Chương 24

Ông Trương Vĩnh Ký Công Luận

Giáo Sư Trần Văn Trung

(Bài viết được trích từ Đặc San Petrus Ký 2000 do Hội Ái Hữu Petrus Ký Nam Cali thực hiện).

(nguồn: Quyển Tuyển Tập về “Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký” – 2005)

Truong Vinh Ky ky 1 01

Thông thường, đầu năm mới là thời điểm được chọn để đúc kết các sự kiện đáng ghi nhớ trong năm vừa qua, hoặc thế kỷ vừa mãn. Bước sang năm 1999, mùa xuân Kỷ Mẹo, các nước trên thế giới hiện kiểm điểm thời sự đã qua, để chuẩn bị đón năm 2000 dương lịch thuộc kỷ nguyên mới. Trên địa hạt văn hóa nước nhà, là người Việt Nam, hằng ngày nói tiếng mẹ đẻ, đọc viết chữ Quốc ngữ, nên nhớ công trình sáng chế, hoàn mỹ chữ nước nhà cách đây hơn một thế kỷ. Với tinh thần quý trọng cội nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng, cần nhắc lại sự nghiệp vẻ vang của nhà bác học Trương Vĩnh Ký, người có công đầu trong việc sáng chế, đặt quy luật chữ Quốc ngữ, sau dịp lễ giỗ 100 năm vừa qua (1898 – 1998), được tổ chức trọng thể bởi thân hữu Cựu Học Sinh Liên Trường Việt Nam tại Pháp và các Hội thân hữu cựu học sinh ở các nước khác trên thế giới. Thân thế, hành trang, công trình văn hóa của ông, đã được nhiều sử gia, văn sĩ tỉ mỉ nhắc đến, hầu hết đều vô tư ca ngợi công ơn của bậc tiền bối này. Ngược lại, cũng có thiểu số phẩm bình sự nghiệp chánh trị của ông. Vì khuôn khổ ấn loát, bài này chỉ lược thuật những phán xét công luận của một số tác giả học giả, được biết qua tài liệu đã viết nói về ông Petrus Ký, trong 100 năm vừa qua. Hẳn nhiên có nhiều thiếu sót, sơ xuất sai lầm, rất mong quý vị bổ túc, sửa sai và lượng thứ. Để thấu hiểu hơn những phê bình cần nhắc sơ lược về sự nghiệp của tiên sinh, nguyên nhân của sự khen chê công luận.

 

1. Thân thế và công trình văn hóa của Ông Trương Vĩnh Ký (6-12-1837 – 1-9-1898)

1.1. Thân thế

Nguyên tên Jean Baptiste Trương Chánh Ký sau đổi là Petrus Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, ông là con thứ ba của ông Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Sanh tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thạnh, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc Bến Tre) một gia đình Thiên Chúa Giáo. Lúc lên 5 học chữ Hán với ông giáo Học. Chỉ vài năm học hết sách Tam tự kinh, Ấu học, Ngũ ngôn thi, Minh tâm bửu giám. Mồ côi cha lúc 3 tuổi được mẹ chăm lo, cho học chữ Hán tự với linh mục Tám, sau đó học chữ Quốc ngữ và La Tinh với cố Long.

Năm 1848, do lệnh cấm đạo ngặt nghèo, cố Long gởi ông vào chủng viện Pinhalu (Cao Miên). Đậu đầu trong cuộc thi tuyển ở chủng viện xuất sắc nhất, ông được gởi qua Mã Lai. Từ 1852, học ở trường đạo trên đảo Pulau Penang. Năm 1858, về nước thọ tang mẹ, lập gia đình năm 1861 với bà Vương Thị Thơ, về sau sanh được 7 trai 2 gái.

1.2. Công Trình văn hóa

i) Nhà ngữ học: Ngoài việc học chữ Hán, Quốc ngữ, La tinh lúc thơ ấu, ông học thêm tại Cao Miên các tiếng Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cao Miên, Trung Hoa,…và tại Mã Lai, học chữ Hy Lạp, Pháp, Anh, Nhựt, Ấn, Y Pha Nho, Bồ Đào Nha… Ông có thể nói 15 thứ tiếng sinh và tử ngữ, viết được 11 thứ chữ. Ông đã sáng tác các tác phẩm để dạy ngữ học Việt Nam từ 1867 đến 1887, về các môn văn phạm, ngôn ngữ, từ vựng. Ngoài ra, ông còn lưu lại sau khi tạ thế, vài tác phẩm dở dang như khảo cứu từ ngữ thế giới. So sánh những tiếng Viễn Đông, nguồn gốc các từ ngữ Xiêm, Lào, Cao Miên…

ii) Nhà giáo dục: là kẻ sĩ Đông Phương, kết hợp với tín đồ Thiên Chúa Giáo Tây Phương, ông Trương Vĩnh Ký đã tìm ra môi trường sống dung hòa tâm hồn, phục vụ hữu hiệu xứ sở, qua việc ông đã nghĩ, làm, viết theo câu cách ngôn: “Sic vos Non Vobis” (ở với họ mà không theo họ), mà ông tự xem là kim chỉ Nam.

Nguồn gốc chữ Quốc ngữ, tức chữ La Tinh, là sáng kiến trong nhu cầu của các nhà truyền giáo Âu Châu tìm sang giảng đạo ở nước ta, từ trước thế kỷ 17 (giáo lý in bằng Romafi), chữ Nhật La Tinh tại Nhựt Bổn (1549), và từ điển La-Bồ-Nhật (1595).

Tập ngữ vựng Bồ-Hoa do hai giáo sĩ dòng Tên Ruggieri và Matteo Ricci soạn tại Trung Hoa (1584 – 1588). Tại Việt Nam, tài liệu chữ Quốc ngữ phát nguyên từ bức thơ của giáo sĩ Ý Christforo Borri (in tại La Mã). Từ 1645, các bài văn thánh lễ bắt đầu với những dấu hỏi, huyền, ngã, phiên âm xa ảnh hưởng Ý ngữ và gần Bồ ngữ hơn. Năm 1624, cố Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) người Pháp sanh 1591 tại Avignon, được cử sung vào giáo đoàn Đàng trong (Nam Phần Việt Nam ). Trong 6 tháng ông học tiếng Việt qua chữ Quốc ngữ với thầy giáo Bồ Francis de Pina, và nói được rất sõi. Ông là người đầu tiên đem in sách

bằng chữ Quốc ngữ (từ điển “Dictionarium lusitanum et latinum” – Việt Bồ La). Ô. Pigneau de Béhaine, giám mục đàng trong (1771 – 1799) đã nhuận lại cuốn tự điển trên, và cố Taberd tiếp nối công trình này, sau khi kế vị công cuộc gầy dựng, củng cố nền văn hóa Việt Nam bằng cách hoàn mỹ, xử dụng phổ thông chữ Quốc ngữ văn tự phát sinh từ hơn 3 thế kỷ để đi đến hình thức ngày nay, phải được xem là công trạng vĩ đại của ông Trương Vĩnh Ký. Được dịp học hỏi am tường ngữ, cú pháp, mẹo luật của hơn 10 thứ tiếng các nước Đông Tây trên thế giới, ông Petrus Ký đã chấn hưng nền văn hóa nước nhà bằng cách soạn thảo sách mẹo, vần Quốc ngữ, biên soạn tự điển (Việt, Pháp, Hoa), dịch sách chữ Hán (Tứ Thơ, Ngũ Kinh…), sưu tầm phiên âm truyện Nôm, tác phẩm cổ Việt Nam (Kim Vân Kiều …), sáng tác dân gian (chuyện đời xưa, …), sáng tác bút ký thơ văn (Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876…).

Ông Trương Vĩnh Ký đã viết 118 tác phẩm, cho in, lưu lại hậu thế và chưa hoàn thành 20 tác phẩm dở dang. Công trình hiển hách của ông là: cải cách giáo dục, tạo phương tiện học vấn trước, truyền bá tư tưởng sau, theo phương pháp khoa học và căn bản sư phạm hữu hiệu. Ông đã giải phóng chữ Quốc ngữ khỏi lệ thuộc văn hóa Tàu, lưu truyền hơn 1700 năm từ Triều đại sĩ Vương (185 sau DL), thoát khỏi ảnh hưởng Chữ Nho, chữ Nôm cầu kỳ, khó học. Ông đặt chữ Quốc ngữ ngang hàng chữ Pháp, chuẩn bị cuộc ngừa tránh chánh sách của nước Pháp, cưởng bức giáo dục, dạy, dùng chữ Pháp tại Việt Nam, sau khi xâm chiếm lãnh thổ, như trường hợp Mỹ đã đô hộ Phi Luật Tân 1889, buộc dân bản xứ học, viết tiếng chữ Anh, thay vì tiếng Tagal.

1.3. Phê bình công luận

Từ 1963 đến nay, vài tác giả trong nước cố ý phản chống quan niệm mỹ cảm của giới văn sĩ trước xưa, đã viết bài cho ông Trương Vĩnh Ký là “ngoan đạo”, giúp các “Tu sĩ gián điệp” Tây Phương và Pháp quốc đến đô hộ Việt Nam, cho việc hoàn mỹ chữ Quốc ngữ, trước tác văn chương là “công cụ cướp nước” .

Ngược lại, trong thế kỷ qua, nhiều sử gia văn sĩ, Việt Nam và ngoại quốc, đã khen ngợi tài năng về văn hóa của ông như sau:

+ Ông Trúc Viên Đặng Thúc Liêng, Y sĩ Đông Phương, quê tại Sa Đéc, nhờ rể Ô. Petrus Ký, Ô. Nguyễn Hữu Nhiêu, cung cấp tân biên năm 1927, đã viết bài Trương Vĩnh Ký hành trạng và đã khen:”Ông Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam tốt, một vị tân quân tử thật của nước Việt nam, ai ai cũng đều biết cả… Cử chỉ Ô. Trương Vĩnh Ký trọng về phần đạo đức rất nhiều, theo lời Khổng Phu Tử viết: Bác học ư văn, ước chi vĩ lễ… (Rộng học văn chương, đón lấy lễ nghĩa…). Có đủ đạo đức chân tướng, mới phát anh kiệt toàn tài, văn minh tấn bộ, ái quốc nhiệt thành”.

+ Tác giả Khổng Xuân Thu, đã viết sách về Trương Vĩnh Ký (3-1956 đến 12-1957) do nhà in Tân Việt ấn hành (149 trang), và nhận xét như sau: “Cuộc đời sinh hoạt của ông Trương Vĩnh Ký, gạt phần chánh trị ra ngoài, ông vẫn là một nhà văn hóa có công với nước nhà trong thời kỳ phục hưng” (trang 71). Tác giả đã trích bài diễn văn ông Rousset đọc trong dịp phát phần thưởng tại trường (1929 – 30) đã ca tụng ông Trương Vĩnh Ký “…Đứa con yêu quý của đất Nam Kỳ (Nam Phần Việt Nam ) ấy, người đã hiến cả cuộc đời cho sự giáo dục của thanh niên, đáng được cả giới thanh niên truy niệm, và tìm ở công việc của ông, một bài học quý giá…”

Thuật về những ý kiến các nhà phê bình ông Trương Vĩnh Ký, tác giả đã kể:

– Nam Kỳ Tuần Báo: Làm sao nói hết thân thế sự nghiệp trước tác của Trương Vĩnh Ký cùng ảnh hưởng của cụ đối với người văn hóa Việt Nam. Làm sao biết rõ tư tưởng và tâm trí của Trương Vĩnh Ký trong khi còn nhiều tài liệu chưa được đưa ra ánh sáng. Vả lại Cụ Trương Vĩnh Ký vừa là một nhà bác học, vừa là một nhà chính trị, mặc dù là chính trị bất đắc dĩ …(Tuần báo số 50 – 2-9-1943).

– Ô. Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố: Sự nghiệp ấy, thân thế ấy, có thể tóm lại thành 3 tiếng: Bác học, Tâm thuật, Khiêm tốn (Kỷ yếu hội Trí Tri Bắc Kỳ số 1-2 năm 1937)

– Ô. Thiếu Sơn: Cũng thời đó (từ 1917 trở đi), Nam Kỳ chịu 3 ảnh hưởng ở: Tiểu Thuyết Tàu, tiểu thuyết Tây, sự nghiệp văn chương của Paulus Của, và của tiên hiền Trương Vĩnh Ký. (Phê bình và cảo luận Edition Nam Kỳ 1933).

– Ô. Nguyễn Sĩ Đạo: Ông trước thuật rất nhiều mà chưa xuất bản hết. Ông là người đầu tiên đã dịch những sách nôm ra quốc ngữ… Ngoài những công trình trước thuật, sự biết nhiều ngoại ngữ và học thức cao rộng, nó đặt ông vào hàng các nhà bác học bậc nhất thế giới… Ông là người giỏi tiếng Pháp đầu tiên và sinh vào thời buổi ấy, ông cũng chỉ suốt đời cặm cụi vào học vấn, văn chương, trong khi những kẻ tầm thường khác đã nhảy lên những địa vị quan sang chức trọng. (Đại Việt Văn Học Sử – Tân Hóa xuất bản – Trang 108)

– Thường Sơn Chí: Nếu quan niệm về ý nghĩa đời người là giúp ích và lưu một sự nghiệp, thì cụ Trương Vĩnh Ký là một người đã sống, đúng theo ý nghĩa của nó … đời của cụ là “ Học và làm việc” … Trong mấy năm chót của đời cụ, Cụ vẫn hăng hái phụng sự văn học. (Trích Nam Kỳ tuần báo số 50 ngày 2-9-1943).

– Khuông Việt: Các công lớn của Trương đã đóng góp vào lâu đài văn học Việt Nam bằng một số sách vừa xuất bản, vừa trước thuật mà từ xưa đến nay chưa ai theo kịp, cái công lớn đó, ta không quyền quên… xét về tư tưởng và tâm chí của Trương, thử ai dám cho rằng hiểu rõ… Vậy ta nên thận trọng trong việc xét đoán là hơn ( Nam Kỳ tuần báo số 50 – 2-9-1943).

– Đông Dương Tạp Chí: Đọc hết những trang sự nghiệp văn học, nghiên cứu, biên thuật, giáo khoa phong phú của ông Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký không ai là không khỏi ngạc nhiên, vì công lao khó nhọc và tận tâm tận lực của một nhà văn đứng mũi chịu sào như thế (Nguyễn Lê Nhân, bài: “Nhờ ơn nhà văn, nhà báo đất Nam Kỳ thời cận đại nước nhà”).

– Ông J.Thompson (nhà du lịch Anh): Tôi không bao giờ quên sự ngạc nhiên của tôi khi tôi được giới thiệu với ông Petrus Ký. Ông nói rất giỏi tiếng Anh, Pháp, Y Pha Nho, Bồ, Ý … tôi thấy ông đang soạn bộ sách “Phân tích suy luận những tiếng chính trên thế giới”, tác phẩm mà ông tra cứu hơn 10 năm rồi … Ông đã viết rất nhiều tác phẩm, trình bày chi tiết từng điểm giống nhau giữa chữ xưa (Nho, Nôm) và Quốc ngữ mới. (L’Indochine et Chine – Récits et Voyages – (Page 60) = Librairie Hachette, Paris, 3è édition 1888)

– Ô. Jean Bouchot: … đời của ông Trương Vĩnh Ký là một bài học và gương tốt cho ta. Một bài học vì người dân Nam Phần ấy, thuộc dân tộc thuần túy Việt Nam, sánh kịp với các nhà thông thái xứng đáng nhất của Âu Châu trong đủ ngành khoa học (La vie de Petrus Ký doit nous être un enseignement et un exemple …) (Sách Petrus Ký Erudit Cochinchinois 1925 trang 77).

 

2. Sự nghiệp xã hội và chính trị

2.1. Sự nghiệp xã hội

(i) Thông dịch ngôn ngữ: Năm 1858 khi Trương Vĩnh Ký về quê hương, chiến tranh Việt Pháp khởi lên ở Tourane (1-9-1858) và tiếp diễn ở Sài Gòn (17-2-1859). Pháp chiếm Gia Định và 3 tỉnh miền Đông. Cần có một người có khả năng giúp việc, Giám mục Sài Gòn Lefèbvre tiến cử ông Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho trung tá Jauréguiberry (1860). Năm 1862, theo thiếu tá Simon ra Đà Nẵng để thông dịch cho phái đoàn Pháp và Triều Đình Huế, trong dịp ký kết hòa ước Pháp Việt 05-6-1862.

Năm 1863, ông tháp tùng Sứ bộ Việt Nam do ông Phan Thanh Giản sang Pháp yết kiến Hoàng Đế Napoléon III ngày 05-11-1863, điều đình chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng bất thành.

Sau đó, phái đoàn đến Madrid, triều kiến Nữ Hoàng Isabelle, mở cuộc đàm phán với chính phủ Y Pha Nho. Chính phủ Tây Ban Nha đã tặng ông Huân Chương cao quý của Nữ Hoàng.

(ii) Nghề dạy học, nhà báo. Từ Âu Châu về đến Sài Gòn ngày 18-3-1864, ông tâu lên vua nền Văn minh tây phương, xin vua Tự Đức hãy canh tân đất nước. Đình thần không ai tin những phát minh khoa học, mà còn gán Phái Đoàn tâng bốc người ngoại quốc, giảm uy thế Việt Nam. Chán nãn, ông buộc phải cộng tác với tân trào Pháp. Ông đảm nhiệm những chức vụ Giám Đốc Trường Thông Ngôn (1866 – 1868), Hiệu trưởng Trường Sư Phạm Nam Kỳ (École Normale). Năm 1869, ông làm chủ bút Gia Định Báo. Báo Sài Gòn Mới số 3936 hai ngày 1 và 2-9-1962 đã tôn gọi ông là Thủy Tổ làng báo Việt Nam.

Năm 1873, được bổ nhiệm giáo sư Hán văn và Quốc văn Trường Hậu Bổ (École des Stagiaires), nơi đào tạo quan lại Nam Kỳ.

2.2. Tham chính

Đóng vai trò trung gian giữa Việt Nam và Y Pha Nho trong cuộc đàm phán giao thương, ông được vua Tự Đức ban huy chương “Long Tinh Bội Tinh”. Sau khi ra Huế, ông du hành sang Hướng Cảng, Áo Môn, (Ma Cao), Vân Nam, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Thượng Hải, quan sát Trung Hoa, thấu triệt tinh hoa Đông Tây kim cổ.

Năm 1876, được biệt phái ra Bắc Kỳ quan sát tình hình chính trị kinh tế miền Bắc. Tháng 4 năm 1885, khi Paul Bert được cử sang Việt Nam làm tổng Trú xứ Bắc và Trung Kỳ, ông Trương Vĩnh Ký được đặt trực thuộc dưới quyền Paul Bert. Ông được ra Huế sung vào Cơ Mật Viện của Triều đình Việt Nam, dạy vua nói tiếng Pháp. Ở Huế vài tháng, ông cáo bịnh về Sài Gòn.

Sau khi Paul Bert lâm trọng bệnh mất tại Hà Nội ngày 11-11-1886, ông Trương Vĩnh Ký bị Soái phủ Sài Gòn nghi ngờ làm khó dễ. Ông lui về dạy chữ Hán, tiếng Miên, làm sách, viết văn đến khi mất (1-9-1898). Vua Đồng Khánh ban cho ông biệt hiệu “Nam Trung An Sĩ”.

2.3. Bình phẩm sự nghiệp chính trị xã hội

Từ khi ông Trương Vĩnh Ký mất đến nay, biết bao sử gia, nhà văn, báo chí đã ca ngợi ghi ơn người có công đầu trong nền văn hóa Việt Nam. Ngược lại, thời gian gần đây, một thiểu số trong nước và ngay tại một vùng nước Mỹ, đã dựa theo một bài đăng trong một tạp chí hồi tháng 11 năm 1963, đã khai thác luận điệu bài này. Ngoài ra, còn tìm bút tích văn thơ trao đổi giữa Ô. Trương Vĩnh Ký và các giới chức Pháp ở Việt Nam khi xưa để hài tội. Cách đây 3 năm, các tài liệu này đã được chuyển ra nước ngoài, in thành sách gởi bán nhiều nơi trên thế giới, nhằm buộc tội Ô. Trương Vĩnh Ký, và tố luôn cả Linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes). Đại loại họ phê bình Ô. Trương Vĩnh Ký vì có đạo Thiên Chúa, cộng tác với Pháp bằng cách dạy học tiếng Pháp, Việt, tức đào tạo cộng sự viên, và sau cùng là việc ông tham chánh. Công việc phản tuyên truyền này không được người Việt Nam ở hải ngoại lưu ý đến, mà vẫn ghi ơn ca ngợi người có công lao lớn trong nền văn hóa Việt Nam, do quảng bá chữ Quốc ngữ mà tất cả đồng bào Việt Nam trong ngoài nước đã đọc, viết hằng ngày từ 130 năm qua.

Tại miền Nam Việt Nam, ngôi trường Trung Học lớn nhất, được cất từ 1925 ở vùng Chợ Quán, đã được danh dự mang danh hiệu “Trường Trung Học Petrus Ký “. Trong vòng 50 năm, trường đã đào tạo vô số nhân tài, học sinh ưu tú. Bức tượng đồng Ô. Petrus Ký, do sự lạc quyên của thân hào Nam Việt Nam thực hiện được đặt giữa sân trường nhân dịp lễ khánh thành, để vinh danh nhà bác học Việt Nam. Nhưng từ năm 1975 trở đi trường Petrus Ký bị đổi danh hiệu … Tượng bán thân Ô. Petrus Ký bị hạ xuống và dẹp mất. Phong trào thay cơ sở và tên đường người Pháp được thực hiện cùng lúc tại Sài Gòn, đổi thay tên Việt; nhưng nay các đường này đã mang lại tên cũ, ngoại trừ Petrus Ký (Đường Alexandre de Rhodes, viện Pasteur, đường Yersin…)

 

3. Công luận phê phán

Gồm có nhận định của hai giới văn sĩ học giả:

3.1. Giới ngoại quốc:

– Nhà văn Pène Siefert (Pháp): Trước khi Paul Bert sang Việt Nam, Ông đã viết: “…Trương Vĩnh Ký là hạng người tinh hoa hàng nho sĩ An Nam (Việt Nam), quả là một nhà sử học, triết học, thông thái về ngôn ngữ học mà cảm tình chân thành của ông đối với nước Pháp không bao giờ đặt nặng trĩu được, dù rằng vua Tự Đức đã ký kết hòa ước nhận cuộc bảo hộ của Pháp, hoặc chính kiến bất đồng về nền chính trị của hai bên…” Cuốn Année Républicaine Pháp (Trích sách Khổng Xuân Thu).

– Báo Le Monde Colonial illustre” … Trương Vĩnh Ký, dit Petrus Ký, est le savant que l’Indochine ait jamais produit. Paul Bert qui a en lui une confiance entière, ne prend aucune décision importance sans lui demander conseil, et Sài Gòn’ouvre en lui en toutes circonstances, sans la moindre arrière pensée. La mort de Paul Bert met fin à l’activité politique de Petrus Ký. Paul Vial se défie de lui…(Trois grands cochinchinois – un soldat, un politique, un savant), Baudin de Beleval – Revue Mensuelle No 146 – Septembre 1935.

– Ô. P.J. Honey (Học giả Anh) Bạn cũ Ô. Hoàng Xuân Hản. Ô. P.J. Honey đã dịch, in sách bằng Anh ngữ: “Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876)” của ông Petrus Ký, và có ý kiến sau: “Hơn ai cả, ông có công phổ biến chữ Quốc ngữ, và khai phóng học vấn quần chúng. Hiện nay đồng bào ông ghi nhớ công ông góp phần kiến tạo nước Việt Nam hiện đại, trên nhiều phương diện…” (he was more responsible than any of the “quốc ngữ” script, and the resulting spread of mass literacy…), Voyage to Tonkin in the Year At-Hoi (1876) by P.J.B Trương Vĩnh Ký; translated and edited by P.J. Honey (1982).

– Ô. Raphael Barquisseau (Pháp): “… Ông tháo lui về ở ẩn dật để nghiên cứu và dạy các ngôn ngữ, cùng chuyên chú vào công việc dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Pháp và từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, mà ông cho là cần thiết giữa hai dân tộc”. (Bulletin de la Sté des Études Indochinoises (1933).

3.2. Giới Việt Nam:

Bình phẩm về sự nghiệp xã hội chính trị của ông Petrus Ký rất nhiều, nhưng những văn sĩ học giả Việt Nam đã có cảm nghĩ sâu sắc nhất gồm có:

– Ô. Phạm Thế Ngũ: … Người Pháp thấy muốn kéo tinh thần dân chúng về với người Tây, cần phải triệt bỏ văn tự kỳ khôi: Chữ Hán và chữ Nôm, dạy cho dân chúng chữ Pháp hay chữ Quốc ngữ đã sẵn sàng đó. Vần Quốc ngữ đã đi bước đầu ở miền Nam trước và người thợ cần cù đã góp công xây dựng nó trước tiên chính là ông Trương Vĩnh Ký (trang 66-67)… Tuy có đạo, và mình từng là chứng nhân và nạn nhân những vụ khủng bố đạo song ông không có ý kiến thiên lệch… ở ông ta, thấy thái độ thích đáng công minh của một bậc trí thức trung thực và tự trọng, không xu phụ mù quáng … (trang 72-73). V.N. Văn học Sử Giản ước tân biên. Phạm Thế Ngũ (1965).

– Ô. Nguyễn Văn Trấn: … Trương Vĩnh Ký là một triết gia duy lý … Biểu hiện ra với 3 tính cách:

+ Nguyện vọng “trí tri”. Sự hiểu thấu của lý trí khôn ngoan.

+ Ca ngợi “khoa học toàn năng” bằng cách vật.

+ Nắm vững các nguyên tắc “hài hòa” giữa các xã hội.

… Trương Vĩnh Ký là một người trí thức lớn, nước ta chưa từng có… {Trương Vĩnh Ký (Con Người và Sự Thật) (1-9-1986)}

– Giáo sư Nguyễn Văn Trung: Lý Luận về công trình văn hóa Ô. Trương Vĩnh Ký, tác giả đã viết: “… Công trình chú giải của Trương Vĩnh Ký, là làm một cách khoa học, với tinh thần trân trọng, nghiêm túc, trong việc vận dụng những kiến thức uyên bác Đông Tây kim cổ, và kinh nghiệm cụ thể đời sống hằng ngày của người dân thường”. Bàn về cuộc hạ tượng Ô. Trương Vĩnh Ký, tác giả thú nhận: “có thể chúng tôi (tập thể biên khảo) cũng có trách nhiệm phần nào về việc dẹp tượng Trương Vĩnh Ký, vì từ nhiều năm trước, chúng tôi đã đề ra một cuộc vận động phê phán Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, về phương diện chính trị và văn hóa …Văn khố Nam Kỳ của Pháp, thư gia trong đó có những thơ từ, bản tường trình, hồi ký của Trương Vĩnh Ký, có phải chỉ là người phản động … trong quỷ đạo xâm lăng của thực dân Pháp mà chính nhóm chúng tôi trong tủ sách “tìm về Dân tộc” trước năm 1975, đã khẳng định?

Riêng tôi, bây giờ không nghĩ đơn giản như vậy nữa, công trình biên khảo này nhằm điều chỉnh những lệch lạc, thiếu sót, bất công đối với ông Trương Vĩnh Ký.”

Biên khảo tác giả đã tạo 2 điều hoang mang cho độc giả: vụ dựng tượng ông Petrus Ký do người Pháp thực hiện để nhớ, và vụ hạ tượng này sau 1975 là do nhân dân không muốn duy trì tàn tích cũ dù tác giả đã nói rõ đó là lời Trương Vĩnh Thạnh, cháu nội ông Petrus Ký, được báo cho biết lý do vụ hạ tượng.

Sự thật là cuộc dựng tượng ông Petrus Ký là do Hội thân hào Nam Việt đề xướng cuộc lạc quyên, mà ông B. de la Brosse, cựu Thống đốc Nam Kỳ, đã xác nhận đầu tiên trong diễn văn đọc ngày 18-12-1927 giữa lễ khánh thành tượng (tài liệu nhà in Nguyễn văn Của Sài Gòn: À la mémoire de Petrus Trương Vĩnh Ký) và tượng đồng Ông Petrus Ký đứng trước công viên Dinh Độc Lập cũ Sài Gòn, vẫn sừng sững tồn tại đến 1975, sau cuộc biến cố, vì do lòng biết ơn người dân Nam Việt với ân nhân văn hóa nước nhà. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn liên tiếp 2 ngày 5 và 12-9-1998) của đài RFI Pháp (Radio France Internationale) thực hiện sau ngày giỗ 100 năm ông Petrus Ký do Hội Thân Hữu Cựu Học Sinh Trường Việt Nam tại Pháp và các hội thân hữu VN Au Mỹ tổ chức để kỷ niệm ngày 1-9-1998, Giáo sư Nguyễn Văn Trung, nguyên sinh quán tại Hà Nam, và hiện cư ngụ tại Gia Nã Đại, đã tự nhận đã nhận định sai phần nào về nhà văn hào Trương Vĩnh Ký trước đây, trong biên khảo của tác giả: “Trương Vĩnh Ký, nhà Văn Hóa” (1993).

– Giáo sư Vũ Ký: “… Cụ Trương Vĩnh Ký, dưới con mắt chúng ta, phải được xem là một bậc thầy đầu tiên khả kính của nhà trường dạy tiếng Việt, và dạy về quê hương mến yêu cho chúng ta, và cho con cháu chúng ta nữa. Trong suốt đời Cụ, ám ảnh to lớn là nền ngôn ngữ, văn học của đất nước, nhất là nền văn học xưa của nước Việt Nam cổ kính… Về hành động của mình đối với xứ sở, về tâm sự của mình để lại cho hậu thế, với đức khiêm tốn, với tâm thuật và cao hạnh cố hữu của Cụ có lẽ cũng chỉ nghĩ như bao tiên nho thuở trước: Bất cầu hữu công, đáng cầu vô qua’ (chẳng cầu lấy công, chỉ cầu đừng lỗi)… (Bài diễn văn Giáo Sư Vũ Ký ngày 2-8-1973 nói về nhà giáo dục sư phạm Trương Vĩnh Ký).

– Ô. Vương Hồng Sển (bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai): “… trọn đời Ông chỉ thiết tha với mối tình: sách, viết sách, làm ra cuốn sách, còn thì giờ là học thêm. Tiền bạc, giàu sang, danh vọng, ông xem tợ phù vân… dẫu muốn đan tâm báo quốc, một nhà nho yếu sức như Ông cũng không biết cách nào hơn, ngoài việc vun trồng văn hóa, bồi bổ cây Đức, câu Văn …” (bài diễn văn Ô. Vương Hồng Sển nói về” Thân thế và sự nghiệp Trương Vĩnh Ký”, 6-12-73).

– Học giả Hồ Hữu Tường: Trong bài nói chuyện tại Trung tâm Văn bút Việt Nam tại Sài Gòn ngày 28-7-2974, tác giả thuyết trình “Từ người trí thức đến kẻ sĩ phu”. Đại cương, học giả đưa ra 3 nhận xét:

    • Việc hợp tác với Pháp là do hoàn cảnh, do giáo dục, từbên ngoài bao vây một thiếu nhi, thiếu niên rồi thanh niên.Trách nhiệm sự kiện đó không nên quy về cho ông Trương Vĩnh Ký, vì Ông không được chọn cả 2 việc: chỗ đứng (trí thứcthế kẹt) và thế đứng ( bị hợp tác) .
    • Ông Trương Vĩnh Ký là nhà trí thức thức thời, chỉ lo“khai dân trí, tấn dân đức” (dạy Pháp về ngôn ngữ, phong tụcViệt Nam, để tránh trung gian bất chính, dạy tiếng Pháp chomọi người để hiểu họ và văn minh Âu Tây hơn, mở mang dântrí của người Việt đối với văn hóa mình). Hóa trình của ôngPetrus Ký, từ nhà trí thức, hóa thành một sĩ phu.

– Ông Vũ Ngọc Phan: “… Ông Trương Vĩnh Ký hồi đó xuất bản sách bằng chữ Quốc ngữ, phiên dịch từ sách chữ Nôm ra, cốt dùng truyện phổ thông lợi khí cho chữ Quốc ngữ được lan rộng trong dân gian. Ông là một nhà bác học, có óc tổ chức và có phương pháp chớ không phải là một nhà văn như những nhà văn khác…” (Sách “Nhà Văn Hiện Đại” (quyển 1 – 1960 Sài Gòn).

– Ô. Petrus Vũ Đình Trác: “… Ông xứng đáng là một chiến sĩ văn học đã đưa chữ Quốc ngữ lên đài danh dự với một địa vị vững chắc. Ông dịch thuật và sáng tác thơ văn quốc ngữ để truyền bá học thuật, giáo dục và canh tân nếp sống của người dân…” sách “Công Giáo VN Trong Truyền Thống Văn Học Dân Tộc (in tại Cali 1996).

– Ô. Nguyễn Thanh Liêm: “… Cuộc đời tận tụy làm việc cũng như công trình biên khảo quy mô phong phú và Petrus Ký đã cho thấy lý tưởng giáo dục và văn hóa của Ông: Đào tạo một lớp người mới có đủ những kiến thức khoa học kỹ thuật của nền văn minh Âu tây, đồng thời cũng nắm vững những nguyên tắc đạo đức cổ truyền của Đông Phương …” (Sách Trường Trung học Petrus Ký và nền giáo dục phổ thông Việt Nam).

– Ô. Cao Thế Dung (tức Cao Xuân Dung): “…Ông đã lập đại thành được tinh hoa của văn minh đông tây kim cổ … Việc buộc cho Trương tiên sinh làm chỉ điểm cho Pháp là cố tình bóp méo lịch sử … bản phúc trình của ông Trương Vĩnh Ký viết năm 1876 sau chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi viết 3 năm sau khi Francois Garnier đem quân đánh thành Hà Nội (20-11-1873) .. “Họ Trương là cây trúc quân tử, hiện thân của bất khuất, liêm khiết và ẩn nhẫn, dù phải trầm luân trong hệ lụy. Dù trong tình huống nào, Ông vẫn giữ lòng son dạ sắt với dân tộc và đất Mẹ…” Trương Vĩnh Ký thân thế và hành trang (Dân chủ Âu châu 191 – tháng 9-1998)

 

4. Kết luận

Những sự phê bình công luận về ông Trương Vĩnh Ký trong 100 vừa qua, sau khi ông mất, rất phong phú. Phong trào khảo cứu, quảng bá, ghi ơn Người có công xưa với nền văn hóa, chữ Quốc ngữ, gần đây đã được phát động mạnh, chẳng những trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, mà ngay cả trong nước, với phương tiện truyền bá tư tưởng qua sách báo. Trong lúc còn có người VN sang Mỹ định cư, in sách năm 1996 mưu hạ uy danh nhà bác học duy nhứt Việt Nam vào thế kỷ XIX, nhưng không hiệu qua, thì cũng còn có vài văn sĩ học giả tại quốc nội đã ca ngợi, binh vực, bào chữa tiên sinh trong sách in 1994 của tác giả Bằng Giang, và bài đăng trong tạp chí cuối năm 1998 của Lê Nguyễn: “Trương Vĩnh Ký một học giả lỗi lạc”. Ngoài ra, chương trình chỉnh trang bảo vệ di tích lịch sử, khu mộ và tác phẩm của Ông Trương Vĩnh Ký, cũng được manh nha thực hiện trong nước . Riêng về phương vị Ông Petrus Ký, ngoài những ý kiến dồi dào khác biệt đã kể trên sau 100 năm ngày Ông tạ thế, thiết tưởng cần nghiên cứu các điểm sau đây:

(i) Cá nhân: Ông Trương Vĩnh Ký là bậc trí thức. Ông đã áp dụng, thực thi đức tính “Trí” của kẻ sĩ để chu toàn ước mộng của Ông:

    • Học hỏi tinh tấn kiến thức văn minh, khoa học, đạo đứcÁ, Âu, và thực hành điều thâu thập, bằng cách chấn chỉnh, hoànmỹ quốc tự chữ Quốc ngữ, phong phú hóa văn hóa trong giới tríthức, dân gian, hấp thụ dễ dàng {soạn sách, dịch thuật, mởmang trình độ hiểu biết của người Việt Nam đối với văn hóanước mình. Ngoài ra, Ông đã giải phóng chữ Quốc ngữ thoátkhỏi lệ thuộc ngoại ngữ (Nho, Nôm, Pháp)}. Công trình văn hóacủa Ông từ phẩm đến lượng, thử hỏi từ xưa đến nay, từ ViệtNam đến khắp thế giới, ai là người đã làm được như Ông, trênlĩnh vực văn hóa ngôn ngữ?
    • Áp dụng đường lối chính trị nhu hòa, hữu hiệu trong cáccuộc đàm phán chiến sự, giao thương, chính trị. Ông đã khiếncác phái đoàn đối thoại phải trọng vọng kính nể, mà còn đố kỵghét ganh.

(ii) Xã hội: tình hình Việt Nam thời bấy giờ đã rõ rệt: Trong lúc các cường quốc Âu Châu sang Á Châu tìm thuộc địa để đô hộ, lực lượng quân sự, chính trị đôi bên quá chênh lệch. Phe chinh phục được trang bị phương tiện mạnh, nhanh (tàu chiến), vũ khí tối tân, binh hùng tướng mạnh. Đọc những sử liệu viết về chiến cuộc Đông Dương, như các sách “L’Indochine” của các tác giả Pháp Maurice Percheron (nhà in F. Nathan – 1942, và của Henri Gourdon (nhà in Larousse 1931) hay sách”L’Empire Vietnamien face à la France et à la Chine 1847 – 1885” của sử gia Nhựt Yoshiharu Tsuboi (nhà in L’Harmattan Pháp – tháng 9 – 1987), ta thấy chiến lược chiến thuật của Pháp xâm chiếm VN được mưu định kỹ càng, với các tướng hải quân Chaigneau, Vannier, De Forsan, R. de Genouilly, Page, Charner, Bonnard, De la Grandière), các sĩ quan pháo binh, công binh, (Olivier, Lebrun Barisi…). Ngoài ra, những chuyên viên chữ Hán, Việt, như E. Luro, Philastre, những chính trị gia cáo già Luro, Paulin Vial, là những người đố kỵ, ganh ghét Ông Petrus Ký, gièm pha và hại Ông.

Như thế quy tội ông Petrus Ký chủ trương, hay chỉ điểm giúp Pháp đô hộ Việt Nam là không đúng, vì ông làm văn hóa để giúp nước, dân trí, dạy học, làm việc lãnh lương, như người Việt Nam khác thời bấy giờ.

Ngoài ra, còn những nguyên nhân trọng yếu khác như: bài chống đạo Công Giáo, thế yếu của triều đình Huế, vừa phải chống xâm lược Pháp, vừa ngăn giặc nhà Thanh Trung Hoa (giặc “Cờ đen” phía Bắc, giặc khách Tàu Ô ở ngoài biển).

Theo tài liệu Ô. Cao Thế Dung viết, người đặc vụ tình báo chánh là Pierre Le Poivre, đã báo cáo với tổng trưởng Pháp Praslin, trong thơ ngày 1-8-1768, về tình hình quân đội Việt Nam ở Đàng Trong, đề nghị Pháp chiếm đóng nơi này, để quân bình lực lượng với đế quốc Anh ở Ấn Độ, và thiết lập ngoại giao với miền Nam Trung Hoa (Theo Revue Indochinoise No 30-7-1904, tác giả A. Épinay). Sau đó là diễn tiến cuộc xâm chiếm Việt Nam, với mưu lược đầu tiên là mượn cớ can thiệp bảo vệ các giáo sĩ hành đạo bị bắt giữ tại Việt Nam dưới triều vua Minh Mạng (1833 – 1836: Ngài cấm đạo Gia Tô hành giáo bằng Chỉ dụ 1837). Ông Petrus Ký được sinh ra đời năm ấy, và cuộc diễn tiến theo 2 câu thơ đầu bài thơ Ông chép trong “Cuốn sổ Bình Sanh” trước khi tạ thế:

Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai,

Xô đẩy người vô giữa cuộc đời…

Để kết luận việc lược thuật đúc kết công luận về Tiên sinh, 100 năm sau ngày tạ thế, xin góp vài cảm nghĩ sau:

Công luận “Nam Trung Ẩn Sĩ”

Bền chí vương tơ suốt kiếp tằm,

Đông tây kiến thức bậc uyên thâm.

Văn hóa chấn hưng nhờ quốc ngữ,

Cương thường gìn giữ bởi thiện tâm.

Giúp Vua, hòa Pháp, người am hiểu?

Cứu nước, thương nòi, tự biết thầm!

Khi sống, thân vui, đời quí trọng,

Thác rồi, công tội, chẳng quan tâm!