Nặng nề với bản lý lịch

Kinh Bồng (Trần Công Bình)

Tôi nhíu mày, ngó lom lom một người đàn ông lưng còm, ngồi vá lưới ở góc chiếc bè cá. Cái dáng vóc với tấm lưng và đôi chân dài sọc ấy, cái khuôn mặt ốm nhom, xương xẩu với đôi gò má nhô cao, dù đen sạm do nắng gió, nhưng không thể khác đi anh sinh viên Cao học mà tôi đã từng sinh hoạt chung trong Tổng hội.

Ngừng tay lưới, giả vờ vấn điếu thuốc rê, nhưng mắt người đàn ông vẫn kín đáo liếc về phía bàn nước đặt giữa nhà, nơi tôi và chủ bè cá đang uống nước.

– Nghỉ tay qua uống nước đi mậy Lượng.

Thôi đúng rồi, Lượng, Cao học 1 Văn chương Anh Mỹ đây mà. Tôi nhỏm dậy khỏi ghế nhào đến ôm lấy Lượng.

Đêm đó tôi ngủ lại trên bè cá, sau một xị đế chia 3 người, chủ bè kiếm cớ đi nằm, để tôi và Lượng tự do tâm sự.

Lượng là cháu một thiếu tướng Tư Lệnh Lực lượng Hòa Hảo Dân Xã Đảng năm 1949. Năm 1950 ông về hợp tác với chính phủ Bảo Đại rồi sau đó là Ngô đình Diệm. Mười năm trước khi hòa bình 1975, ông đã giải ngũ, nhưng cái lý lịch “cháu ngoại Thiếu Tướng” của Lượng nó đeo đẳng anh sinh viên Cao học đến hơn chục năm sau.

“Tụi chưa tốt nghiệp Cử Nhân thì tiếp tục học Cao Đẳng, còn tui vì đã xong Cử nhân rồi mà trường không mở tiếp Cao học nên không tiếp tục học. Đem cái lý lịch có ông ngoại là Thiếu Tướng, lại từng là Thiếu Tướng Hòa Hảo, chẳng có nơi nào nó nhận. Tui nản chí phải bỏ cả bằng cấp đi làm bất cứ nghề gì để kiếm sống. Có lúc vô tuốt trong Huệ Đức làm kế toán cho Tổ hợp khai thác đá. Đến khi Tổ hợp lên Hợp tác xã, Ban chủ nhiệm loại ra, không nói vì lý do gì, nhưng tôi phải tự hiểu. Tôi chạy qua núi Cấm xin làm bảo vệ Rừng, lúc đầu ăn lương công nhật. Được chín tháng, Ban Quản Lý gọi lên làm lý lịch để vào biên chế. Thế là tui bị văng ra. Từ lúc đó tui thấy là phải đi khỏi cái Xứ Long Xuyên này mà thôi. Bởi lẽ, chừng nào trong bản khai lý lịch người ta còn buộc khai tới ông nội và ông ngoại thì tui không thể có cơ hội là công nhân viên, nhứt là ở cái vùng mà quân đội Hòa Hảo là địch thủ một mất một còn với quân đội Việt Minh. Bạn bè chung trường nhiều đứa rủ tui đi vượt biên .Tui về Cù lao Ông Chưởng nói với má tui, bả chỉ cái mả ông ngoại rồi ngó cái “dinh Thiếu Tướng” nói: muốn đi con đợi má chết chôn kế ông ngoại, làm tròn chữ hiếu xong hãy đi.

Hết nước mà đói quá, tui theo thằng chủ bè này, cũng cùng dân Long Kiến, Chợ Mới với tui sang đây làm ăn. Cả năm mới về nhà một lần. Nhưng ở đất người, tui càng thấm thía cái món ngôn ngữ, tui vừa ôn tiếng Anh, vừa học tiếng Kam bập bẹ. Tiếng Anh thì càng đọc càng thấm, chứ tiếng Kam nói thì được chứ viết thứ chữ lăng quằng lích quỵt tui chịu”.

Nhắc đến tiếng Anh, tôi bỗng lóe lên cái vai trò của nó trong công tác Xuất Nhập Khẩu. Tay Giám Đốc của tôi thì bù trớt tiếng Anh, còn tôi là dân sinh ngữ 1 lúc ở Trung học là Pháp. Tôi nói với Lượng chuyến lấy đậu nành về Sài gòn lần này theo tôi về, tôi sẽ giới thiệu đến Giám đốc của tôi.

Thế là đi lòng vòng gần 15 năm Lượng mới xài lại được cái vốn Anh ngữ của mình.

Khi trích bài này từ trong tập hồi ký, tôi đưa cho một thằng bạn từng là quan chức cấp thành phố nay đã về hưu đọc để điều chỉnh xem có gì chưa chỉnh về từ ngữ, vì chuyện có liên quan đến lịch sử, tổ chức. Nó nói gọn lõn:

– Chuyện này thì xưa rồi, chuyện mới là “thái tử đảng và nạn giòng họ bổ nhiệm nhau ở các Tỉnh kìa !!! ”