KỶ NIỆM LỚP 11C2 NIÊN KHÓA 1979-1980 (NĂM ĐẦU THẬP KỶ 80)

(Trích HỒI ỨC VỀ TRƯỜNG XƯA – Trần Hữu Hiệp 6/1-9/1- C2 khóa 1974-1981)

Tran Huu Hiep - photo 2

Sau một năm gạn đục khơi trong, tình bạn của 11C2 phát triển tốt.
Năm đó lớp có thêm một số nhân vật mới. Nữ thì có Thanh Nhãn, Ngọc Phú, Thị Kiều, nam thì có Cao Lữ, Văn Sư, Tiến Phúc, Quốc Trị. Thầy chủ nhiệm năm lớp 11 là thầy Đoàn Ngọc Tăng.

1/ PHÍA CUỐI LỚP 
Hồi đó, các bạn bàn trên muốn nói chuyện với bàn dưới thì phải quay xuống. Mỗi lần như vậy, các bạn thường bị nhắc nhở bằng một khẩu lệnh ngắn gọn: quay lên. Các bạn dưới lợi dụng ưu thế này thường ghẹo mấy bạn ngồi trên. Tôi hay chọc mấy bạn nữ lắm. “Nga!”. Nga quay xuống nhìn tôi như hỏi có việc gì không. Tôi nói tỉnh bơ: “Quay lên”, Đơn giản thế mà nhiều bạn tức cành hông về cái trò này.

Sau lưng giáo viên có một cánh cửa. cánh cửa này hình như chẳng bao giờ xài tới. Vậy mà nó lại hữu dụng. Qua mấy cái lổ, mấy thằng ngồi bàn cuối của C2 dãy đối diện với bàn thầy cô thường ngắm mấy bạn gái xinh như hoa của C3. Thỉnh thoảng, anh em lại đổi chỗ cho nhau để ngắm. Nói vậy thôi chứ ngắm được mấy bạn gái thì ít, ngắm đít của thầy cô thì nhiều. Đến năm lớp 12, do đổi bên, học ở hành lang đối diện nên tầm ngắm chuyển sang C1.

Phía cuối lớp thường được xem là xóm nhà lá. Đây là nơi hội tụ anh hào. Cũng từ xóm này, Đỗ Bá Văn, Nguyễn Nhã Hiền, Đỗ cao Lữ, Phúc sao tháng tám …làm thành một nhóm vui ở phía cửa hậu. Đỗ Cao Lữ có tài vẽ rất đẹp. Hắn thường đem hình ảnh tươi mát vào lớp. Hắn còn là tay guitar classic, học trò của Hoàng Bửu, thường đem theo cây guitar vào lớp, đánh những bài cổ điển như Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ, Les yeux noirs…Vào giờ ra chơi, không ít bạn đã xúm lại xung quanh để nghe Lữ độc tấu. Nhân duyên của Lâm Sinh thọ với cây đàn guitar cũng bắt đầu từ đây. Có lần trong giờ cô Hạnh dạy văn, Cao Lữ hỏi cô vì sao Thúy Kiều lưu lạc giang hồ ngần ấy năm mà không có con. Cô tức giận lắm giảng morale hết nửa tiếng đồng hồ.

Nguyễn Tiến Phúc, Nguyễn Anh Tuấn, Huỳnh Quang Phúc (Sao tháng tám) thì hiền hơn. Nhóm này rất khoái đánh bóng rỗ. Không ít lần, nhóm bóng rỗ vào lớp với chiềc áo ướt đẩm mồ hôi. Nguyễn Tiến Phúc rất giỏi Pháp văn. Quang Phúc, Anh Tuấn thì rất hiền, nhiều khi tôi muốn chọc ghẹo nhưng nghĩ lại không nỡ. Cũng từ phía này, có lần Kiệt lặc giả làm thầy Long dạy Pháp văn. Kiệt lặc mang cặp nhóp, ngậm ống tẩu, trề trề môi, nhướng nhướng mắt. Cả lớp được một phen cười lộn ruột.

Đỗ Bá Văn và Nguyễn Nhã Hiền thì hợp thành một cặp ăn ý. Không biết gia đình Bá Văn có chuyện gì, nét mặt nó thường hay buồn. Nó cũng rất công tử. Một lần trên sân banh, do nó tặng cho lớp trái banh da, cả lớp để cho nó lừa qua tất cả 10 cầu thủ rồi ghi bàn giống như Pélé vậy. Thế mà anh chàng phục phịch khi chỉ còn đối diện với thủ môn, sút cũng muốn không nổi. Nguyễn Nhã Hiền là tay thủ môn. Hiền nói giọng Bắc, có cú bay người rất điệu nghệ. Ngày xưa, lớp C2 có Vũ Anh Tuấn + Chính lú ở hàng tiền đạo, Công Trình + + Tăng Như Thịnh + Hùng Kampuchia + Văn Sư ở hàng tiền vệ, trung vệ thì có Phan Bảo Định. Ngoài ra còn có một số anh em khác tham gia như Bùi trọng Hiếu, Nguyễn Việt Dũng…Năm lớp 11, C2 là lớp duy nhất không liên quân vào được đến bán kết.

Phía cuối lớp dãy giữa là nơi đánh bài xập xám, trong đó có tôi. 2 thằng bàn trên, hai thằng bàn dưới làm thành một tứ giác xập xám. Đánh cho vui thôi chứ đâu có tiền bạc gì. Trong cuốn kỷ yếu của 12C2, tôi có nhắc vụ này, có lời xin lỗi thầy Long về việc đánh xập xám trong giờ của thầy, hứa sẽ đạt 8 điểm Pháp văn trong kỳ thi học kỳ 1. Rất may tôi đã làm được điều này. Rất may vì sau khi làm hết bài chỉ còn một câu cuối là câu dịch từ tiếng Việt ra tiếng Pháp (2đ). Tôi không làm được vì câu này không có trong bài học. Ở dãy kế bên, Cao Thị Ngọc Loan thấy tôi cắn bút, quăng cho tờ giấy. Tôi suy nghĩ mãi, không biết có nên nhận và chép không. Cuối cùng, thà chết vinh hơn sống nhục, tôi bỏ hẳn câu cuối, không ghi dù chỉ một chữ. Khi phát bài, thầy Long có nói về trường hợp của này, Thầy không hiểu sao tôi không ghi một chữ nào ở câu đó. Nếu cố gắng ghi một vài chữ thầy sẽ cho thêm được môt ít điểm. Tôi nhận đúng 8 điểm nhưng cũng nhận ra cái sai của mình khi ứng xử như vậy.

2/ PHÍA TRÊN 
Dan Petrus Ky 01Sau nhiều oan án, trong giờ chủ nhiệm, thầy Tăng nói tôi là tay cầm đầu phá. Thực là vinh hạnh. Tuy nhiên thực sự không phải như vậy. Khởi xướng và cầm đầu là hai chuyện hoàn toàn khác nhau hay ít ra cũng khác nhau chút đỉnh chứ. Cộng thêm việc tôi không bao giờ đi lao động. Nhà có xưởng sửa chữa máy tàu, tôi phải ở nhà phụ ba, giúp ba nuôi gia đình. Bỏ thời gian đi làm mấy cái chuyện vô bổ vườn đất gì đó, tôi không thèm. Sau mấy lần dời đổi, tôi ngồi ở bàn đầu dãy gần cửa ra vào, chung với Mèo Già. Có lần trong giờ văn của cô Hạnh, hai đứa giỡn nhau bị cô Hạnh phat. Hình phạt đơn giản nhưng cũng rất ép phê. Bài luận văn tới, mỗi đứa bị trừ 2 điểm. Nói về văn, hồi cấp 2 tôi cũng thuộc loại có hạng. Tuy không mượt mà như Hữu Đức C1, thông thái như Minh Tân C3, tôi được cái biết rất rõ những gì mình viết. Mèo Già cũng đâu phải tay xoàng. Hắn xuất khẩu thành thơ, xài chữ dễ như người ta lấy đồ trong túi vậy. Thôi thì cả hai cũng ráng vượt qua cái cửa ải này vậy. Đến khi phát bài, sau khi đã bị trừ, Mèo Già 6 điểm, tôi 5 điểm. Thôi cũng được, không đến nỗi nào.

Ngồi bàn đầu có cái vui là được đội trực trường trả mấy cái thẻ học sinh của mấy thằng đi trễ. Hai đứa lấy thẻ học sinh của mấy bạn rồi vẽ râu lên hình. Lâm Sinh Thọ bị vẽ râu cứt mũi giống y như thủ tướng Toyo của Nhật vậy. Từ đó, Thọ mang một danh mới: Toyo.

Phải nói là ngồi ở đây rất hay. Hồn có thể lơ đãng nhìn ra ngoài cửa lớp, tha hồ mơ mộng. Thỉnh thoảng có mấy em lớp 10 trực quét trường, trong này các bạn ngó ra chọc ghẹo: Mình ơi, quét xong nhớ sửa soạn cơm nước trưa anh về ăn; nhớ đón con nghe em, Em làm cẩn thận coi chừng té nghe…

Mấy cô bé rất dễ thương, bị chọc, không biết phải phản ứng thế nào, mặt cứ đỏ bừng. Ôi đã dễ thương bây giờ lại càng dễ thương hơn. Các bạn gái trong lớp cũng bật cười bảo mấy ông này chỉ giỏi nhận vơ.

Còn bên trong lớp, tôi thường ngắm bạn Thuỷ Tiên và bạn Ngọc Loan. Thuỷ Tiên có đôi mắt to giống như Ấn Độ. Thuỷ Tiên cũng hay nhìn về hướng tôi với cái nhìn không rõ ý nghĩa. Có lẽ bạn ấy thấy tôi giỡn nên khó chịu. Thôi thì ít bữa bắt vài con sâu làm quà cho Thuỷ Tiên. Kết quả bạn ấy bị bịnh tim, té xỉu tại lớp. Tối hôm ấy tôi vác cái mặt đến nhà bạn để xin lỗi.

Ngọc Loan có dáng đi, gương mặt rất tiểu thơ, quý phái. Ngoài ra, Ngọc Loan còn có đôi mắt đẹp và rất giỏi Pháp văn. Tôi còn nhớ rõ Ngọc Loan có rất nhiều mồ hôi tay, rất tội.

Một hôm, tình cờ tôi khều được đôi dép của Phi Nga. Tôi giấu một chiếc ở đằng sau tấm bảng bên hông. Ban đầu chỉ là giấu chơi cho vui, thủng thỉnh cuối giờ sẽ hoàn nguyên khổ chủ. Đến khi phát hiện mất dép, Nga rất giận. Nga bảo nếu tìm ra thủ phạm thì sẽ làm cho ra lẽ. Thôi thì ngộ biến tùng quyền, em đường em, dép đường dép. Cuối cùng Nga về chân không, Tôi đem chiếc dép của Nga về nhà làm kỹ niệm.

Rồi những lần ra chơi giấu cặp, quăng ra nóc nhà. Là một trong những nạn nhân, Mèo Già trèo xuống lượm cặp còn bị tụi trên này chọi xuống. Tức quá, Mèo Gìa quăng mấy cục đất đá ở dưới chọi đại lên. Xui cho Lan dã man cho Điệp, Mèo Già chọi trúng nhằm mấy bạn gái. Rồi có lần các bạn trong lớp lấy cặp của ai đó, hình như là Lê Dong quăng qua quăng lại. Khổ chủ bị đau khổ giống như chơi banh khờ. Cuối cùng, chiếc cặp bay vèo trúng vào đầu Thanh Nhãn, hoa khôi của lớp. Nhãn đau quá bật khóc. Các bạn nam xúm lại xin lỗi. Chắc giờ này các bạn gái đã không còn giận cái tụi quỷ sứ này nữa. Tại các bạn không chịu bắt chước tôi, chỉ mang theo 1 hoặc 2 cuốn tập thôi, người đâu của đó thì đâu có phiền phức.

3/ CÚP CUA TẬP THỂ 
Dan Petrus Ky 02Lớp C2 chứng kiến nhiều cuộc chia tay. Đáng nhớ nhất là lần chia tay với Vũ Anh Tuấn, biệt danh Tuấn đầu bun. Nhà Đầu bun ở đường Nguyễn Trãi. Hắn là trung phong số 1 của lớp. Những bàn thắng quan trọng của đội bóng C2 thường do hắn ghi.

Một ngày cuối tháng 11 năm 1979, 2 tiết đầu là giờ văn, cô Tiết Hạnh nghỉ nên trống tiết. Tiết 3 tiết địa lý của thầy Gà Mên, 2 tiết cuối là giờ toán của thầy Trần Thành Minh. Đầu bun phải cùng gia đình bay sang Pháp. Nhàn cư vi bất thiện, đám con trai 31 tên bàn kế hoạch bãi khoá cơ hội. Lúc đó Đỗ bá Văn, Nguyễn Văn Hiền đã nghỉ (sau này Phạm Đức Long bắt goal thay cho Hiền). Nội dung họp khẩn là tranh thủ 2 tiết đầu cộng giờ chơi cộng tiết 3, cả bọn thoát ra khỏi trường để tiển chân Đầu bun. Lớp chỉ còn lại Trần Quang Tuyến và mấy bạn gái.. Cả bọn kéo nhau ra lấy xe. Bác Hội tưởng rằng cả lớp được nghỉ nên cho phép ra ngoài y như thật. Mười phút sau cả bọn đến nhà Đầu bun, xin phép cho hắn được lần cuối đi chơi với anh em. Thành công nhất của lần này là kéo ông bụt của lớp, Nguyễn Hoàng Phiệt tham gia.

Địa điểm được chọn là Sở thú. Nơi đây anh em chơi một bữa thoả thích. Mấy thằng Võ Trường Toản thấy khí thế ba quân hùng hổ át sao ngâu đâm lo. Tụi nó lo cho mấy cô Trưng Vương láng giềng bị chọc ghẹo. tôi đi tới một thằng nói nhỏ:
Tụi này chỉ đi sở thú chơi thôi, không có gì đâu! Căn cứ địa cách mạng của tụi này là ở Minh Khai mà.

Phải nói vậy thôi vì ở đó là đường cụt, 31 thằng làm sao địch nổi vạn quân. Hải dưới thì lo phần hình ảnh. Sau khi đi giỡn một vòng, chụp hình lưu niệm, cả bọn ngồi thành vòng tròn xem tôi và Viện sĩ biểu diễn tam thế đối luyện. Viện sĩ còn cao hứng biểu diễn thêm vài đòn Judo nữa. Cuối cùng thì cuộc chia tay cũng tàn. Đưa Đầu bun về , hàng xóm đứng thật đông. Cả nhà Đầu bun đã đợi ở sẵn. Anh của Đầu bun thì mặt lạnh như tiền, không lộ cảm xúc. Nghe nói ảnh lúc đó đang mang đai đen 2 gạch môn karatédo. Tôi còn nhớ lúc chia tay, Đầu Bun khóc sướt mướt bảo tụi bây đừng quên tao nghe.

Cả bọn hối hả chạy về trường cho kịp giờ. Bác Hội khoan thai mở cổng cho cả bọn vào. Thầy Minh đọc sổ đầu bài rồi lắc đầu. Thầy có lẽ cũng thông cảm, chỉ mắng nhẹ: Các em làm như vậy không sợ thầy địa buồn sao? Thầy sẽ nghĩ các em chỉ thích học toán, không muốn học giờ của địa của thầy. Kết quả là mỗi đứa trong vụ tặng cho thầy Đoàn Ngọc Tăng 1 tờ tự kiểm. Học chung với Đầu bun vẻn vẹn một năm rưởi, chia tay nhau đã 27 năm. Tụi mình đã không quên nhau.

Cả bọn ý thức được rằng đây là thời gian quý báu sau cùng được đùa giỡn thoải mái. Năm sau là năm thi rồi. Tuy vậy, nhờ học giỏi, tinh nghịch chứ không hỗn hào vô lễ, C2 không bị thầy cô ghét. Lớp 11 cũng chứng kiến nhiều những cuộc chia tay. Phan bảo Định, Đoàn Kim Sáng nghỉ học đi làm. Trọng Ni, Thuỷ Tiên, Lâm Quốc Dũng, Phạm Đức Long đi vượt biên. Đức cống, Tuấn đầu bun đi xuất ngoại chính thức. Đoàn Thế Quang chia tay lớp trong âm thầm. Đỗ Bá Văn, Nguyễn Văn Hiền cũng nghỉ học năm này. Tuy tình hình thông tin liên lạc có rất nhiều khó khăn, anh em vẫn cố gắng duy trì mối quan hệ bạn bè trong phạm vi và chừng mực có thể trong nhiều năm sau.

4/ C2 VÀ GIẢI TÚC CẦU PK 1974-1981

lop 11c2 01Học kỳ 1 năm lớp 11 (1979), trường tổ chức một giải đá banh cho khối mình. Lúc đó dư âm của giải túc cầu thế giới 1978 ở Á Căn Đình vẫn còn nóng. Những cái tên như Mario Kempes, Ardiles, Passerella, Rensembrink, Nesken…được mấy thằng mê đá banh nhắc tới nhắc lui, bàn luận xôn xao.

Hồi cấp 2, lớp 9/1 có nhiều hảo thủ tung hoành trên mặt cát Lam Sơn như Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thúc Linh, Trương Công Nguyên, Trần Ngọc Dũng, Bùi Trọng Hiếu, Vũ Quang Hưng, Tăng Như Thịnh, Đoàn Anh Minh… Tôi thường xuyên coi ké chứ không dám vô đá.

Lên cấp 3, Sau khi quyết định tham gia giải, cả đám C2 hẹn nhau ra sân Phú Thọ vừa để dợt vừa để tuyển lựa cầu thủ. Sau khi xào qua xáo lại, đội hình C2 có những gường mặt sau:
Chân tiền có Vũ Anh Tuấn, Lê Duy Chính, Đoàn Kim Sáng
Chân giữa có Nguyễn Công Trình, Trần Văn Sư, Bùi Trọng Hiếu, Nguyễn Việt Dũng, Vũ Quang Hưng
Chân hậu có Phan Bảo Định, Đinh Ngọc Hùng, Trần Hữu Hiệp, Tăng Như Thịnh, Lâm Quốc Dũng
Gác cửa có Nguyễn Nhã Hiền, Phạm Đức Long
Các bạn khác không có tên cũng tham gia tuỳ theo tình hình.

Ông bầu của đội là Đỗ Bá Văn. Anh chàng này tặng cho lớp một trái banh da để dợt. Hồi xưa chuyên chân đất đá banh nhựa mà được món quà này thì quý giá vô cùng. Để cảm ơn nó, lớp C2 cho nó làm Pélé một bữa. Cả đám giả bộ té, lỡ bộ cho nó dẫn banh một mình từ gôn này qua gôn kia rồi sút vô luôn. Kế tiếp là phải kiếm mua giày. Giày ngày xưa chủ yếu là giày bata. Ra trận gặp mấy thằng chuyên đá giày đinh là nhát giò liền. Có mấy đứa không quen cứ chân đất mà chơi. Mấy đứa không có giày thì mang giày khính, mượn giày của nhau. Sân Phú Thọ ngày xưa toàn là cát. Nắng bụi, mưa lầy. Đá xong không thấy khoẻ mà có cảm giác như có một vài Kg cát ở trong ngực. Đó là chưa kể ổ gà, cứt bò cứt ngựa lốm đốm như da beo.

Giải năm đó có một số đội liên quân như D3-C7, C5-C6, D1-D2. Các đội còn lại tôi nhớ được là C1, C2, C3, AB. Còn C8, C4 có tham gia không thì tôi không chắc lắm.
Đội liên quân D1-D2 tập trung những hảo thủ của khối Pháp. D3-C7 và C5-C6 thì tập trung những hảo thủ của khối Anh. Có lẽ nhờ liên quân nên lực lượng mấy ông kẹ này rất đều.

Lực lượng C2 năm đó chỉ nhờ vào một số cầu thủ trụ cột là Tăng Như Thịnh, Phan Bảo Định ở hàng thủ, Vũ Anh Tuấn ở hàng công, Nguyễn Nhã Hiền gác cửa. Số còn lại ngoài tôi ra đều đá hay nhưng tội cái là nhỏ con quá. Ngày ấy tuy đá dở nhưng tôi đã có tư duy chiến thuật rất tốt. Mãi đến năm 1982, 1984 người ta mới thấy những hậu vệ cánh như Amoro của Pháp lên công về thủ. Trước đó mấy năm tôi làm hậu vệ cánh phải đã khoái lên tham gia tấn công, chỉ có điều không chịu lui về. Thằng Phan Bảo Định đá trung vệ cứ la oai oái:
Hiệp ơi chạy về đi…
Về thì về, thủng thẳng từ từ cần gì phải chạy.

Lớp C2 là đội duy nhất không liên quân vào được bán kết. Thiệt ra không phải tại hay mà tại vì không có đụng mấy ông liên quân ở vòng ngoài. Đối thủ của C2 ở vòng ngoài là C1. Hồi đó C1 có Phi làm thủ môn, có Phú Bảo đá tiền vệ, có Tô Văn Chương đá cánh trái. Tôi nhớ rõ vì phải kèm Tô Văn Chương. Tướng nó ốm ốm roi roi mà chạy nhanh như ngựa, dai sức như trâu. Cuối cùng thì C2 vượt qua C1 với tỉ số 2/1.

Ở bảng kế bên thì C5-C6 thắng C3. Vòng bán kết, C2 phải chịu gác giò trước C5-C6.
Trận bán kết còn lại, D3-C7 thắng D1-D2.
Trận chung kết diễn ra rất cân tài ngang sức giữa D3-C7 và C5-C6 . Cuối cùng, D3-C7 thắng với một bàn cách biệt có công rất lớn của một vũng sình. Trái banh được chuyền lên từ hàng tiền vệ chọc vào trung lộ bị vướng vào vũng sình làm hàng hậu vệ C5-C6 bị lố đà. Một tiền đạo nhỏ con của D3-C7 tận dụng thời có mặt kịp thời tém banh vào góc. Vũng sình (lại là vũng sình) dưới chân thủ môn C5-C6 không cho phép anh bay người chụp trái banh đó.

Sau giải đá banh này, C2 vẫn còn tiếp tục dợt và chờ cơ hội tái đấu. Nhưng năm lớp 11 đã qua, 12 đã tới. Giải lớp 12 đã không được tổ chức. Chơi chỉ để giải trí thôi. Đứa nào học thì cố mà học, đứa nào đi thì cố mà đi. Có lẽ năm vui nhất ở cấp 3 chính là năm 11.

Cái đặc biệt của đội bóng C2 là không có cổ động viên nữ. Ước gì ngày đó bọn con trai không có hiềm khích, chơi ga lăng hơn với mấy đứa con gái. Mãi đến khi hết học phổ thông và nhiều năm về sau, cái đám chậm phát triển này vẫn chưa biết được cái cảm giác được bạn gái múc nước trà đá cho uống. Quả là một điều đáng tiếc.

Trần Hữu Hiệp (PK 1974-81)