Mùa Xuân lá khô!

đoàn xuân thu

mua-xuan-la-kho-1

Chiều nào, lúc 3 giờ rưỡi là lo chạy xe đến trường để rước đứa cháu nội gái tan học về, người viết luôn gặp một anh bạn già đã đến trước chờ con. Lâu dần… rồi quen.

Người viết ham vui, cưới vợ sớm, nên lên chức sớm… đến rước cháu nội.  Còn anh bạn già nầy, tuổi cũng gần bằng người viết, nhưng chắc hổng ham vui gì cho mấy… nên mãi tới năm 35 tuổi, ảnh mới cưới vợ. Chị nhà lại thuộc ‘tuýp’ người không mắn đẻ nên mãi gần chục năm sau, ráng hết sức mới móc được trong túi ra cho ảnh được một nàng công chúa. Thôi cưng hết biết!

Và khi nàng công chúa nầy đi học mẫu giáo chung với cháu nội của người viết thì ảnh đã quá… quá… bên kia nửa chừng xuân, trên năm chục rồi còn gì nữa. Cha già con mọn nên ai thấy cũng thương. Ai biểu trầm đò chi cho nó trễ!

Anh chỉ buồn bã trả lời: “Tại chiến tranh mà! Đâu ai muốn. Chỉ sợ ra trận lỡ có bề gì thì con dại cái mang vành khăn tang trắng!”

Đám học trò nhỏ híu ríu rít theo chân cô giáo từ trong lớp ra, để vào phòng họp ngồi, đứng… chờ phụ huynh tới rước. Thấy ông, bà hay cha, mẹ đến, cháu vội  chào cô giáo, kiểu Úc, bằng cách ‘high-five’ rồi theo người rước ra xe. Tuổi thơ là mùa xuân lá rất non xanh.

mua-xuan-la-kho-2Người viết làm ông; còn ảnh là cha nhưng rước cháu, rước con đều tay bồng, tay bế như nhau mặc dù nó hơi nặng rồi đó nha! Tay xách cặp, nón. Năm tới cháu vô lớp một, chắc ông bồng hết nổi rồi thì để ông nội cõng vậy. Rồi lớp Hai, lớp Ba, ông càng già, cháu càng lớn, cõng hổng nổi nữa thì mình dắt. Đúng là tuổi già… Mùa xuân lá khô.

Chiều nay đến hơi sơm sớm, ảnh bắt tay, ‘Chúc mừng Năm mới’ ‘Happy New Year’ làm mình sực nhớ. Ờ hé! Sắp hết Tháng Chạp rồi. Mùa xuân đã ‘dông’. Ngày dãn ra; đêm thun lại. Mùa hè đổ lửa Úc sắp đến. Những hàng cây hôm qua còn xanh lá… mà bữa nay những mảng lá xanh đã cháy vàng trong nắng đỏ.

Cuối năm các hội đoàn như hội cựu học sinh, hội cao niên… thường hay tổ chức tiệc tất niên ở nhà hàng, mình cũng lò dò đến… để ráng tìm vui. Bà con xúm lại hỏi: “Năm nay có về Việt Nam ăn Tết không?” Câu hỏi nầy mình nghe năm ngoái, rồi năm nay và chắc lại là năm tới. Câu trả lời là không? Quê cũ còn đâu nữa mà về. Nhà xưa tanh bành trong đạn lửa, thành phố xưa chúng đập tanh bành, rồi cất lại… cho giống Singapore. Về chi nữa cho thêm đau lòng mình lắm lắm!

Nhớ năm rồi, may mắn được hai đứa con trai, dâu, cháu nội dắt hai vợ chồng người viết đi Sunshine, ăn ‘yum cha’ nhà hàng Tàu để mừng  Năm mới của Việt Nam?!

Vợ chồng, con cái, cháu chắt ngồi đầy một bàn. Rôm rả, vui quá chừng chừng! Ăn xong,  tính móc bóp ra trả tiền như mọi khi. Hai đứa con trai xúm vô cản: ‘Ba à! Để cho tụi con tính bữa nay. Mấy ngày khác thì phần của Ba. Hi hi.’

Ngày vui, nhưng đêm, khi mấy nhỏ đã vọt xe về ngủ, (dẫu Tết Việt Nam) để sáng mai đi làm. Lại cô đơn! Già khó ngủ! Một mình rót một ly rượu đỏ. Ngồi tư lự cho tới nửa đêm để tiễn biệt một ngày năm cũ. Hẹn năm tới. Vâng Tết quê người buồn như vậy dù đã ráng hết sức để tìm vui.

mua-xuan-la-kho-3Còn quê mình xưa, Tết là những ngày vui lắm. Dẫu đất nước vẫn còn chìm trong cơn đạn lửa. Tết, ngày đầu năm lại là ngày đoàn tụ, dẫu đi năm sông bảy suối, chín núi ngàn đèo cũng lặn lội về thăm.

Tây thì khác, Giáng Sinh mới là ngày đoàn tụ gia đình, ăn bữa cơm chung gồm ông bà cha mẹ và con cháu trở về quần tụ dù mỗi đứa một nơi, tha phương cầu thực. Tết Tây, tụi nó xúm nhau ra ngoài city để xem đốt pháo bông đêm Giao Thừa. Đếm ngược đồng hồ, bụp, cả bầu trời xanh vàng tím đỏ, rồi hai đứa ‘hun’ nhau.

******

Giờ nầy đêm nay, cuối năm, ngồi một mình trước ly rượu nầy một mình con lại nhớ về quê cũ giờ đã xa hàng ngàn dặm biển, con lại nhớ đến Ba, nhớ Má, nhớ nhà xưa biết bao nhiêu mà nói. Những mùa khác, đêm đêm con cũng mơ, cũng nhớ về quê cũ nhưng năm cùng tháng tận con lại còn nhớ ác liệt hơn nữa? Kỷ niệm xưa… tràn về như sóng.

Nhớ hồi xưa nhà mình trong hẻm chợ Hai Mươi gần Ngã Tư đường Phan Thanh Giản và đường Cao Thắng. Con đi học trường tiểu học Bàn Cờ trong Cư Xá Đô Thành, lớp Nhì tức lớp Bốn bây giờ. Một bữa, cô giáo cho bài tập vẽ một bông hoa cúc. Hồi nhỏ, con nghĩ  ba cái gì cũng biết, cái gì ba cũng làm được. Con nít ở thành nhà cửa san sát, không có được một khoảng đất trống nho nhỏ nào để trồng cây, trồng bông, trồng hoa, thì làm sao có diễm phúc để biết bông cúc mặt tròn, mặt méo ra sao mà vẽ. Con nhờ ba vẽ giùm. Vô lớp cô giáo cho Ba một điểm. Thiệt cô của con không có con mắt thẩm mỹ chút nào.

Rồi lên lớp Nhứt, tức lớp Năm bây giờ, ba nộp đơn cho con thi vào Đệ Thất. Hai tuần sau kỳ thi, ba dắt con tới cổng trường Petrus Ký gần bùng binh Ngã Bảy Cộng Hòa, dò xem kết quả đậu rớt ra sao? Con được 56 điểm đậu hạng 176. Cái thằng đậu hạng chót chỉ được 45 điểm nghĩa là con của ba giỏi hơn con của người ta được 11 điểm. Còn cái thằng đậu thủ khoa được 81 điểm. Tên nó là Âu Dương Khoát nhưng không có bà con, dây mơ rễ má gì với Tây Độc Âu Dương Phong. Cái Trung tâm luyện thi Đệ Thất của nó, đậu chiếc xe Renault thời Bành Tổ, bắt ống loa trước cửa trường, la rùm, quảng cáo cho mấy đứa lỡ thi rớt năm nay, năm tới nhớ tới học nhe bây. Cái hay là cậu học trò đậu thủ khoa nầy phải thi tới lần thứ ba mới chiếm được bảng Trạng Nguyên. Mới thấy hồi xưa chỉ thi tuyển vào lớp Đệ Thất thôi mà đã trần ai khoai củ!

Ba dò thấy số báo danh của con mình trên bảng vàng, mừng quá, bèn móc túi ra cho con mười đồng, rồi dẫn con về đường Cao Thắng, trước cửa rạp hát bóng Đại Đồng để ăn hủ tiếu bò vò viên. Ôi! Tô hủ tiếu con ăn thời thơ dại đã lâu sao nhớ tới thuở bạc đầu.

mua-xuan-la-kho-4Chú Tiều tay không bóc bò vò viên thường và bò vò viên gân bỏ vào nồi nước súp đang sôi sùng sục trên bếp. Bò viên trụng trong nồi nước lèo nóng dần lên, cắn vào còn xì khói, mới thấy hết cái vị ngon, giòn hết sẩy. Chén tương đen tương đỏ được rắc thêm một chút ớt sa tế cay nồng ở phía trên. Những miếng cải bắc thảo muối rắc lên mặt tô hủ tiếu bò viên với ngò gai xắt nhuyễn. Tô hủ tiếu bò viên nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Cầm đũa lên ‘lua’ hủ tiếu, lấy muỗng múc bò vò viên, cắn nghe cái xực! (Người Triều Châu phản Thanh phục Minh không được, quang gánh chạy về phương Nam chỉ mang theo hủ tiếu bò vò viên mà sống hùng, sống mạnh, sống ‘phẻ re’ cho đến tận bây giờ. Ôi cái miền Nam dễ thương của cha con mình đã dang tay đón biết bao nhiêu người cùng khốn mà cuối cùng, cay nghiệt thay, là cha con mình không còn sống nổi nữa… phải bỏ nước ra đi!)

Mười một tuổi, mười hai tuổi, sức đang lớn, ăn nhiều, ăn mạnh. Một tô hủ tiếu bò vò viên chưa đã miệng, còn thòm thèm, dù mồ hôi từ chân tóc đã tươm ra đầy lên mặt, rồi chảy từng giọt, từng giọt một trên má. Ngon quá là ngon mà!

Ba kêu thêm cho con một tô gân, lòng bò, lá sách, tổ ong… cùng bò viên. Con cũng tự nhiên, cắm đầu quất láng. Cái lạ là Ba không ăn gì hết chỉ ngồi gần con và uống một cái xây chừng.

Ăn xong, ba trả tiền. Trên đường về nhà cho má hay là con thi đậu. Cả hai cha con mình cười hỉ hả. Năm chục năm sau con đã tìm được câu trả lời tại sao ba lại không cùng ăn với con? Câu trả lời rất đơn giản là nhà mình nghèo không có đủ tiền để trả.

Rồi lớn lên con ráng vào đại học, ngưng ngang giữa chừng vì Mùa Hè đỏ lửa nổ ra. Rồi giầy sô áo trận. Chiều cuối năm nào, dù bận hành quân, cũng mong (dù không bao giờ có), được đi phép, trở về nhà mình đoàn tụ. Con đã xa má, xa ba, xa mấy em, xa người yêu để đi trong mùa xuân lá khô. Đi trong vùng hành quân vùng xa xôi đá sỏi biết buồn. Đi giữa lạnh sang đông… Để hy vọng: Rồi có một ngày. Sẽ một ngày chinh chiến tàn…Trả súng đạn này. Khi sạch nợ sông núi rồi Anh trở về quê, trở về quê. Tìm tuổi thơ mất năm nao… Nhưng một mùa xuân hòa bình chỉ là ảo vọng.

Rồi mất miền Nam, ba và con lưu lạc quê người. Đã hai mươi mùa Xuân quê nhà con xa. Và hai mươi mùa lá khô ở Úc mà ngày quay trở về sao thấy vẫn còn xa! Ước vọng gia đình ta có Ba; bay trở về quê cũ thăm lại Má đã nằm yên dưới ba tấc đất ở ngã ba Hòa Tịnh, Mỹ Tho đã vỡ tan.

“Mộ má nhìn ra lộ Đông Dương. Như trông như ngóng người thương trở về. Người thương nay đã trở về. Dẫu tro than vẫn câu thề ngày xanh! Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy; anh mới đành xa em.”

Mười lăm năm trước, khi ba trở bệnh nặng ở Adelaide, từ Melbourne, trời sụp tối, con ra nhà ga ‘Southern Cross’ đi xe lửa suốt đêm về thăm ba kẻo không còn kịp nữa.

Đêm sau, Chủ Nhựt, lúc từ giã Ba, con quay trở về nhà để Thứ Hai đi làm; con móc trong túi ra hai trăm đô nói: ‘Ba giữ để uống cà phê.’

Hồi xưa, Ba cho con thì cả hai cha con mình đều cười. Bây giờ, con cho lại Ba thì cả hai cha con mình đều khóc.

Con bây giờ, chiều cuối năm viễn xứ, như là chiếc lá khô… Nhớ nhà xưa, nhớ Ba, nhớ Má… Có giọt lệ nào ứa ra từ chiếc lá khô trong quê người cuối năm chiều lửa đỏ.

đoàn xuân thu.

melbourne