NGƯỜI ÐÀN BÀ BỊ LÃNG QUÊN

BS Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

Trước thềm năm mới 2000, trước thềm của thế kỷ 21 nầy, các báo chí nói rất nhiều về các nhà khoa học, các nhà hiền triết, văn nhân, nghệ thuật, các vị anh hùng… nam nữ của thế kỷ nhưng người ta quên đi một nhân vật vĩ đại không kém gì Einstein. Người đó lại là một phụ nữ.

Công trình và Sự nghiệp

Người phụ nữ đó là một vĩ nhân của thời đại, mặc dầu bà không có thuyết tương đối như Albert Einstein và công thức E= mc2 (1945). Bà còn là một vị ân nhân của nhân loại, vì bà đã hiến hết tuổi xuân và cả cuộc đời cho khoa học, ngõ hầu tìm kiếm cách chữa trị loại bịnh giết người nhanh chóng: bịnh ung thư bạch cầu (leukemia), nôm na gọi là ung thư máu.

Cũng vì hăng say trong việc nghiên cứu, mà bà quên mình, làm việc trong những điều kiện eo hẹp: phòng ốc chật hẹp, thiếu phương tiện, thiếu phương cách phòng chống phóng xạ, không máy điều hoà không khí. Bà cùng chồng nghiên cứu thành công về:

* Sự phóng xạ (radioactivity).

* Từ trường piezoelectricity.

Sau đó bà âm thầm, cặm cụi, nghiên cứu thêm trong cô quạnh, vì chồng bà bất hạnh qua đời, trong một tai nạn xe cộ vào năm 1906. Pháp mất đi một thiên tài lỗi lạc. Cuộc nghiên cứu nầy đưa tới sự phát minh ra chất polonium (Poland=Ba Lan) và Radium, mà các nhà bác học khác, tìm mãi mà không ra. Chính phát minh và lý thuyết nầy, dẫn các nhà khoa học khám phá ra phân tử Atom, sau nầy người ta chế ra bom nguyên tử.

Ân Nhân của nhân loại

Chính vì công trình nghiên cứu mấy chất phóng xạ trên, mà bạch cầu của bà bị tàn phá đưa tới bịnh ung thư bạch cầu.

Mặc dầu bị bịnh hoành hành, bà cố hy sinh đời mình cố gắng tiếp tục nghiên cứu, để hoàn thành công việc, bởi vì chỉ có kết quả đó mới cứu sống được nhiều sinh mạng sau nầy.

Bà qua đời ngày 4 tháng 7 năm 1934 tại Paris. Sanh nghề tử nghiệp! Thật là đau thương cho một vĩ nhân, đã hi sinh và cống hiến trọn đời mình cho khoa học! Rất đáng ca tụng và tôn kính!

Một vĩ nhân với tất cả tấm lòng vị tha, đã tìm cách quyên tiền xây cất viện nghiên cứu Radium. Bà là người phụ nữ đầu tiên làm Giáo sư Đại học Sorbonne, chẳng những bà lãnh một giải Nobel khoa học, mà còn lãnh tới hai giải lận. Cho tới nay cũng có nhiều người lãnh hai giải Nobel, nhưng chưa ai lãnh hai giải khoa học như vậy. Thường họ lãnh một giải khoa học và một giải văn chương hay triết lý, hoặc hòa bình mà thôi, như trường hợp của Bertrand Russel và nhiều người khác.

Trong thời Ðệ nhứt Thế chiến, bà tổ chức đoàn xe quang tuyến X R lưu động, huấn luyện 150 chuyên viên, cùng mở 200 phòng chụp hình cho trên cả triệu người tại Pháp.

Con người tài hoa lỗi lạc như vậy, mà khi nằm xuống không được đám tang trọng thể, hay lớn rình rang như đám tang của Công nương Diana… lúc đó không biết bao nhiêu triệu người trên thế giới, theo dõi và thương tiếc. Thật là một sự phũ phàng, thương đau cho một vĩ nhân khoa học!

Bà cũng không được chôn chỗ quyền quí, cao sang, trọng vọng nhứt nước Pháp: Ðiện Panthéon. Ðiện nầy không xa phòng Viện Radium của bà, vì từ phòng làm việc bà có thể thấy nóc điện kia mà, nhưng tuy gần, nó lại xa diệu vợi đối với bà! Sự phũ phàng nầy phải chăng, vì người ta chưa công nhận bà là người đàn bà nước Pháp?

Pháp là nước nổi tiếng về nền văn minh tân tiến, tượng trưng cho cách mạng, cho nền tự do siêu đẳng, cho nhân quyền…mà thật ra vẫn còn kỳ thị!

May thay phải đợi tới ngày nhất quí (100 năm), mới được một người gần đất xa trời, đang bị bịnh ung thư tuyến tiền liệt hoành hành, mới biết thế nào là sự đau đớn của bệnh tật, mới nghĩ tới người đàn bà vĩ đại nầy.

Người cùng đau khổ vì ung thư đó, mới nghĩ đến người quả phụ tài hoa và tiết hạnh, trước khi ông rời khỏi chính trường. Ông tìm được cách duy nhứt, là đem cải táng mộ phần chồng bà và nhân đó, mộ phần bà cũng được danh dự mang về Ðiện Panthéon, năm 1995.

Như vậy một lần nữa, bà là người đàn bà độc nhứt vô nhị mới được cái danh dự vào Ðiện Panthéon chung trong một mộ, theo đúng nghĩa ‘chồng ở đâu thì vợ ở đó’:

‘Sống đồng tịch đồng sàng,

Chết đồng quan đồng quách’

Người nghĩ tới bà và trả lại sự công bằng cho bà mấy năm trước đây, không ai xa lạ hơn là Tổng thống Francois Mitterrant.

Công nghiệp của chồng được bà tiếp nối. Cũng may là công nghiệp đĩ được con gái bà và con rể tiếp tục theo. Họ cũng ngày đêm cặm cụi trong phòng thí nghiệm của Viện Radium mà bà sáng lập, làm việc và nghiên cứu khoa học. Họ cũng rạng danh như hai vợ chồng bà trước kia.

Phần thưởng xứng đáng nhứt của con người khoa học là họ cũng được cái danh dự cao quý, như cha mẹ chúng là lãnh giải thưởng Nobel Khoa học. Ðúng là:

“Hổ phụ sanh hổ tử.” hay

“Rồng sanh rồng.’

Thiên tài hay vĩ nhân nầy không ai khác hơn hết, là

nguoi dan ba bi lang quen 01

MARIE CURIE (1867-1934)

Tên thiệt của bà là Manya  Sklodowska. Bà sanh năm 1867 tại Warsaw, con của một giáo sư Vật lý.

Lớn lên, bà cũng làm nghề gõ đầu trẻ, nhưng vì muốn tiến thân nên đã dành dụm tiền để đến kinh thành hoa lệ học đại học Sorbonne, Paris (1891).

Nỗi buồn xa nhà cộng thêm nỗi buồn mất cha, một nhà ái quốc luôn chống lại Nga. Lúc nhỏ bà không biết tại sao, mẹ bà không ôm hôn bà mà thường hay tránh né, giờ đây bà mới biết, là xưa kia mẹ bị bịnh ho lao nên chết sớm. Mồ côi mẹ, bà càng cố học, để sau nầy giúp đỡ cho chị học y khoa và trở thành Viện trưởng Viện Radium ở Balan.

Từ nhỏ, Marie là nữ sinh xuất sắc. Cô ghi học vật lý. Cô đã đem hết tâm trí và nghị lực vào việc học mà thôi. Cô không tụ họp vui chơi với ai hết. Nhờ đó cô sớm trở nên ưu tú và được mọi người chú ý.

Giáo sư Pierre Curie chỉ biết say mê nghiên cứu khoa học, mà không màng tới phụ nữ. Tuy nhiên, mới gặp người con gái nầy lần đầu, mà tâm hồn đã hỗn loạn. Còn cô nàng cũng để ý tới ông thầy trẻ tuổi, tài cao nầy ngay từ phút đầu. Hương tình lãng mạn bắt đầu lên men. Mối tình ‘vòng tay học trò’ càng ngày càng đậm đà.

nguoi dan ba bi lang quen 02

Marie & Pièrre Curie bà thảo việc nghiên cứu

Vì sợ sau khi học xong bằng tiến sĩ, cô sẽ về phục vụ cho quê hương cô, nên Pierre lấy hết can đảm khuyên nàng, ở lại cùng ông nghiên cứu khoa học.

Ðôi uyên ương tài năng vẹn toàn, xây dựng túp lều tranh với hai quả tim vàng, trong sự nghiệp khoa học và nhân loại. Hôn lễ đơn giản và thân hữu, được cử hành vào tháng bảy năm 1895. Hai người sống chan hòa trong yêu đương và say mê nghiên cứu khoa học, mặc cho sự túng thiếu về vật chất.

Hai người cùng nghiên cứu Pháp và Âu Châu. Bà vừa say mê dạy học, vừa hăng say nghiên cứu khoa học không ngừng. Nhờ đó bà lãnh giải Nobel thứ hai về Hóa học năm 1911.

Con gái bà là Irene Curie (1897-1956) kết hôn cùng ông Jean Frederic Joliot (đổi tên lại Irene Joliot Curie và Frederic Joliot Curie (1926). Hai người cùng làm việc và cùng nghiên cứu tại viện Curie Radium, để khám phá ra artificial radioactivity năm 1934, việc nầy dẫn tới nguyên tử năng. Nhờ đó cả hai cùng lãnh giải Nobel năm 1935 về Hoá học.

Câu chuyện lãng quên và đau buồn nhứt, là sau khi sang Mỹ (1921) vận động được Tổng thống Harding, hiến tặng chất radium trị giá 100.000 đô la, để dùng vào nghiên cứu cho Âu Châu rất thành công, bà trở về Pháp. Khi tàu cập bến, thiên hạ đầy nghẹt bến tàu, hoan hô ủng hộ, bà vui mừng ra boong tàu chờ đợi, nhưng thiên hạ lại đi và thưa dần. Bà đành thui thủi ra về. Sau đó bà mới biết, là thiên hạ tới đón đoàn bóng đá!

Một vĩ nhân, một ân nhân của nhân loại với hai giải Nobel khoa học, độc nhứt vô song, đã quyên được một món quà quí giá để cứu nhân loại, mà không được mọi người trọng vọng, không được mọi người tiếp rước nồng nhiệt. Thật là một sự phũ phàng, bạc bẽo và bất công của xã hội ngày xưa.

Một người tiên phong trong mọi lãnh vực, đã từng làm rạng danh cho giới phụ nữ, vậy mà vẫn không được tôn vinh, thật là đau buồn cho nhân tình thế thái.

Bà không những là ân nhân của nước Pháp, mà còn là ân nhân của nhân loại nữa.

Ðây là một sự thật đau buồn, bạc bẽo thiếu công đạo của một xã hội tự do và văn minh đối với một siêu nhân vĩ đại nầy.

Xin mượn câu châm ngôn Pháp để kết luận bài nầy:

“Il est bien à plaindre celui qui part

sans qu ‘on dit adieu et revient

sans qu ‘on souhaite la bien venue “

 

‘Thương thay đi không người đưa,

Khi về không kẻ đón thưa chào mừng’.

nguoi dan ba bi lang quen 03

Ðây là nơi mà Bà Marie Curie chào đời ở Ba Lan (Ảnh LVB)