Miền đất mới

Vưu Văn Tâm


Bài viết được chấp bút từ những kỷ niệm xa xứ của một người bạn đồng môn. Câu chuyện chỉ là một trang đời nhỏ bé trong hồi ức của hàng trăm ngàn người vượt biển. Quá khứ làm nên hiện tại. Cho dù hiện tại là thảm cỏ xanh hay lá vàng héo hắt, bạn vẫn luôn nhớ mình là ai, từ đâu đến và cố gắng mỗi ngày là một người tốt trong xã hội.


Sau mười tháng đợi chờ ở trại tị nạn Singapore, tôi đến Canada giữa mùa đông rét mướt. Hành trang của tôi chỉ vỏn vẹn hai bộ quần áo mang đi từ Việt-Nam và tấm giấy thông hành với con dấu “stateless” (vô tổ quốc).

mien dat moi 02Tôi được sắp xếp về ở chung với gia đình chú thím tại một “appartement” nhỏ hẹp với một phòng khách và hai phòng ngủ. Dãy nhà bốn tầng này chỉ dành riêng cho những người tị nạn mới đến hay những gia đình có thu nhập thấp. Tôi ở chung phòng với con trai của chú thím. Đồ đạc, vật dụng trong nhà phần lớn là do hội từ thiện, hội nhà thờ hay của người dân địa phương giàu lòng hào sảng mang đến giúp đỡ. Bước đầu phải hội nhập với xã hội mới nên chúng tôi được theo học một khóa Pháp ngữ và được lãnh tiền trợ cấp xã hội. Số tiền ít ỏi, không đủ chi tiêu trong tháng là nguyên nhân của những cau có, bực dọc trong gia đình. Chú thím tôi cũng không thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn, oan nghiệt. Hai người cãi nhau gần như mỗi ngày, cho dù là sáng sớm ban mai hay lúc quay quần bên bữa cơm chiều lặng lẽ. Tôi nghe hoài những ngôn ngữ chợ búa và cũng quen dần với những cảnh xô xát, bát nháo đó !

Sau một năm học tiếng Pháp, tôi được chuyển vào một trường trung học gần nhà. Mỗi ngày, tôi phải đi bộ ngang một công viên rộng lớn, dù mùa xuân cỏ hoa xanh tốt, hay trưa hè chói chang nắng lửa, dù mưa thu giăng kín khung trời cũng như những ngày mùa đông tuyết phủ trắng xóa. Thuở đó, người tị nạn còn thưa thớt lắm. Tôi là học sinh Á Đông duy nhất trong trường. Bạn bè da trắng nhìn tôi với ánh mắt tò mò và không mấy thân thiện. Thầy cô thương hại, hay hỏi han nhưng tôi cũng không hiểu được nhiều. Vốn liếng ngoại ngữ của tôi không đủ đong đầy đôi bàn tay thì lấy đâu ra lời lẽ để trả lời hay kết bạn. Nhưng có lẽ ông Trời thương và “ngó lại” nên tôi cũng vượt qua được kỳ thi cuối năm.

Thím tôi biết được một nhà hàng Việt-Nam cần tìm người phục vụ khách và phụ bếp. Sợ đi sớm về khuya một mình, thím kêu tôi đi cùng cho có bạn. Ông chủ chọn lựa người rất kỹ. Thím tôi không được nhận vì bị chê là không đủ khả năng, còn tôi thì được ông chủ chấp thuận. Tôi thầm nghĩ, có lẽ ông chủ “rét” vì thím tôi dáng người cao lớn như võ sĩ Karaté, ăn nói lanh lợi, khó mà ăn hiếp được. Công việc hằng ngày của tôi là rửa chén, phụ bếp và làm những việc lặt vặt, không tên ..

Nhà hàng này là một trong vài nhà hàng Việt-Nam hiếm hoi trong thành phố thời bấy giờ. Tuy diện tích hơi nhỏ một chút nhưng được gia chủ trưng bày khá lịch sự. Ánh sáng gian phòng lúc nào cũng được thắp đèn mờ với những ngọn nến trong lọ thủy tinh tròn tròn đặt trên mỗi bàn ăn, lung linh như đêm rằm tháng tám. Không hiểu sao người tây phương lại thích ăn uống trong khung cảnh mờ nhạt như vậy. Riêng tôi thì không hề thích cái khoảng này. Ăn tô phở mà không thấy được cọng hành xanh mướt, lát ớt đỏ au hay sợi phở trắng phau thì lấy gì để chiêm ngưỡng và thưởng thức !
Ông chủ tánh tình keo kiệt và hay quát tháo nhân viên. Nghe đâu trước đây ông là giáo sư ở Việt-Nam. Không rõ ông dạy môn gì, chứ xét theo thái độ và lời lẽ của ông mỗi khi phẫn nộ thì chắc chắn không phải là môn quốc văn !
Ngày đầu làm việc, tôi không được trả lương vì ông chủ bảo đó là ngày thử việc. Ông còn dặn thêm :
– Khi vắng khách mới được ăn cơm chiều và không được ăn tôm !

Giờ học của tôi từ sáng sớm đến xế chiều. Bước chân khỏi cổng trường, tôi cắp sách đi thẳng một mạch đến nhà hàng với cái bụng lép kẹp. Cũng may, chị bếp trưởng thương tình, thường cho tôi vài miếng thịt chiên hay đôi ba con tôm mỗi khi vắng mặt chủ. Vừa ăn tôi vừa nghe tiếng chị giục bên tai :
– Ăn mau mau lên nhỏ ơi, rồi còn rửa mớ chén bát nữa. Ông chủ về bắt gặp thì phiền lắm!

mien dat moi 01Tôi còn nhớ như in ngày đầu tiên đi phụ bếp. Vừa bước chân ra khỏi cửa nhà hàng, tôi đã ngửi thấy mùi dầu mỡ bám đầy trên tóc cũng như trên quần áo. Sương khuya xuống lành lạnh đôi vai, hầm Métro không một bóng người. Tôi chờ chuyến xe cuối cùng để về nhà. Nhà vốn dĩ là nơi chốn để đi về, nhưng ngôi nhà chất chứa bao nhiêu tình thương của mẹ cha giờ đã xa xôi lắm rồi. Ngồi trên bậc thang xi-măng, tôi vừa tủi thân, vừa bùi ngùi nhớ nhà, nhớ những ngày đạp xe đi học trên những con đường Sài-Gòn thêu hoa dệt gấm .. Nước mắt tôi tuôn trào như sông, như suối. Ánh đèn của đường hầm Métro hôm đó hình như cũng đồng cảm với tôi nên lung linh, vàng vọt.

Ba mươi mấy năm trôi đi thật nhanh, mới đó mà tuổi tôi đã hơn ngũ tuần. Những sợi tóc bạc cứ âm thầm tiễn đưa những sợi tóc xanh về miền dĩ vãng. Nợ công danh tôi đã trả hết, chỉ còn vương vấn nợ áo cơm. Tôi không còn di chuyển bằng Métro nữa, nhưng mỗi khi có dịp đi ngang chốn ấy, tôi hay nhìn vào những bậc thang ngày cũ .. Hình ảnh cậu bé “mồ côi” ngồi gục đầu nức nở dưới ánh đèn khuya vẫn hiện lên rõ nét. Cổ họng tôi nghẹn lại, trái tim tôi hình như bị khứa thêm một vết thật sâu ! Những giọt nước mắt đêm đó có lẽ sẽ theo tôi cho đến hết cuộc đời này.

08.08.2018