XIII

CÓ LÀM MỚI CÓ MÀ ĂN

Tiền Vĩnh Lạc

Ngoài thuốc lá và lò nhuộm, làng An Nhơn không có hãng xưởng hay cơ sở kinh tế nào dùng nhiều nhơn công. Ngoài hai ngành trên, dân làng không làm ruộng, làm rẫy thì sanh sống bằng những nghề thủ công lặt vặt như các làng kế cận: thợ may, thợ hớt tóc, thợ rèn, thợ đóng móng ngựa, thợ sửa xe máy (xe đạp chớ không phải xe gắn máy như Honda ngày nay), sửa đèn măng-sông, đánh xe thổ mộ, cắt cỏ cho ngựa ăn, v.v… 

Cả làng chỉ có vài tiệm hớt tóc. Thanh niên trong làng khi rảnh việc thường tới tiệm hớt tóc để … chơi! Mỗi tháng tới hớt tóc một lần, những lần khác tới là để đánh cờ tướng với anh thợ, hoặc nhờ ảnh dạy đờn: đờn cò, đờn kìm, đờn gáo. Gần đường Hàng Điệp có một căn phố vách ván, lợp ngói, làm tiệm hớt tóc. Mặt tiền sơn mấy chữ như sau:

Bên trong, trên tấm kiếng, có một bảng nhỏ ghi giá tiền:

TARIF

Người lớn ……….. 10 xu      Européen …. 20 cents

Trẻ em …………..     5 xu       Enfant ……. 10 cents

Ba có thấy ông Tây nào vô tiệm hớt tóc này đâu!  Như vậy đủ biết cách nay hơn bảy mươi năm, người mình cũng thích xài chữ Tây trên bảng hiệu. Và “cơ chế hai giá” cũng đã có từ thời đó! 

Gần tấm kiếng có một sợi dây da bóng lưỡng, bề ngang chừng 6cm – 7cm, treo tòn ten trên cây cột để cho anh thợ liếc dao cạo trước khi cạo râu, cạo mặt cho khách. Bên kia vách lại có treo một cây đờn kìm. Chỗ cột dây đờn có con dơi bằng cây, phía trên có con cóc cũng bằng cây, hai dây đờn căng trên lưng con cóc, chạy xuống móc vô con dơi. Thời đó, cây đờn kìm nào cũng có con dơi, con cóc giống như vậy. Dưới chỗ treo đờn có để một cái bàn thấp, nhỏ, hai bên có hai cái ghế cây. Trên bàn có để một bàn cờ tướng. Mỗi lần ba đi học, hoặc đi học về ngang qua “Salon de Coiffure” này ít khi thấy ai hớt tóc, mà thường thấy anh thợ hớt tóc đánh cờ tướng hoặc đờn kìm, có hai ba người khác coi đánh cờ, nghe đờn để giải buồn.

Gần chợ An Nhơn có tiệm hớt tóc của Cậu Ba Định, không có bảng hiệu gì hết. Ai ngó vô, thấy tấm kiếng lớn gắn trên vách, trước một cái ghế cao có lưng dựa và chỗ kê đầu thì biết ngay đó là tiệm hớt tóc. Cậu Ba hớt khéo, lại ở gần chợ, nên khách đông hơn tiệm ở gần ngã ba Hàng Điệp. “Đông khách” ở đây nghĩa là ngày nào cũng có bốn năm người lớn, có khi dắt theo con nít tới hớt tóc. Mỗi ngày kiếm bốn năm mươi xu là đủ sống rồi. Cậu Ba đờn cò hay lắm. Buổi sáng, khi vắng khách thì cậu Ba đánh cờ tướng với mấy người quen tới chơi. Buổi chiều chẳng mấy khi có khách, cậu Ba lấy cây đờn cò ra kéo, tay trái nhấn nhá hai sợi dây, tay mặt nhẹ nhàng đưa cung đờn qua lại, tiếng đờn cò ngân nga khi vui, khi buồn, nghe hay hết sức. Nghe riết rồi quen, từ đó ba rất thích cổ nhạc Việt Nam.

Nhưng có hai chỗ ba ưa tới chơi nhứt là lò rèn và chỗ đóng móng ngựa.

Ba nhớ hồi đó có một cái lò rèn ở miếng đất trống khá rộng gần ga xe lửa, và một cái lò rèn nữa ở đường xuống Bến Đình. Cái lò rèn ở gần ga xe lửa mái lá, cột tre, không có vách. Một bên dựng hai ống bễ, có dán hai câu liễn bằng chữ Nho viết trên giấy hồng điều. Chính giữa để một cái lò bằng sắt hình vuông, trét đất sét bên trong, lửa than cháy đỏ rực. Kế bên có một cái đe, thợ đặt miếng sắt nướng đỏ lên đó, lấy búa đập cho thành món đồ người ta mướn rèn. Gần bên đe có một vũng nước bùn nhỏ, để trui thép. Ngoài ra, còn có một cái lò nhỏ hơn, thổi lửa bằng ống thụt. Sắt, thép, dụng cụ để đại trên nền đất, không có thứ tự gì hết.

Ông thợ rèn lấy một miếng sắt giẹp, lớn bằng bàn tay bỏ vô lò lửa. Một anh thanh niên đứng thụt ống bễ, tiếng gió phát ra kêu “phùm! phùm!”. Lò lửa cháy đỏ rực, than nổ lốp bốp, bắn tàn lửa văng tứ tung như pháo bông. Không bao lâu miếng sắt trong lò đỏ lòm, một màu như cục than đỏ, đẹp lắm. Ông thợ rèn lấy kẹp sắt kẹp miếng sắt đỏ đặt lên trên đe, tay mặt cầm một cái búa lớn đập lên miếng sắt. Đập vài cái thì miếng sắt giẹp, dài ra. Sắt hết đỏ thì cứng trở lại, ông thợ lại bỏ vô lò, nướng tiếp. Đốt rồi đập, đập rồi lại đốt nữa. Chẳng bao lâu, miếng sắt giẹp ban đầu đã thành một cái rựa quéo, hay thiệt! Ông thợ lại đốt cái rựa cho đỏ, rồi lấy kẹp kẹp ra, nhúng vô vũng nước bùn. Vừa nhúng vô, nước sôi lên kêu một cái “xèo!”, hơi nước bay lên trắng xóa. Ba hỏi ông thợ: “Sao ông nhúng vô nước làm chi vậy?” Ông thợ nói : “Trui cho nó thành thép, rựa chém vô cây mới không mẻ.” Nói rồi, ổng quăng cái rựa qua chỗ ông mài dao. Ông này kẹp cái rựa vô con ngựa cây, lấy đồ gọt cái mép rựa cho mỏng. Cái đồ gọt thép này làm bằng giống gì mà bén dữ: cái rựa bằng thép mà nó gọt ngọt xớt như dao gọt vô cây. Gọt rồi, ổng quăng cái rựa cho ông thợ khác tra cán, rồi mài lên cục đá mài dao cho thiệt bén. Cái rựa làm xong, đem dựng vô một cái giá, chờ người tới lấy.

Lò rèn này ngày nào cũng đỏ lửa. Ông thợ này giỏi lắm, rèn đủ thứ dụng cụ: dao phay, dao yếm, dao bầu, dao xắt chuối cho heo ăn, rựa, câu liêm, liềm gặt lúa, móng ngựa, móng bò, răng bừa, lưỡi cày, lưỡi cuốc, chỉa ba, v.v… thứ nào ổng cũng làm được hết. Nghe nói rèn lưỡi cày là khó nhứt. Ba cũng muốn coi người ta rèn cái niền sắt cho bánh xe bò, lớn lắm, mà chưa có lần nào được coi.

Lò rèn
(Hình từ Internet)

Ba cũng ưa coi đóng móng ngựa ở chỗ khoảng đất trống gần lò rèn. Người ta dắt con ngựa cột vô một gốc cây, lấy tay vỗ vỗ lên cổ nó, biểu nó đứng yên. Một anh thanh niên quạt cho than trong lò cháy đỏ trong lúc ông thợ nói chuyện với chủ ngựa. Con ngựa này đã được đóng móng nhiều lần rồi, nên nó đã quen, không vùng vẫy hay tỏ vẻ sợ sệt. Ông thợ bỏ mấy cái móng ngựa mới vô lò đặt kế bên chỗ cột ngựa để nướng cho nóng lên. Anh thanh niên đứng chưn trái thẳng, hơi lệch về phía sau, chưn mặt hơi gập lại. Anh bắt một chưn sau của con ngựa để lên đùi, lật ngửa móng ngựa lên cho ông thợ lấy kềm nhổ mấy cây đinh để lấy cái móng cũ đã quá mòn ra. Kế đó, ổng lấy một cái giũa lớn, giũa cái móng con ngựa cho sạch. Con ngựa không đau, để yên. Lúc này mấy cái móng ngựa mới trong lò đã nóng lắm. Ông thợ khéo léo lấy kẹp kẹp chặt một cái móng, đặt ngay ngắn lên móng chưn con ngựa. Khi cái móng bằng sắt nóng vừa chạm vô móng chưn con ngựa, ba nghe “xèo” một tiếng, khói bay lên khét lẹt, vậy mà con ngựa cũng đứng yên, không tỏ vẻ sợ sệt, chỉ hơi nhúc nhích cái chưn một chút. Làm cái này phải quen tay lắm mới được, phải đặt cái móng ngựa lên móng chưn ngựa thật ngay ngắn, một lần một. Chưa lần nào ba thấy ông thợ làm rớt cái móng ngựa nóng hực lên đùi anh thợ phụ! Kế đó, ông thợ lấy một cây đinh thân vuông – chớ không phải đinh tròn như đinh làm nhà – dài chừng ba phân đóng vô móng ngựa đã đục lỗ sẵn. Lần lượt đóng năm sáu cây đinh vô, móng ngựa đã đóng chắc chắn, khít khao. Xong chưn này tới chưn kia. Có khi thay hết bốn móng, có khi chỉ thay hai móng sau mà thôi. Xong rồi, tháo con ngựa ra, dắt cho nó đi vài bước trên đường nhựa, nghe “lốc cốc! lốc cốc!” Con ngựa gặc gặc cái đầu, cái đuôi ngoắt qua, ngoắt lại coi bộ vừa ý: “Trả tiền đi ông chủ!”.