Long Hòa tôi yêu

Kinh Bồng (Trần công Bình)

Ban Thủy Sản Duyên Hải, nơi tôi công tác tám năm đặt văn phòng ở ngay Cần Thạnh Cần Giờ. Mặc dù đi công tác nhiều ở các xã ngư nghiệp, nhưng nơi mà tôi yêu thích nhất lại là Long Hòa. Giờ nghĩ lại thấy có những cảm giác ngồ ngộ, nó len lén thâm nhập vào cái con người Sài gòn của tôi lúc nào không biết ?!

Ngày đầu tiên vác ba lô xuống Ủy Ban Huyện, tôi phải lội bộ giữa ban trưa nắng gắt, trời như đổ lửa, trên con đường bụi đỏ dài lê thê từ cầu đò đến một khu nhà tôn , hai bên đường không một bóng mát của cây. Xã Cần Thạnh chào đón tôi trong cái không gian như thế. Và trong cả mấy tháng, làm việc trong khu nhà chữ U , vừa là nơi nghỉ ngơi, chung quanh không một cây xanh đã cho tôi định hình về cái nóng bức của một vùng biển, cái không khí mà mình sẽ phải chịu đựng lâu dài: nóng, khô hanh, nắng rát da mặt.

Chính vì thế, khi đi họp ở Xã Long Hòa, tôi mới òa vỡ và nhẹ người với cái không gian xanh, dễ chịu ngay từ khi bắt đầu vào ấp Long Thạnh của Xã. Cái ấn tượng mát mẻ về nông thôn mà tôi từng hưởng thụ ở xứ dừa rợp bóng quê tôi, chỉ Long Hòa mới có.

Thực vậy, trên chuyến xe lam ọp ẹp, khung xe run bần bật trên con đường tráng nhựa từ thời Pháp, loang lỗ lồi lõm, bụi đỏ bay tứ tung sau vết bánh xe làm tôi tưởng mình mình đang đóng một vai trong đoạn phim quay về vùng quê sau hòa bình năm 1954. Thế nhưng, cỏ xanh bên vệ đường rồi hàng rào me keo, những cây mít cổ thụ, những cây mảng cầu ta đã bắt đầu xuất hiện tạo thành một không gian khác hẵn, đánh dấu sự xuất hiện của làng mạc đúng như cái hiểu của tôi trong sách vở.

Và đây, Ủy Ban Xã Long Hòa mát mẻ cách khu vực đình Long Thạnh không xa. Một cụm cơ sở làm việc, tín ngưỡng được che chở bởi những cây me cổ thụ hàng trăm năm , xen lẫn hàng rào dâm bụp xanh đỏ đẹp mắt.

Cái không gian xanh ấy trải đều trong khắp ấp Long Thạnh, sắp dài hàng cây rải rác đến ấp Đồng Hòa. Sau này nhìn trên bản đồ không ảnh tôi thấy rõ hai khối cây xanh nối nhau bởi dãy cây xanh giống hình quả tạ. Đó là hình ảnh của Xã Long Hòa.

Đất địa ra sao thì người cũng như vậy.

Tôi đếm trong tập bút ký của tôi viết về Cần Giờ, trong số 12 nhân vật thì đến 8 người tôi viết là ở Long Hòa. Tình cảm tự nhiên tôi dành cho người Long Hòa nhiều đến như vậy, tôi cũng không biết tại sao nữa (?!)

Đó có phải chăng là hình ảnh ở Dì Hai Lựu, lúc nào cũng săng sái, mau lẹ trong việc chuẩn bị hậu cần, cơm nước cho các đoàn công tác từ Huyện, Thành Phố về họp ?

Đó có phải chăng là hình ảnh nhà không bao giờ đóng cửa của các ngư dân, trong đó có nhà chú Mười Thơi, chủ đáy nhưng sẵn sàng dành thời gian “chạy” nọc đáy và ngư lưới cụ cho sản xuất ?!.

Đó có phải chăng là hình ảnh mộc mạc, không biết tính toán, nghèo mà sang, của Dì Tám Ích. Dì làm hậu cần cho ghe liêm kiểm, được giao tiền lo ăn 10 ngày, nhưng 4 ngày đã hết nhẵn vì cho ăn sang ?!

Đó phải chăng là hình ảnh của chú Năm Mận, thư ký hợp tác xã đập Hòa Hiệp, người từng được chính phủ Ngô đình Diệm đưa đi Đài loan tham quan mô hình nông nghiệp. Làm thư ký hợp tác xã chú hiền như bụt, cặp ria mép cứ quặp xuống khi họp hành ?!

Đó phải chăng là hình ảnh uy tín nói sao làm vậy của chú Chín Thầy, làm thầy pháp nhưng là chủ nhiệm Hợp Tác Xã Đập, nói ra thì mọi người dân trong đập nghe răm rắp ?!

Đó phải chăng là hình ảnh rắn rỏi, ốm người nhanh nhạy, chuyên mặc áo dài tay, cài nút tay áo chỉnh tề, đội nón nỉ rộng vành, của Chú Ba Thử, thư ký ủy ban bao giờ cũng chu đáo đến trước giờ trong cuộc họp dù Xã hay Huyện ?!

Đó phải chăng là hình ảnh thân thương, ốm người của chú Hai Đực, chủ đáy, cha của anh Ba Hợp, người mà hai anh em “chi viện” như tôi và Chí thư viện ghé nhà ăn cơm chiều thứ bảy, ở lại chơi để lấy cái không khí gia đình, quên đi nỗi buồn xa nhà …?!

Đó phải chăng là hình ảnh nhỏ người của anh Phan văn Thành, Phó Chủ Tịch ngư nghiệp,gắn bó như hình với bóng cùng tôi bàn bạc trong nghề thủy sản, có nhà sau đình nơi tôi ăn dầm nằm dề khi xuống Long Hòa.

Đó phải chăng là “ông Hội Đồng Dư” do ngư dân Be thủ vai với cặp ria mép thấy ghét trong tuồng cải lương “Tiếng hò sông Hậu” diễn trước sân đình ?!

Còn nhiều, rất nhiều người thân quen mà hình ảnh không bao giờ phai mờ dù đã 40 năm qua. Như chú Tư Tất, tập kết về, quá hiểu về chuyện hợp tác xã miền Bắc nên rất miễn cưỡng khi đứng tên trong Ban Chủ Nhiệm. Chú Ba Kim, khỏe người, cứng cáp, gốc bộ đội tập kết vẫn giữ nguyên cốt cách, lối sống, sinh hoạt, suy nghĩ và vui với việc làm thơ. Chú Tư Bò, Chú Tư Hành chủ đáy sông Cầu cao to phong độ. Dì Ba Tảo, bà chủ hiếm hoi trong số phụ nữ hành nghề đáy…

Cái không gian sống, con người mộc mạc ấy làm nhẹ tênh con người xa nhà nhưng nặng trĩu tình cảm trong những tháng ngày tới lui công tác.

Đi tìm cảm giác lạ, mà cũng là thâm nhập “quần chúng”, tôi từng đi ra hàng đáy sông Cầu. Nhưng, lần đầu tiên ra đó, tôi thật thấy xấu hổ !

Khi chiếc ghe đáy cưỡi sóng đầu bạc nhấp nhô lúc lên cao ngất, lúc hụp xuống tưởng lút đầu dưới biển thì anh bạn đáy đã nhanh nhẹn canh lúc đầu ghe nhóc lên đã phóng mình chụp cây rượn đáy đu người lên. Tiếng sóng biển, tiếng máy tàu tranh nhau gào thét, người trên ghe và hàng đáy dù nói như thét cũng không thể nào nghe được. Lúc đó tôi mới thấm câu dân ngư nghiệp là hạng người “ăn đằng sóng, nói đằng gió”. Khi mọi bạn đáy lần lượt đu lên hết hàng rượn đáy, chỉ còn tôi và tài công trên ghe. Tôi ngồi im re không hó hé một tiếng nào, cũng chẳng biết số phận muốn đi thăm hàng đáy của mình ra sao. Còn đang lúng túng thì hai anh bạn đáy ló đầu ra khỏi chòi đáy, thò dây thừng thả xuống một cái thúng to, ra dấu bảo tôi leo vô thúng để mấy anh kéo lên. Thực là đáng xấu hổ cho một cán bộ hợp tác hóa nghề cá đi thực tế !

Đêm đó tôi ngủ lại hàng đáy. Đêm ở hàng đáy khơi mới thấy một Long Hòa gầm thét, giởn chơi với sóng biển, khác một trời một vực với Long Thạnh, Đồng Hòa hiền lành trên đất liền. Tôi nằm trên sàn chòi , dựng bởi cây nọc cái, đường kính một người ôm không giáp vòng tay. Vậy mà cái chòi cứ đu đưa, lắc lư, nước biển cứ ào ạt đập từng cơn vào nọc đáy, bắn tung lên ướt cả sàn chòi. Cứ như thế, biển như hoạnh hẹ tôi suốt cả đêm, không tài nào chợp mắt. Thực tình thì tôi ra đấy đâu phải để ngủ, nhưng sóng biển đẩy đưa làm mệt quá, mệt mà không thể ngủ được !.

Mấy anh bạn đáy câu được một con cá chình biển, bắt đầu nấu ngót, chiên tươi , bày mâm nhậu. Bấy giờ tôi mới tận mắt thấy cách ăn uống, nấu nướng của bạn đáy …sang đến bực nào !. Cá nguyên con cứ chặt đầu, bỏ đuôi quẳng xuống biển. Dân trên bờ cứ cái đầu mà mút , hút từng thớ thịt nhỏ mà ngọt ở mang tai cá. Tới lúc chiên cá, mấy anh đổ cả nửa lít dầu, chiên cá như chiên bánh tiêu. Đúng là chiên như vậy mới ngon, nhưng chính chủ đáy cũng dè sẻn, không dám xài dầu như thế !

Long Hòa những ngày sống cùng ngư dân, vui cùng bạn đáy đã cho tôi thật nhiều kỷ niệm, nhiều ký ức không bao giờ phai nhạt…