp vào cuối năm 1979.

Trên chiếc ghe cào te, đối với tôi là to so với các ghe khác, nhưng khi ra giữa cửa biển, ngoái nhìn bờ Cần Thạnh, ngó mút mắt chẳng thấy bờ Thạnh An, tròng trành trong sóng nước, tôi mới thấy cái ghe mình đi là quá nhỏ bé. Ra ngồi sau ghe để bắt chuyện với em lái ghe, mặt non choẹt, vậy mà cầm sinh mạng của hơn chục cán bộ nhân viên Huyện đi công tác. Thấy tôi muốn bắt chuyện, em một tay đang kéo dây ga, một tay cầm cây cần bánh lái, nói như hét trong tiếng gầm của máy ghe (đúng là dân “ăn đàng sóng, nói đàng gió”):

–         Một lát anh lên bờ sẽ được  đi trên “đại lộ” Thạnh An đến Ủy Ban Xã.

Vừa nói vừa cười cười (?!).Thấy em lanh lợi, tôi hỏi em học lớp mấy, em nói học tới lớp 5, Thạnh An hết lớp, muốn học phải qua Cần Giờ, em nghỉ luôn ở nhà đi cào te.

Vậy là  ấn tượng đầu tiên của tôi đối với cái xứ đảo này là cái “đại lộ” mà tôi sẽ được bước chân lên đấy. Cũng ngộ, cả một vùng rừng đước mênh mông, nối nhau bởi sông, rạch; duy nhất có con đường nhựa 13 cây số nối liền Cần Thạnh Long Hòa làm từ thời Tây bề ngang 4 m không được gọi là đại lộ, vậy mà ở đây có đại lộ ?!

Ỳ ạch leo lên chiếc cầu tàu bằng cây, Đoàn chúng tôi bắt đầu lên bờ lộ đất. Một con lộ đất bề ngang không tới 3m, Đoàn người đi chỉ hai hàng mới khỏi chen chân nhau, hai bên là nhà san sát, chen chúc liên tục không chừa một chỗ trống. Con đường cứ khiêm nhường bé tý như vậy dẫn đến Ủy Ban.

Tôi bị thằng lái ghe trác rồi: cái “đại lộ” Thạnh An như vậy đó. Sau cuộc họp, tôi tách đoàn đi một mạch xem “đại lộ” dài tới đâu thì biết nó là con đường duy nhất, độc đạo trong Xã đảo thẳng đuột dài không hơn 600-700 m, chẳng có ngỏ ngách nào quẹo. Còn nhà dân thì cứ như xếp lúp xúp, san sát bên nhau, chẳng chừa một lối đi xuống biển, dù sau lưng hai dãy nhà là biển. Đảo Thạnh An trong mắt tôi thuở ban đầu như thế đó !

Những ngày công tác ở Thạnh An tôi hay đứng ngoài lớp học trên nhà sàn, nhìn cô giáo trắng nõn dân Sài gòn mới xuống, bên những em bé tóc cháy khô cứng, có đứa còn lấm đất sìn. Hay nhất trong kỷ niệm là cái chuyện cô dạy mãi mà em không thể nhớ câu hát:

–         “Khi nào em lớn lên, em lấy xe đón cô”

Hôm sau , bắt cả lớp đọc lại, mấy em đồng thanh:

–         Khi nào em lớn lên, em lấy “ghe” đón cô.

Thạnh An không có cả xe đạp, làm gì có cái xe máy 2 bánh hay 4 bánh. Trong đầu óc non nớt của các em, các em chỉ thấy cái ghe là vật gần gủi, gắn bó với mưu sinh của cha mẹ và em. Cố nhét vào khái niệm “xe” là một điều cực kỳ xa lạ !

Một thứ xa xỉ nữa của Thạnh An lúc ấy là nước ngọt. Bên Huyện đã thiếu nước, Thạnh An phải chở nước từ Huyện qua, từ Phước Hòa -Đồng Nai  đến nên càng thiếu nước trầm trọng. Cô giáo nhỏ Sài gòn, da mơn mởn khi mới xuống, đã dạn dày , bắt đầu …móc cời như dân thổ địa sau một, hai năm công tác. Đơn giản thôi, cô một ngày được phép sử dụng 2 lon guigoz (đúng 2 lon guigoz !) nước vừa súc miệng, rửa mặt, vừa nhúng khăn lau mình mẩy (!!!). Nước lúc ấy xài chế độ 3 tầng: tầng 1 súc miệng, tầng 2 rửa mặt hứng chứa trong thau, tầng 3 lấy thau chứa rửa chân khi đi ngủ.  

Thiếu thốn vậy, nhưng tình người không thiếu. Lúc ở Thạnh An, tôi được nhà mấy chú ghe cào mời ăn cơm là chuyện  hàng bữa. Nhớ chú Năm Đại, chức sắc trong đạo, thường xuyên mặc bộ đồ bà trắng, người cao dong dõng, không bao giờ quên biểu mấy em nhỏ mời dùng cơm chay cúng Thất. Nhớ chú Tư Bân, người mập mạp, tiếng nói ồ ề, hễ ghe về thể nào cũng có cá, kêu vô nhà ăn cơm. Nhớ chú Ba Đặng người thấp, lùn, mời ăn cơm, vừa nói chuyện xa xưa của dân Bình Xuyên chạy dạt về đây. Nhớ anh Hai Bình, hai vợ chồng không con, anh vừa chạy ghe cào te vừa công tác xã, sau làm chủ tịch; hễ gặp tôi hỏi ăn cơm chưa, rủ ghé nhà dùng bữa. Nhớ anh Đệ, nhà không có công cụ sản xuất, thân tình vẫn mời về nhà ăn cơm; ngại anh tốn kém, nên tôi không bao giờ dám làm phiền. Nhớ anh Thanh Sơn, cũng dân chi viện như tôi, người cao ráo dáng vẻ sinh viên, đôi mắt đẹp quầng thâm như gái Ả Rập, lấy vợ Thạnh An, cắm rễ ở xứ đảo luôn. Nhớ chị Sánh, mặt rỗ hoa mè, phụ nữa xã, nhanh nhạy nhắn dùm dân đi họp …Nhiều, còn nhiều nữa những người  thân thương tôi từng dựa cậy, ăn nhờ ở đậu trong những ngày công tác thủy sản.

Rồi càng nhớ cái Thất Cao Đài, nơi ăn ngủ của tôi, nơi tôi treo tòn ten chiếc võng lính ở sau hè ngủ trưa mát rượi.

Nhớ Thạnh An cũng không thể quên cái tên “Hòn đảo Ra đô” một thời, nếu không giải thích thì có người không biết. Thạnh An nằm ngay cửa ngỏ đi ra biển Đông. Nơi đây cách phao số 0 chỉ 2 giờ ghe chạy. Ở một địa thế thuận lợi như vậy nên vào thập niên 80, những người tổ chức vượt biên đã chọn nơi đây làm bàn đạp. Mấy ghe nhỏ gọi là “ta xi” chở người từ nơi khác đến tập kết ở đảo Thạnh An. Họ trả công bằng vàng khâu cho những nhà chịu chứa người trốn trong đêm. Có vàng, dân chứa người trốn mua đồng hồ Ra Đô là loại đồng hồ mắc, sang nhất, có cái có cả hột xoàn để đeo. Đảo “Ra đô “ có tên là ở nguồn gốc ấy !

Nhớ Thạnh An là nhớ đến những ngày nước ròng, ghe bên Huyện qua không thể cặp sát cầu đò, mọi người phải lội nước ngập đến bụng, lội bì bõm cả chục thước mới leo lên bờ được. Hình ảnh ấy làm tôi không quên được Đội Chiếu Bóng lưu động của Huyện, trong đó có cô Mai người Thành Phố, gương mặt và dáng thanh mảnh đẹp không thua diễn viên  phim. Ấy vậy mà cô cũng như nam thanh niên trong Đoàn thường xuyên mang máy, vác hòm rương chứa phim nhựa. Ngâm mình  trong nước mặn , thiếu dụng cụ vệ sinh cho nữ nên cô sau này nghe nói bị rong kinh, mặt mày xanh nhớt …!

Thạnh An trong tôi 40 năm về trước là như thế đó …!

(*): máng đáy là vét nồi: khi đáy sông Cầu máng lên để phơi, tức không sản xuất, ngư dân không có tiền mua gạo. Mặc dù trước đó tôm cá từ đáy về họ ăn xài thả cửa, hàng quán linh đình. Đó là thói quen, văn hóa tiêu dùng của dân biển ,khác biệt với dân vùng nông nghiệp.