Nhất Linh Nguyễn tường Tam, những dấu ấn trong tôi.

Kinh Bồng (Trần Công Bình)

Năm 11 tuổi, theo lời khuyên của ba tôi, tôi bắt đầu đọc  các tiểu thuyết của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Đoạn Tuyệt, Đôi bạn, Gánh hàng hoa là bộ ba tác phẩm mà tôi thích nhất của Nhất Linh.

Đang say sưa với tủ sách gia đình, một hôm ba tôi cầm tờ báo  thốt lên: Nhất Linh mất rồi.

Ông mất không phải vì bệnh mà ông mất vì tự vẫn, tự vẫn bằng thuốc độc. Chỉ mới tháng trước, dân Sài Gòn đã xôn xao vì vụ tự thiêu của hòa thượng Thích quảng Đức ở ngã tư Lê văn Duyệt-Phan đình Phùng (*), cách nhà tôi chỉ ba con đường. Hai cái chết của hai nhân vật nổi tiếng ấy đã ăn sâu vào tâm thức của một cậu học sinh chỉ mới bắt đầu tiếp cận với tiểu thuyết tình yêu, chẳng biết gì nhiều về chính trị ngoại trừ phong trào Thanh Niên Tiền Phong do lời kể của ba mình.

Kể từ hôm ấy, ngoài các cuốn tiểu thuyết, nói chỉ toàn chuyện đời xưa, tôi bắt đầu để ý đến tin tức nóng hổi nói chuyện thời sự trong tờ báo Thần Chung mà ba tôi đọc hàng ngày.

Nhưng, thắc mắc về cái chết của nhà văn tôi mến mộ vẫn còn đó. Tin tức dồn dập về các sự kiện chính trị tiếp theo trong cả nước nên không báo nào viết tiếp về sự kiện Nhất Linh. Mà quả thực vậy, không đầy 4 tháng sau, Ngô đình Diệm bị đảo chính và bị sát hại cùng em là Ngô đình Nhu.

Nguyễn tường Tam sinh năm 1906 ở Cẩm Giàng, Hải Dương. Năm 16 tuổi đã làm thơ đăng báo Trung Bắc Tân Văn, 17 tuổi đậu bằng Cao Tiểu,18 tuổi theo học ngành Y và Mỹ Thuật, 20 tuổi vào Nam tham dự đám tang Phan chu Trinh, bị truy nã trốn sang Cao Miên rồi đi Pháp du học. Ông tốt nghiệp Cử Nhân Khoa Học năm 24 tuổi, trở về nước làm báo, dạy học ở trường Thăng Long vào năm 1930.

Hai năm sau ông mua lại và điều hành tờ báo Phong Hóa, sau đó là tờ Ngày Nay (1935). Song song với hoạt động báo chí là các hoạt động xã hội và từ thiện của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn do ông thành lập.

Đến năm 1938, ông chính thức thành lập đảng Hưng Việt, sau đổi tên là Đại Việt Dân Chính Đảng do ông làm Tổng Thư Ký. Từ đó hoạt động chống Pháp của Nhóm Tự Lực đã trở thành công khai. Năm 1942 Nhất Linh sang Quảng Châu gia nhập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội rồi về Côn Minh tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Tháng 3 năm 1946, Nguyễn tường Tam là Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ liên hiệp của Hồ chí Minh, làm trưởng đoàn Việt Nam tham dự hội nghị Đà Lạt đàm phán với Pháp. Năm 1947 ông tham gia thành lập Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia Liên Hiệp ủng hộ giải pháp Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam chống cả Pháp và Việt Minh. Nhưng sau đó ông lưu vong sang Hồng Kong đến năm 1951 mới về miền Nam mở nhà xuất bản Phượng Giang và tuyên bố không hoạt động chính trị nữa.

Năm 1958 ông mở nhà xuất bản Văn Hóa Ngày Nay, đến năm 1960 thành lập Mặt Trận Quốc Gia Đoàn kết ủng hộ cuộc đảo chính Ngô đình Diệm của Nguyễn chính Thi và Vương quang Đông. Đảo chính thất bại, ông bị trát Tòa đòi trình diện để  xử vào ngày 8.7.1963, nhưng trước đó một hôm ông đã quyên sinh để lại cho hậu thế câu nói nổi tiếng:
Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do.”

Sự nghiệp chính trị của ông bị chính quyền Ngô đình Diệm xử lý, nhưng chính ông đã tự xử thân xác của ông còn lịch sử cho đến nay vẫn chưa phán quyết gì về việc ấy.

Nhưng sự nghiệp văn chương và Văn Đoàn của ông để lại một dấu mốc quan trọng, một thành quả đáng trân trọng.  Nền giáo dục VNCH đã đưa tác phẩm của ông vào giảng dạy trong chương trình Quốc Văn và hầu hết các tủ sách gia đình đều ít nhiều có tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn để luyện văn cho con cháu.

Trong vòng một năm không đi học, tôi đã đọc hầu hết các quyển tiểu thuyết như: Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Đoạn tuyệt,Lạnh Lùng, Đôi bạn, Bướm trắng,Con đường sáng…Tập truyện ngắn có : Nho Phong, Người quay tơ, Anh phải sống, Đi Tây, Tối tăm, Hai buổi chiều vàng,Thế rồi một buổi chiều,Thương chồng.

Dấu ấn lớn nhất của ông và nhóm Tự Lực văn đoàn là văn phong sáng sủa, trôi chảy, mạch lạc. Thực sự nhờ mê tiểu thuyết Nhất Linh mà tôi viết  văn được khá. Dấu ấn ấy không bao giờ phai lạt trong suốt cuộc đời luyện văn của tôi.

(*): sau 1975 đổi tên là Cách mạng tháng Tám-Võ văn Tần