Chương 25

Đài R.F.I. Phỏng Vấn Giáo Sư Nguyễn Văn Trung Nhân Dịp 100 Năm Ngày Giỗ Trương Vĩnh Ký (01-09-1898 – 01-09-1998)

(Bài phỏng vấn này được trích từ Đặc San Petrus Ký 2000 do Hội Ái Petrus Ký Nam Cali thực hiện).

(nguồn: Quyển Tuyển Tập về “Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký” – 2005)

Petrus-Ky-xua-va-nay-02

RFI: Giáo sư đã viết về Trương Vĩnh Ký trước và sau 1975, giáo sư nghĩ vì về lễ giỗ 100 năm Trương Vĩnh Ký (TVK)?

G.S Nguyễn Văn Trung: Người làm biên khảo nghiêm chỉnh, nghĩ về lâu về dài ít chú ý tới mọi lễ lạc, và thường xa lánh tham dự vào những lễ lạc đó; trừ trường hợp người qua đời là một tác giả mình nghiên cứu, có thể nhân dịp tưởng niệm năm sinh mất để công bố một công trình đã soạn thảo từ lâu. Công trình biên soạn về TVK chưa xong nên tôi không có gì để công bố nhân dịp này. Tuy nhiên vì đã được hỏi, tôi nói đôi điều về Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhật TVK năm 1937. Tôi đọc lại toàn bộ các bài tường thuật và diễn văn của quan Tây quan Ta trong dịp ”Lễ kỷ niệm đệ bách châu niên sinh nhật nhà văn hào J.P. Petrus Trương Vĩnh Ký“ được tổ chức một cách chính thức trong cả nước và đặc biệt ở Nam Kỳ do nhà nước đại Pháp hồi đó chủ trì. Toàn là những lời xưng tụng. Không thấy một nhà văn hóa đứng đắn nào tham dự và nhất là không có một công trình biên khảo về TVK hay một xuất bản tác phẩm nào của TVK để đánh dấu lễ kỷ niệm này. Đọc bảng tổng kết tiền thu do quyên góp được 16.384 đồng 62 xu rưỡi thì chi cũng hết cũng đúng như thế, và hầu hết dùng vào việc xây đài hơn 6.000đ nào cho việc in ấn tác phẩm của TVK.

Điều tôi lưu ý là thái độ im lặng của Phạm Quỳnh mặc dầu lúc đó ông là Thượng Thư Triền đình. Ở Huế, Hội Quản trị Trung kỳ đứng ta tổ chức và Nguyễn Tiến Lãng Chủ sự Văn phòng Đức Bảo Đại diễn thuyết; Phạm Quỳnh chỉ thay mặt Bảo Đại trao mề đai cho một người con của TVK. Không hiểu vì sao Phạm Quỳnh im lặng; chỉ ghi nhận hồi đi vào Nam về viết một nhật ký: “Một tháng ở Nam Kỳ” đăng trong Nam Phong số 17 năm 1919; trong bài này Phạm Quỳnh bày tỏ thái độ coi thường khinh miệt văn học miền Nam, trí thức miền Nam mà ông cho là mất gốc; riêng TVK ông viết như sau:“Ông Trương chẳng qua là một nhà làm sách giáo khoa thường cho con nít học mà thôi, đã có công nghiệp gì với tổ quốc, đã từng bao giờ đem cái xác La Tinh ra mà dựng hồn Nam việt. Chẳng dám khinh gì người trước, nhưng những bậc danh sĩ nước Nam như ông Trương cả thì cũng không lấy gì làm vẽ vang cho nước lắm.”

Vậy có thể giải thích thái độ im lặng của Phạm Quỳnh vì đã đánh giá TVK như thế, làm sao còn có thể xưng tụng ông dù chỉ là về xã giao lễ nghi, nhất là lúc đó Phạm Quỳnh không còn phải là ký giả mà là ông quan Thượng Thư Triều đình.

Tuy nhiên, nhân dịp này có một học giả miền Bắc đã lên tiếng không phải trong khuôn khổ lễ kỷ niệm chính thức vào tháng Chín mà ngay từ đầu năm trong một bài biên khảo 45 trang đăng trong Bulletin de la Société d’enseignement mutuel du Tonkin, Tome 17, Janvier – Juin 1937. Bây giờ một người viết về TVK một cách nghiêm chỉnh, chỉ có thể tìm hiểu một khía cạnh nào đó phù hợp với khả năng chuyên môn của mình chẳng hạn Nho học, ngôn ngữ học, sử học, văn học chữ Hán,

chữ Nôm, văn học dân gian… Chỉ có một người như Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố có vốn hiểu biết sâu rộng đa diện mới thực hiện một công trình biên khảo tổng hợp về TVK. Đọc hầu hết những gì đã viết về TVK gần đây, tôi vẫn chưa thấy ai nói về TVK sâu, rộng, đủ như Nguyễn Văn Tố. Nhưng trớ trêu thay bài của cụ Tố kể như chìm vào quên lãng ngay cả những người viết về TVK cũng không biết trừ Lê Thanh người đã vào Nam đến tận ngôi nhà xưa của ông để tham khảo viết một sách nhan đề:

“Trương Vĩnh Ký biên khảo” in trong phổ thông Chuyên san, Tân Dân xuất bản phát hành số 3 Septembre 1943 được Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố đề tựa.

Về lễ giỗ 100 năm, tôi không rõ chính phủ Pháp có làm gì không; tôi cũng không rõ trong nước có làm gì; còn ở hải ngoại, ở nhiều nơi ở Bắc Mỹ có Hội ái hữu cựu học sinh Trương Vĩnh Ký có đăng quảng cáo thiệp mời lễ giỗ 100 năm TVK và 70 năm thành lập trường trung học TVK; ai muốn tham dự đóng tiền ăn ở nhà hàng… Chắc sẽ lại có những diễn từ xưng tụng và có thể ra được một kỹ yếu đăng hồi ký của các cựu học sinh nhưng không biết có bài biên khảo nào về TVK hay có dự định xuất bản tác phẩm nào của ông để đánh dấu ngày lễ giỗ. Lập hội ái hữu hàng năm họp nhau để ôn lại những kỷ niệm dưới mái trường xa xưa là một điều đẹp. Nhưng nếu còn muốn làm lễ giỗ một ông thầy theo truyền thống được coi như cha mẹ thì cử chỉ đó còn đẹp hơn nữa ở một nơi quan hệ thầy trò chỉ còn là quan hệ buôn bán chữ, trong đó học sinh sinh viên được gọi là khách hàng của thầy giáo nhà trường (la clientèle). Nhưng tôi thắc mắc không biết những nơi tổ chức lễ giỗ có cử người về viếng mộ để thắp một vài nén hương … và nếu cảnh khu mộ bây giờ vẫn còn như cách đây vài năm tôi đến thăm chụp hình; liệu những người xưng tụng TVK là thầy có thể vui vẻ ngồi ăn gọi là ăn giỗ được không?

RFI: Xin giáo sư cho biết cụ thể tình hình biên khảo về TVK của giáo sư cho đến bây giờ và tại sao có sự chuyển hướng biên khảo sau 75?

G.S. Nguễn Văn Trung: Trước 75 tôi đã viết nhiều bài, sách phê phán nghiêm khắc TVK đặc biệt về chính trị, hơn nữa tôi còn gợi ý khuyến khích một vài bạn trẻ đi vào con đường đó như Pham Long Điền, Nguyễn Sinh Duy. Những loạt bài phê phán của chúng tôi đã gây phiền muộn bất mãn trong giới văn hóa miền Nam lúc đó đặc biệt hai người Hồ Hữu Tường và Vương Hồng Sển đợi đến 1993 khi xuất bản cuốn hồi ký “Hơn Nửa Đời Hư” mới bộc lộ nỗi bực tức của mình: “Tội nghiệp cho học giả tiền bối miền Nam, chết được dựng tượng đồng nay có trẻ nhỏ dám đến đái dưới gốc chân tượng.”

Sau 75, những điều kiện chủ quan khách quan làm cho tôi khám phá ra miền Nam về phương diện địa lý chính trị và đưa tôi vào công trình biên soạn gọi là Lục Châu Học mà tôi đã giới thiệu trong nước ngoài nước và đài RFI đã phỏng vấn mùa HèTrong khuôn khổ biên khảo về Lục Châu Học, dĩ nhiên tôi phải duyệt lại lối nhìn trước đây về TVK. Tôi thấy một sai lầm về phương pháp luận là đã chỉ tin vào tài liệu nhất là loại văn khố của người Pháp để lại mà không xét tới hai tiêu chuẩn sau đây để đánh giá một nhân vật: Vinh thân phì da, Tham quyền cố vị. Quần chúng dựa vào hai tiêu chuẩn đó mà đánh giá TVK cho ta thấy tại sao hồi Cách Mạng tháng Tám, dân chúng biểu tình tuần hành ngoài đường Phố Sài Gòn giật tượng ông Tây bà Đầm hay quan Ta theo Tây, mà không đụng đến tượng TVK mặc dầu tượng ở ngay giữa khu trung tâm cuộc biểu tình.

Sau đó tìm hiểu về diễn tiến dựng tượng tôi ngạc nhiên hồi đầu thế kỷ (1907 – 1908) chính Trần Chánh Chiếu và phong trào Minh Tân của ông đứng ra vận động quyên tiền cả Nam Kỳ dựng tượng một người mà Trần Chánh Chiếu gọi là ”Ông Thầy Đạo Lý Của cả Nam Ky”. Những người Pháp đứng đắn thời kỳ đầu Pháp thuộc cũng cảm phục con người học thức và tư cách của ông nên cũng gọi ông là Cher Maitre. Điều này đã trở thành một truyền thống trong dân chúng mà tôi không nhận ra khi phê phán, kết án Trương Vĩnh Ký. Do đó, tôi biên khảo Lục Châu Học và Trương Vĩnh Ký là để tạ lỗi với miền Nam nói chung và với Trương Vĩnh Ký nói riêng.

Tượng TVK chỉ bị triệt hạ sau 75 tôi không rõ khi quyết định hạ tượng những vị có thẩm quyền có tham khảo những ý kiến của trí thức miền Nam trước 75. Nếu có thì tôi cũng nhìn nhận tôi có phần trách nhiệm trong đó và tôi thật có bổn phận phải trình bày chúng tôi đã lệch lạc thiếu sót và bất công thế nào trong việc đánh giá TVK. Tuy nhiên cuốn “Trương Vĩnh Ký, Nhà Văn Hóa” do Hội Nhà Văn xuất bản hồi 1993 chỉ là một tập mở đầu, tôi chưa thể dành hẳn một chương nói về con người chính trị của TVK vì chưa đủ tài liệu. Gần đây tôi được đọc hai luận án tiến sĩ viết về TVK và tiếp xúc với các tác giả luận án tôi đã có thể có tương đối đầy đủ những tài liệu của Văn Khố Pháp để làm việc này. Ngoài ra tôi đang tìm kiếm những bài TVK đã viết cho các hội, tổ chức khoa học Âu Châu hoặc thư từ trao đổi giữa ông với các nhà học giả thời đó, và nhất là thực hiện được một chuyến đi theo sát phái đoàn Phan Thanh Giản qua Pháp, Ý, Tây Ban Nha … Trong phái đoàn này TVK chỉ là một thông ngôn, nhưng là một thông ngôn am hiểu tình hình chính trị, văn hóa nước mình, khu vực Á Châu mà còn am hiểu tình hình Âu châu, văn hóa Âu châu, nói thông thạo các tiếng Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha, La Tinh… Cứ tưởng tượng những người tiếp phái đoàn Việt Nam như Giáo Hoàng được nói với một người Việt Nam bằng tiếng Ý, Tiếng La Tinh trao đổi những vấn đề tư tưởng, văn hóa, tôn giáo… họ phản ứng ra sao, tất nhiên đều có trao đổi quà tặng: Quà tặng phái đoàn hiện nay không còn gì, nhưng quà phái đoàn chắc chắn vẫn lưu giữ ở trong bảo tàng viện Vatican với các hồ sơ ghi lại nội dung những buổi gặp gỡ thương thuyết; và riêng TVK cũng chắc chắn có vụ tặng sách như tặng sách cho Nga hoàng mà bây giờ người ta tìm thấy ở thư viện Saint – Bourg. Phái đoàn có thể không đi Nga nhưng riêng TVK có thể đi mới có vụ tặng sách. Tôi nghĩ có thể phát hiện nhiều điều lý thú nếu thực hiện được chuyến đi theo gót phái đoàn Phan Thanh Giản này.

RFI: Ngoài việc tìm hiểu con người chính trị, trọng tâm biên khảo nhằm đánh giá sự nghiệp văn hóa của TVK về điểm này hiện giáo sư quan niệm ra sao?

G.S. Nguyễn Văn Trung: Sau một thời gian suy nghĩ tìm kiếm tôi thấy muốn đánh giá công trình và công lao của TVK về văn hóa, thiết tưởng phải vượt khuôn khổ “Lục Châu Học” mảng văn học miền Nam thời kỳ Pháp chiếm Nam Kỳ thế kỷ XIX đi ngược lên thế kỷ XVIII, XVII lúc Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Tây phương qua trung gian Ki Tô giáo mà tôi gọi mảng văn học này là mảng Nho, Nôm, Quốc ngữ, đạo thế kỷ XVII, XVIII.

Khái niệm chủ chốt làm cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu mảng văn học thế kỷ XVII, XVIII là: vai trò xã hội của chữ viết trong nền văn minh nói chung, trong các chế độ chính trị, trong giao lưu văn hóa về tư tưởng triết học, tôn giáo, văn học. Nhiều nhà dân tộc học, nhân loại học đã nghiên cứu vấn đề này. Tôi lưu tâm tới quan điểm của Claude Lévy Strauss người Pháp và Jack Goody người Anh giáo sư nhân loại học đại học Cambrige.

Trên bình diện giao lưu văn hóa về tư tưởng triết học, tôn giáo, văn học vấn đề đặt ra là tại sao trí thức Âu châu đã thực hiện được một thoát ly khỏi chữ La Tinh để thiết lập những nền văn học quốc gia hoặc những nền giáo dục sử dụng ngôn ngữ chữ viết của dân tộc mình? Việt Nam không thực hiện được việc thoát ly chữ Hán để thiết lập một nền văn học Việt Nam dùng chữ Nôm để truyền đạt Tam giáo mà phải đợi đến khi Việt Nam rơi vào một ách đô hộ khác chấm dứt các kỳ thi bằng chữ Nho hồi đầu thế kỷ XX mới buộc phải có những bản dịch kinh Phật đầu tiên vào những năm 1930 ở cả Nam Trung Bắc, còn Tứ thư Ngũ Kinh đã có bản dịch nào ra chữ Nôm hay quốc ngữ?

Gần đây Như Hạnh, một nhà Phật học tốt nghiệp Harvard về ngành tôn giáo đối chiếu chuyên về Phật giáo Tây Tạng, giáo sư tại đại học Georges Mason, Hoa Kỳ đã bắt đầu thực hiện một công trình dịch kinh Phật từ tiếng Tây Tạng đồng thời đưa ra những đòi hỏi về phương pháp liên quan đến việc phiên dịch tư tưởng từ một văn hóa này sang văn hóa khác. Theo Như Hạnh, người ta hầu như không thể viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam một cách nghiêm túc vì thiếu tài liệu, hơn nữa lại càng không thể viết về lịch sử văn điển (textual history) trên bình diện văn hóa sử, trong khi ở Trung quốc những cố gắng phiên dịch từ Phạn ngữ ra Hoa ngữ trong nhiều thế kỷ không những cho phép viết một lịch sử văn điển Trung Quốc mà còn cho thấy Phật giáo đã đóng góp vào văn hóa Trung quốc thế nào về phương diện ngôn ngữ làm phong phú hóa tiếng Trung Hoa bằng những hình ảnh thành ngữ … Từ thế kỷ XVII Ki tô giáo du nhập Việt Nam và ngay từ ban đầu tại sao những trí thức Âu châu là các nhà truyền giáo thuộc Dòng Tên cùng với những nhà Nho để thiết lập một văn hóa tôn giáo bằng chữ Nôm rồi chữ Quốc ngữ? Việc phiên dịch tư tưởng tôn giáo bắt buộc người dịch phải tìm hiểu những đặc điểm tiếng Việt chữ viết tiếng Việt và do đó tìm hiểu nếp sống tinh thần, vật chất, tâm tình của người Việt được diễn tả qua tiếng nói chữ viết của họ. Lấy một ví dụ:

Lễ nghi đầu tiên của người theo đạo là chịu phép rửa tội có một công thức bằng tiếng La Tinh vậy phải dịch thế nào công thức này ra chữ Nôm chữ Quốc ngữ, đòi hỏi dịch này là cấp bách và cần thiết; hiện còn giữ một văn bản ghi lại nội dung cuộc tranh luận này, và có thể gọi đó là cuộc tranh luận đầu tiên về ngữ pháp tiếng Việt cách đây hơn 300 năm.

Qua ví dụ trên người ta mới hiểu từ thế kỷ XVII trí thức Công giáo đã phiên dịch kinh thánh, kinh sách lễ nghi, sử ký, hội thánh… và việc phiên dịch đó đưa họ tới việc tìm hiểu tiếng Việt, lịch sử, văn hóa Việt Nam. Do đó, những tài liệu để lại cho thấy những công trình biên soạn về tự điển ngữ pháp tiếng Việt, văn hóa, phong tục, lịch sử Việt Nam. Đứng trước những tài liệu của mảng văn học này còn lưu giữ được người ta không phải chỉ có thể nghiên cứu tìm hiểu mà còn tìm hiểu văn hóa Việt Nam về các mặt lịch sử, địa lý … nhất là về ngôn ngữ.

Đến thế kỷ thứ XIX xuất hiện TVK một khuôn mặt tiếp tục truyền thống biên khảo từ thế kỷ XVII có khả năng làm tất cả những việc mà trước đó không ai làm được và sau ông cho đến nay cũng không ai làm được như ông. Trước hết làm tự điển.

Thứ hai nghiên cứu văn phạm tiếng Việt. Thứ ba dịch các tác phẩm kinh điển Nho học ra quốc ngữ dịch từng chữ, dịch xuôi và chú giải, đặc biệt dịch Tứ thư và Trung dung là cuốn khó hiểu khó dịch hơn cả vì đụng đến siêu hình học; phiên âm các tác phẩm Nôm ra quốc ngữ và chú giải. Thứ tư sưu tầm ghi lại mảng văn hóa dân gian truyền miệng, tuồng hát bội, ca dao tục ngữ, những kiểu chơi chữ … Thứ năm xây dựng câu văn tiếng Việt; viết đúng chính tả dùng những từ thuần Việt, tránh dùng từ Hán Việt không cần thiết. Chẳng hạn Nhà in, Nhà hàng…

Viết gọn trong sáng rõ tạo ra một trường phái Trương Vĩnh Ký qua một số những tờ báo thời đó khác với dùng quốc ngữ ngoài trường phái viết sai chính tả chêm nhiều câu văn nói chữ vào bài viết quốc ngữ như thấy ở một số báo ở Nam Kỳ thời đó. Có nhận diện được hai dòng viết văn quốc ngữ kể trên mới hiểu cuộc tranh luận hồi 1934 giữa Phan Khôi và mấy nhà văn miền Nam nổi tiếng khi Phan Khôi lên tiếng chê trách những nhà văn này viết sai chính tả ngay cả tên của mình như: Nguyễn Chánh SẮT đáng lẽ phải viết Nguyễn Chánh SẮC, hay là Đặng Thúc LIÊNG đáng lẽ phải viết là Đặng Thúc LIÊN. Tại sao không học viết theo TVK?

Sau cùng xây dựng câu văn xuôi. TVK cho rằng văn vần không đủ khả năng để diễn tả thực tế vì thế ông chủ trương viết văn xuôi như một điều kiện để truyền đạt tư tưởng khoa học và kiến thức về các ngành khoa học xã hội.

Cho đến ngày nay nhiều người theo vết chân Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan … vẫn ca tụng nhóm Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong tạp chí đi tiền phong về văn quốc ngữ. Tôi nhận định đúng như vậy và chỉ xin một chú thích nhỏ: trong khu vực đồng bằng sông Hồng miền Bắc không phải cả nước.

Việc đánh giá công lao của TVK không thể tách rời việc đánh giá tư cách trí thức của ông trong những lựa chọn của ông:

  1. TVK có thể thừa khả năng làm quan Tây, quan Ta tonhư ai và ông đã từ bỏ.
  1. Về phương diện văn hóa ông có thừa khả năng trởthành nhà bác học đặc biệt về ngôn ngữ học. Một số bàiviết của ông về ngôn ngữ học được giới chuyên mônthời đó coi ông như đương nhiên là đồng nghiệp của họ.Nhưng sau đó ông cũng đã không đi theo sự lựa chọnđó.
  1. Ông thừa khả năng lập thuyết về chính trị văn hóa vìông am hiểu sâu rộng văn hóa Đông Tây kim cổ, chẳnghạn trao đổi bằng tiếng La Tinh với những học giả ở ÂuChâu, một điều mà ngay trí thức Âu Châu ít người làmđược ở thế kỷ XIX. Ông đã chọn một cách có ý thức,trước hết nghề làm thông ngôn, thầy ký dịch sách là mộtnghề mà những ai có kinh nghiệm đều thấy vất vả, tămtối không nổi tiếng được cho bằng những kẻ lập thuyếtdù sai hay đúng, và công việc này thường thích hợp vớinhững nhà tu dù Công giáo hay Phật giáo chỉ nghĩ đếnlợi ích của văn hóa. Lựa chọn thứ hai là làm thầy giáodạy con nít tiểu học những trò chơi con nít, những kiểunói lái, nói trại câu đố câu thai…và ông đã chú thích đâykhông phải là nhãm nhí đâu mà là văn hóa đạo lý đấy.

Những lựa chọn này đã bị Phạm Quỳnh chê bai khinh bỉ, nhưng người miền Nam lại coi Trương Vĩnh Ký là ông thầy Đạo Lý của cả Nam Kỳ.

TCĐT: (*) (06-12-1837 – 01-09-1898)