Làng Vĩnh Lợi và làng Bình Ninh

Kinh Bồng (Trần Công Bình)

Tuổi già mình nhớ tha thiết vùng quê Nam Bộ hồi xưa:

Làng Vĩnh Lợi và làng Bình Ninh

Đó là hai làng bên Nội và Ngoại tôi.

Hai làng chỉ cách nhau có 20 cây số, nối với nhau bằng con lộ dây thép trải đá đỏ. Gọi là lộ dây thép vì dọc bên đường, cứ cách khoảng 100 m có một trụ dây thép, trên đó mắc đường dây bằng thép để nối liên lạc giữa tỉnh Mỹ Tho và Gò Công. Phương tiện liên lạc là morse. Đường dây được thành lập 2 năm sau khi Tây tái chiếm Gò Công và Mỹ Tho năm 1945.

Một buổi sáng, ngày tốt, giờ hoàng đạo, ông Cả Mão làng Vĩnh Lợi áo dài khăn đống cùng bà Hương Cả trang phục chỉnh tề trên chiếc xe thổ mộ một ngựa kéo hướng về phía Mỹ Tho đi hỏi vợ cho con. Đến ngã ba rẽ vào làng Bình Ninh thì mặt trời lên cao nửa thước khỏi ngọn dừa, sợ nắng, ông bà Hương Cả quẹo vào xóm nghỉ chân. Hỏi thăm người làng thì biết được ở đây có Ông Hương Quản Tư, tên Mùi, gia đình đức độ, thiệt tốt có 2 đứa con gái mới lớn, chưa chồng.

Từ ngã ba lộ dây thép vào làng là hàng dừa ăn trái thấp trồng bên bờ một con kinh lấy nước tưới dãy ruộng dài mút mắt. Con kinh chạy dài từ Đài Chiến Sĩ Trận Vong hình tháp đến kinh Chợ Gạo. Ông Cả biết rõ kinh này tên là kinh Tham Thu, lấy tên người đứng coi đào kinh, chạy dài từ kinh Chợ Gạo đến tỉnh lỵ Gò Công. Tham Thu là ông nội của Hương Quản Tư. Vai vế như thế cũng tương xứng để Hương Cả Mão (ông nội tôi), đến nhà Hương Quản Tư hỏi vợ cho con. Hương Quản Tư chính là ông ngoại tôi sau này.

Bình Ninh là một làng vừa có ruộng, vừa có vườn, nhưng vườn nhiều hơn ruộng. Vườn trồng đa phần cây ăn trái: mảng cầu , dừa xiêm uống nước mát ngọt, sa pô chê, ổi, mít, mận ,soài. Ở mấy cái miếu còn có mấy cây da xà, gốc to ba người ôm hoặc mấy cây me hàng trăm năm, tới mùa trái rụng đầy sân. Làng này từng là nơi trú quân của tiểu đoàn Nguyễn văn Sĩ hành quân từ Gò Công, rải quân ở các cây me trong làng. Ông Sĩ thì dùng nhà của Hương Bộ Bảy sau nhà ngoại tôi làm Bộ Chỉ Huy Bình Ninh kế làng An Thạnh Thủy, giáp làng Bình Phục Nhì, Bình Phục Nhứt. Mấy làng liên kế vườn tượt um tùm, do đó thuận lợi cho hoạt động du kích. Hơn thế nữa, các làng dựa bờ sông cửa Tiểu, qua sông là Cồn Tân Thới cây hoang mọc um tùm, qua cồn đã là Bình Đại Bến Tre, căn cứ địa của nghĩa quân từ thời chống Pháp.

Làng Bình Ninh còn có một con đường đất đỏ nối với làng Vĩnh Lợi, nhưng phải vòng qua làng Vĩnh Hựu ở Cống Ba Nò. Cống này dùng chặn nước mặn từ sông Cửa Tiểu vào mùa nắng. Nơi đây có một chiếc xe đò tư nhân, lâu đời hiệu Thiên Thành chạy từ Vàm Giồng đến ngã ba Đài Chiến Sĩ Trận Vong, vòng qua cầu sắt Bình Ninh ra lộ dây thép để đi Sài Gòn qua ngã phà Chợ Gạo.

Tuổi thơ của tôi ăn sâu hình ảnh bà ngoại miệng nhai trầu, tay phải cầm bó đuốc lá dừa, tay trái xách túi đệm, đêm khuya còn tối thui, đi bộ đưa chị Hai và tôi ra ngã ba Đài Chiến sĩ đón xe đò về Sài Gòn. Chợ Bình Ninh đã nhóm đông, nhưng người bán còn phải đốt đèn dầu hột vịt, lao xao tiếng gà quan quát, tiếng vịt lạp cạp, tiếng chặt thịt ình ịch, tiếng ơi ới gọi bạn hàng. Lần nào ngoại tôi cũng ghé gánh bắp giã mua cho chị em tôi 2 gói và 3 gói gởi mấy đứa em ở Sài gòn. Tôi khoái nhất món này, thứ bắp giã không còn vỏ, trắng đục, có nước nhơn nhớt, ngọt vì trộn đường và bùi vì có rắc mè, thêm miếng dừa nạo beo béo. Bắp gói bằng miếng lá chuối xanh, xúc ăn bằng miếng sống dừa. Toàn bộ là vật dụng xanh, tự hủy, không ô nhiễm môi trường. Hóa ra sau 60 năm chạy đua theo sự phát triển của vật dụng có nguồn gốc Carbon, người “văn minh” trở lại với thời kỳ sống tự nhiên xa xưa.(?!)

Trong thời kỳ đồng khởi 1963-1966, con đường này bị du kích đào phá, đặt mìn cấm xe chạy. Cây cầu sắt Bình Ninh cũng bị gỡ ván, xe không qua được. Mấy năm đó, ngoại cũng không cho chị em tôi về vì bất an ninh.

Làng Vĩnh Lợi lớn hơn làng Bình Ninh nhiều. Có tới mấy đồn lính địa phương, trong đó có một đồn giáp làng Bình Ninh. Hồi phong trào Việt Minh, khi Tây bố, trai tráng trong phong trào Thanh Niên Tiền Phong phải chạy dạt qua làng Bình Ninh. Vĩnh Lợi giáp làng Vĩnh Hựu bằng một con sông nhỏ chạy từ Cửa Tiểu, qua đập Ba Nò lên tới Gò Công. Đó là phương tiện di chuyển của người dân đi chợ Hòa Đồng hoặc chở dừa đi bán ở Tỉnh Gò Công. Xe đò Thiên Thành có một chuyến đi từ Gò Công, ghé chợ Hòa Đồng rồi theo đường lộ dây thép đi Mỹ Tho lên Sài Gòn. Chuyến về Thiên Thành chạy ngược lại. Hồi những năm 1950, tuyến xe qua phà Cầu Nổi, Cần Đước, Cần Giuột lên Sài Gòn không được khai thác vì lộ xấu, bất an ninh, nhất là con đường qua Cần Giuột và Cần Đước. Do đó, từ Sài Gòn về, tôi đi đường Mỹ Tho, lần nào cũng ghé chợ Hòa Đồng mua bánh giá. Bánh giá Hòa Đồng ngon có tiếng. Đó là đặc sản của quê nội, một chợ Quận nhưng có một món ăn truyền thống nổi tiếng cả nước. Bánh được làm từ bột gạo, trộn nước sền sệt, dùng một cái vá múc bột vào, để nhưn bên gồm tôm, gan, thịt bầm, chiên phồng xong gắn 2 con tôm còn đủ đầu và râu lên mặt bánh, xếp đâu đầu vào nhau rất nghệ thuật. Bánh phải ăn nóng với rau sống, bún, hoặc bánh hỏi, chấm nước mắm ớt thì tuyệt vời.

Chợ Hòa Đồng nằm bên bờ sông Hòa Đồng, có cây cầu sắt bắt qua sông, qua cầu rẽ phải là đi vào chợ. Bên kia chợ là dinh Quận Trưởng, kế bên là đồn lính có lô cốt quay mặt ra sông. Làng Vĩnh Lợi bắt đầu bằng chợ Hòa đồng (thời Pháp thuộc gọi là chợ Giồng), giáp với làng Thạnh Trị ở phía Bắc. Chính Thạnh Trị là đất địa của giòng họ Trần Công, nơi đây từng có hàng trăm mẫu ruộng của ông cố tôi tên Trần công Hòa, lúc sinh tiền làm Cai Tổng coi 4 làng. Ông đã đắp một cái đập kiểm soát nước mặn vào khu ruộng 4 làng nên được dân chúng đặt tên là đập Ông Hòa.

Gần chợ có ngôi biệt thự cổ của Hội Đồng My xây trên một vuông đất cạnh bờ sông Hòa Đồng, nền cao 1 thước, có hầm vừa để chứa nước, vừa để giữ mát cho gian nhà. Căn nhà từng là nơi đóng quân của Ủy Ban Hành Kháng Quận Chợ Giồng hồi kháng Pháp, đến sau năm 1975, từng được mượn làm phim “Ngọn cỏ gió đùa” lấy theo tiểu thuyết của nhà văn Nam Bộ Hồ biểu Chánh. Trong làng cũng còn có 2 căn nhà cổ, ngói đỏ, cột kèo xưa, cũng từng được mượn làm cảnh trong các phim về Nam Bộ.

Trong các kỳ nghỉ hè ở trung học, tôi xách xe đạp đi lang thang trong làng, quanh co trong thôn xóm, len lõi qua các kinh, rạch, băng qua các cây cầu dừa có tay vịn. Không gian yên tĩnh, không một âm thanh , không một chút bụi bậm, cảnh vật như yên ngủ dưới vườn dừa rợp bóng. Quê nội đối với tuổi thơ mát hơn quê ngoại, trù phú hơn quê ngoại. Nhưng tự trong tiềm thức, tôi thương ngoại hơn nội. Không biết tại sao nữa …!!!