LÊ VĂN TRƯƠNG, VỐN SỐNG VÀ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN “NGƯỜI HÙNG”.

Kinh Bồng (Trần công Bình)

Sau năm 1954, hàng trăm tiểu thuyết của nhà văn Lê văn Trương viết trên các báo hoặc in ấn cách đó 20 năm đã được các nhà xuất bản Sài gòn in lại. Dân miền Nam thế hệ 50-60 có cơ hội thưởng lãm những tác phẩm mệnh danh là “người hùng”. Tôi là một trong những đọc giả nhiệt tình trong thời kỳ ấy.

Theo giáo sư Nguyễn huệ Chi thì tiểu thuyết của Lê văn Trương mang tính “triết lý sức mạnh”, biểu hiện qua nhân vật người hùng. Người hùng không chỉ oanh liệt trong cuộc phiêu lưu mạo hiểm, mà còn là người có lương tâm cao quý, gương mẫu. Đó là kiểu người hăng hái, xông pha, không từ nan trước mọi khó khăn, luôn gánh chịu phần thiệt thòi về mình, nhằm trừ tai cứu nạn, đem lại hạnh phúc cho người khác. (theo Wikipedia).

Nhà văn Lê văn Trương

Ở tuổi 11 tôi đã đọc ngấu nghiến những tác phẩm của ông vì nó hấp dẫn khi kể về hành động của người hùng. Tự thuở nhỏ, tôi đã thấm nhuần câu chữ Hán do cha tôi dạy “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã” (*). Sau đó là những câu thơ thuộc lòng trong Lục Vân Tiên tả về nghĩa cử của Vân Tiên cứu người hoạn nạn. Do đó, không lạ lẫm gì khi tôi say mê những trang tiểu thuyết với những tình tiết éo le, những câu chuyện thương tâm của những người nghèo khổ. Trong bối cảnh ấy, nhân vật tiểu thuyết của ông xuất hiện như những người nghĩa hiệp, ra tay “thế thiên hành đạo” (thay trời thực hiện đạo lý).

Trước tác của Lê văn Trương có gần 200 đầu sách, theo sự phân loại của GS. Phạm Thế Ngũ, thì số tác phẩm ấy, có thể phân chia thành ba loại:

• Loại truyện phiêu lưu ly kỳ của những trai tứ chiếng, gái giang hồ: Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích, Cô Tư Thung, Cánh sen trong bùn, Trường đời, Tôi thầu khoán, Những đồng tiền xiết máu, …

• Loại truyện đề cao những quan hệ tình cảm gia đình, với tấm gương mẫu mực của những người làm cha, làm mẹ, làm anh, làm vợ: Một người cha, Người anh cả, Người vợ lý tưởng, Người vợ hoàn toàn, Một đứa bé mồ côi, Con đường hạnh phúc, Đứa con hạnh phúc…

• Loại truyện phê phán, đả kích những thói hư tật xấu của Xã hội thượng lưu trưởng giả: Trong ao tù trưởng giả, Một lương tâm trong gió lốc, Đứa cháu đồng bạc, Một cô gái mới, Chồng chúng ta… (theo Wikipedia).

Bà Hỷ vợ đầu nhà văn và con gái Út Giáng Vân

Được ở không một năm tại nhà, chỉ nghỉ ngơi để dưỡng bệnh nên tôi đã đọc hết các tiểu thuyết của ông trong tủ sách gia đình.

Từ những tiểu thuyết ấy, tôi thực sự ngưỡng mộ tác giả Lê văn Trương, một con người ắt hẵn phải có một cuộc đời sôi nổi, với những vốn sống mãnh liệt, mới có thể cho ra đời những tác phẩm như thế. Tôi đã để tâm tìm hiểu, nhưng sau đó việc trở lại trường lớp đã buộc tôi phải tập trung vào chương trình học tập, không có nhiều điều kiện hiểu thêm về đời ông. Thông tin ít ỏi tôi biết được trên báo chí lúc bấy giờ là đám tang của ông, một đám tang nghèo lại do hội Nghệ Sĩ Sân Khấu đứng ra tổ chức…!

Ông trời quả khéo xếp đặt, hai mươi bảy năm sau, vào năm 1989, khi phải thường xuyên ra vào Hà Nội để làm công tác Xuất Nhập Khẩu, tôi lại được quen biết đi đến chỗ thân quen với gia đình ông. Điều đó thực là một hạnh phúc lớn lao đối với một đọc giả bình thường, một người do “cơm áo gạo tiền” không có cơ duyên làm nghề văn, lại được tiếp cận gia đình một nhà văn nổi tiếng trong những năm 30, thời kỳ bùng nổ của tiểu thuyết tự do.

Qua đó, những hiểu biết về ông được nhân lên, đã phần nào giải đáp thắc mắc của tôi gần 30 năm về trước.

Lê văn Trương sinh năm 1906, người Hà nội, nhưng cha ông lên lập nghiệp ở Bắc Giang nên ông học tiểu học ở đó. Năm 15 tuổi ông thi vào trường Bưởi (trung học Bảo Hộ ở Hà Nội), học đến năm thứ ba thì bị đuổi học vì cầm đầu học sinh chống ông hiệu trưởng chửi một học trò là dân “An nam bẩn thỉu” (Sale Anamite).

Năm 20 tuổi ông thi đậu vào Sở Dây Thép Đông Dương, ra trường được bổ đi làm ở Battambang (Cambodge). Nơi đây ông lập gia đình, về sau có được 5 người con (Lân, Liễn, Bổng, Linh và Giáng Vân). Năm 1930 (24 tuổi) ông bỏ việc đi khẩn đồn điền ở Mondokiri, được một năm thì bị phá sản phải bươn chải đủ thứ nghề từ thầu khoán đến buôn bò, buôn ngọc, kể cả buôn lậu tận Thái Lan…

Đến năm 1932, lúc 26 tuổi ông dắt vợ con về Hà Nội bắt đầu làm báo. Đây là thời kỳ sung sức nhất, giai đoạn phát triển cao độ trong nghiệp văn của ông. Ông viết cho các báo Trung Bắc Tân Văn, Tân Dân, Tiểu Thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Ích hữu,Truyền bá. Hàng trăm tác phẩm ra đời trong giai đoạn này. Ông trở nên nổi tiếng và giàu có nhờ tiền nhuận bút. Ông nổi tiếng đến độ để câu đọc giả, trên bìa tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nhà xuất bản in tên ông tuy chỉ là người đề tựa nhưng lại lớn gấp ba lần tên tác giả (!)

Có tiền, ông rất phong lưu, hào sảng với bè bạn. Ông lui tới vũ trường và lấy vợ hai là hoa khôi nổi danh mới 19 tuổi của vũ trường Fantasio và giao cho bà coi sóc một căn nhà ông cất ở Bắc Giang dùng làm nơi viết lách. Khi muốn nộp bản một tác phẩm như đã hứa do nhận tiền trước của nhà xuất bản, ông lên đấy, đóng cửa, lấy khăn lạnh quấn đầu, ngày đêm không ngủ viết liên tục chỉ một tuần là xong một tác phẩm dầy cộm. Ông nổi tiếng là người viết nhanh, có nhiều tác phẩm nhất thời ấy.

Viết xong, ông về Hà Nội, dẫn bạn bè rong chơi, vui thú. Nhỡ có ai lên Bắc Giang mà không có ông, ông đã chỉ nơi lấy chìa khóa nhà cứ tùy nghi mở khóa vào ăn ngủ tự nhiên; gạo, cá khô, mắm muối, ông đã bảo bà hai trữ sẵn để bè bạn tự do sử dụng. Mẫu chuyện này tôi đã đọc trong một tờ báo kịch trường viết vào những năm 1964.

Như nhà văn Nguyễn quang Sáng đã nói: Làm nhà văn, điều cần thiết nhất là vốn sống. Khi hiểu về cuộc sống, về cách sống, về sự trải đời trong ngần ấy năm của tuổi thanh niên sung sức, tôi hiểu được những tiểu thuyết “người hùng” của ông là sản phẩm của chính quan niệm sống của ông.Ông đã trải nghiệm đủ thứ trên đời, kể cả áp phiện.

Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông cùng người con trai cả tham gia kháng chiến. Ông được bổ nhiệm là Chủ Tịch Ủy Ban Đãi Vàng ở Bắc Bộ, sau đó về Tiểu Ban Văn Nghệ thuộc Ban Tuyên Huấn Phòng Chính Trị Quân Khu III. Ông cũng đã tham gia chiến dịch đánh Pháp ở Nam Định và Hòa Bình đồng thời tường thuật lại trong cuốn tiểu thuyết “Tôi là quân nhân”. Nhưng với cuốn tiểu thuyết này, ông bị lãnh đạo và đơn vị phê phán tơi bời vì cho là mang “chủ nghĩa anh hùng cá nhân”.

Năm 1953, bệnh gan tái phát, ông xin cấp trên về Hà Nội chữa bệnh. Ở Hà Nội ông cộng tác với báo Mới trong Sài Gòn và đầu năm 1954 ông vào hẳn Sài Gòn cùng bà vợ cả để viết báo, tái bản sách và làm thầu khoán.

Năm 1959 ông làm việc tại Đài Phát Thanh Sài Gòn .Được một thời gian thì bị một chuyện không may, đó là vì trùng tên với một người dám đả kích bà Trần lệ Xuân (vợ ông Ngô đình Nhu, bào đệ Tổng Thống Ngô đình Diệm). Ông bị gọi vào Phủ Tổng Thống cật vấn. Mặc dù sau đó vụ việc được sáng tỏ, nhưng bà Nhu vẫn dửng dưng phớt lờ và Đài Phát Thanh đã sa thải ông (!).

Họa vô đơn chí, lúc đó sách in không bán được, việc kinh doanh đình đốn, khủng hoảng tài chính, gia cảnh ông bắt đầu suy sụp.

Thiếu tiền, ông cắt việc hút thuốc phiện, một thú vui được cho là “cách chơi, phong cách” (style, motype) từ thập niên 20-30 của những văn nhân thi sĩ (!). Nhưng cắt cơn nghiện không phải chuyện đùa. Nó đã hành hạ vật vã ông dữ dội, đang nằm trên giường ông bị văng xuống đất. Lúc này mới thấy cái nghị lực phi thường của ông.Ông đã cương quyết nói với vợ, bỏ là bỏ. Và ông đã thực sự bỏ được.

Chỉ có điều đáng buồn, lúc đó sức đã kiệt, tuổi đã lớn, những năm 1960 ông không viết được thêm gì nhiều. Ông mất năm ông 58 tuổi, trong một hoàn cảnh khốn khó …!

Các tiểu thuyết của nhà văn

Văn chương của ông, theo một số nhà phê bình văn học thì không được viết một cách trau chuốt, cẩn thận, mẫu mực như của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Chính hồi nhỏ, ba tôi cũng đã khuyên tôi muốn luyện văn nên bắt chước cách hành văn của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo và sau này là Nguyễn hiến Lê.

Nhưng, dầu sao thưởng thức tiểu thuyết cũng tùy thuộc vào “khẩu vị”. Những chuyện “người hùng” của ông đã tạo nên nét riêng của một nhà văn tự do, độc lập, không thể có một tôn chỉ, mục đích rõ ràng như một Văn Đoàn được.

Dẫu sao, trong lòng tôi vẫn rất ấn tượng về ông!

(*): Thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là người dũng khí.

(*): (Một người thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là người có dũng khí)