Đầu tháng 9-1997, tôi về làm việc cho Thư Viện của Đại Học Saskatchewan tại thành phố Saskatoon, thuộc tỉnh bang Saskatchewan, trong vùng Đại Bình Nguyên (Grande Prairie) của Canada, với chức vụ Trưởng Ban Biên Mục (Head, Cataloguing Department).  Việc làm này là công việc mà tôi đã từng mơ ước (my dream job) trong nhiều năm từ khi đến định cư ở Canada vào tháng 9-1981.  Công việc làm này cũng sẽ là bệ phóng giúp tôi đạt đến đỉnh cao của nghề chuyên môn thư viện của tôi.   Bài viết này ghi lại duyên lành của tôi với Trường Đại Học Saskatchewan mà tôi sẽ ghi nhớ và trân trọng trong suốt cuộc đời này.   

Được Tuyển Chọn Làm Trưởng Ban Biên Mục

 Cuối tháng 2-1997, trong lúc đọc nhựt báo The Globe and Mail, tôi thấy đăng một thông báo của Trường Đại Học Saskatchewan về việc tuyển chọn người cho chức vụ Trưởng Ban Biên Mục của Thư Viện Trường (Head, Cataloguing Department, University of Saskatchewan Libraries).

Thông báo tuyển Trưởng Ban Biên Mục của Thư Viện Đại Học Saskatchewan

The thông báo, ứng viên phải có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác biên mục theo các tiêu chuẩn của Bắc Mỹ cũng như có nhiều năm đảm nhận các chức vụ chỉ huy.  Tôi rất mừng vì 2 lý do chính sau đây: 1) Đây là công việc mà tôi đã để tâm tìm kiếm từ lúc di dân sang Canada từ tháng 9-1981, nói cách khác, đây là công việc làm lý tưởng của tôi (my dream job); và, 2) Đây là một công việc mà tôi thật tâm tin tưởng là bản thân tôi hoàn toàn có đầy đủ điều kiện và kinh nghiệm để đảm nhận.  Tôi đã tốt nghiệp từ Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University), tiểu bang New York, Hoa Kỳ, với bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science – MLS) từ hơn 20 năm (1973-1997), đã làm công tác biên mục tại Canada từ hơn 15 năm (1982-1997), đã từng giữ chức vụ chỉ huy 8 năm tại Việt Nam (1973-1981) và hơn 10 năm tại Canada (1984-1997), và cũng đã từng giảng dạy bộ môn Biên Mục trong hơn 10 năm tại 2 trường đại học cộng đồng của tỉnh bang Ontario, Algonquin College ở Ottawa (1982-1984) và Mohawk College ở Hamilton (1985-1995).

Ngày 21-2-1997, tôi gởi thư cho ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện Đại Học Saskatchewan, xin tham gia vào cuộc tuyển chọn chức vụ Trưởng Ban Biên Mục đó.  Kèm theo thư là bản lý lịch (Curriculum Vitae = CV) mới nhứt và đầy đủ nhứt của tôi và 2 bức thư giới thiệu (Letter of Reference) của Bà Wendy Newman và Bà Lois Wall.  Bà Wendy Newman đã từng là cấp chỉ huy của tôi trong thời gian hơn 8 năm tôi làm Trưởng Ban Biên Mục Trực Tuyến (Manager, Online Catalogue) tại cơ quan liên bang Canadian Center for Occupational Health and Safety tại Hamilton.  Bà Lois Wall là Giám Đốc Chương Trình Đào Tạo Nhân Viên Trung Cấp Về Thư Viện và Thông Tin (Library and Information Technician Program) tại Trường Đại Học Cộng Đồng Mohawk mà tôi đã tham gia giảng dạy trong 10 năm trước đó (1985-1995):

Trích đoạn từ thư giới thiệu của Bà Wendy Newman

Trích đoạn từ thư giới thiệu của Bà Lois Wall

Ngày 2-6-1997, tôi được Ủy Ban Tuyển Chọn (Search Committee) của Thư Viện Đại Học Saskatchewan phỏng vấn và ngày 13-8-1997, tôi nhận được Offer of Employment của Đại Học với đầy đủ thông tin về chức vụ, ngạch trật và lương bổng và ngày chính thức bắt đầu làm việc sẽ là ngày 1-9-1997.    

Vào Biên Chế Chính Thức (Tenure) Của Đại Học Saskatchewan

Trong thời gian 3 năm (1997-2000), trong chức vụ Trưởng Ban Biên Mục, tôi đã thực hiện một số dự án quan trọng cho Thư Viện của Đại Học Saskatchewan mà tôi đã đích thân soạn thảo, thuyết trình, và được sự chấp thuận của Ủy Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee – LMC) dưới sự lãnh đạo của ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện.

Đóng góp đầu tiên là một khóa huấn luyện 4 ngày về biên mục dành cho cho các nhân viên trung cấp làm công tác biên mục sao chụp (copy cataloguing). Xin nói thêm một chút về việc này cho các bạn bên ngoài ngành thư viện nắm rõ hơn.  Công tác biên mục (cataloguing) là công tác nòng cốt của khối dịch vụ kỹ thuật (technical services division) của thư viện, nhằm tạo ra các ký lục thư tịch (bibliographic records) cho các tài liệu nằm trong sưu tập của thư viện.  Đây là một công việc mất rất nhiều thì giờ và tốn kém, và bắt buộc phải tuân thủ các quy tắc về biên mục (cataloguing rules) để có thể tạo ra sự nhất quán (consistency) trong thư mục nhằm giúp cho việc truy tìm tài liệu trong thư mục được kết quả tối ưu.  Từ hơn một thế kỷ nay, công việc này đã được thực hiện theo lối tập trung (centralized): các thư viện đứng đầu trong nước, thường là các thư viện quốc gia, tại Hoa Kỳ thì đó là Thư Viện của Quốc Hội (Library of Congress, thường gọi tắt là LC), thực hiện các ký lục gốc cho từng tài liệu (original cataloguing), các thư viện trong cả nước sẽ sao chụp lại (copy cataloguing), và sửa đổi một ít cho phù hợp với nhu cầu của mình.  Các biên mục viên sao chụp (copy cataloguers) đều nắm rõ cách làm ra sao nhưng phần lớn thì không nắm vững được tại sao phải làm như vậy.  Nhân viên trung cấp của Thư Viện Đại Học Saskatchewan cũng không đi ra ngoài tính cách chung này.  Vì vậy họ rất thích thú khi được dự khóa huấn luyện này.   Sau khi khóa huấn luyện kết thúc, đa số “học viên đã đánh giá khóa học từ Tốt đến Rất Tốt (from Very Good to Excellent).” [1]

Đóng góp thứ nhì, quan trọng hơn rất nhiều, là dự án thanh lọc toàn bộ thư mục của Thư Viện Đại Học Saskatchewan.  Đại Học Saskatchewan được thành lập vào năm 1907. [2]   Tháng 9-1997, khi tôi nhận nhiệm vụ Trưởng Ban Biên Mục thì Thư Viện đã có một sưu tập được phát triển trong 90 năm và thư mục trực tuyến (Public Access Online Catalogue = OPAC) của Thư Viện lúc đó đã chứa được gần một triệu ký lục thư tịch, một con số rất đáng kể về lượng (quantity).  Tuy nhiên, về phẩm (quality), thì thư mục đó không được hoàn hảo, chứa đựng rất nhiều khuyết điểm trong các ký lục thư tịch đã được làm ra vào nhiều thời kỳ khác nhau, theo các quy tắc biên mục khác nhau, và, vì vậy, hoàn toàn không đạt được tính nhất quán cần phải có.  Công tác biên mục nhằm kiểm tra các tiêu đề sử dụng trong thư mục đó được gọi là Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn = KSTĐC (Authority Control = AC).  Hệ thống thư viện của Đại Học Saskatchewan, cũng như tất cả các thư viện đại học của Bắc Mỹ tại thời điểm này, đã được tự-động-hóa (library automation) với chương trình máy tính (computer software) do Công Ty INNOPAC cung cấp.  Tôi đã trình lên LMC một dự án nhằm thanh lọc toàn bộ thư mục gần một triệu ký lục đó để tạo ra sự nhất quán cần có để giúp cho giáo sư và sinh viên của Trường có thể đạt được tối ưu trong lúc truy tìm tài liệu trong Thư Viện.  Dựa trên tình hình thực tiển của Ban Biên Mục lúc đó, tôi đề nghị LMC cho phép thực hiện dự án quan trọng này theo lối tại ngoại (Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn Tại Ngoại = KSTĐCTN = Authority Control Outsourcing) với một công ty của Hoa Kỳ tên là Library Technologies, Inc. (LTI) chuyên làm công tác thanh lọc đó.  “Nhờ các chuẩn bị kỹ lưỡng và đầy đủ của các đơn vị của Thư Viện như Ban Biên Mục và Khối Công Nghệ Thông Tin (Information Technology Services = ITS), cũng như sự cộng tác chặt chẽ của các công ty LTI và INNOPAC, việc thực hiện dự án KSTĐCTN đã diễn ra thành công tốt đẹp.  Thư Viện Đại Học Saskatchewan đã có được một OPAC có trên một triệu biểu ghi thư mục với phẩm chất cao. Tôi đã viết một bài tường trình toàn bộ dự án KSTĐCTN này của Thư Viện Đại Học Saskatchewan cho tạp chí chuyên ngành Cataloging & classification quarterly. [3]

Cũng trong thời gian này, tôi cũng đã có thêm một số đóng góp quan trọng cho ngành thư viện, cụ thể là 2 công trình nghiên cứu và kết quả đã được đăng trong các tạp chí chuyên ngành như sau:

Vinh-The Lam, “Cataloguing Internet Resources: Why, What, How,” Cataloguing & Classification Quarterly, v. 29, no. 3 (2000), tr. 49-61.

Vinh-The Lam, “Issues in Library Development for Vietnam,” Asian Libraries, v. 8, no. 10 (Dec. 1999), tr. 371-379.

Nhờ tất cả những đóng góp quan trọng này, tôi đã được Đại Học Saskatchewan chấp nhận cho vào biên chế chính thức (tenure).  Ngày 24-7-2000, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến Sĩ Peter MacKinnon, Viện Trưởng, Viện Đại Học Saskatchewan (President, University of Saskatchewan) báo tin mừng là Hội Đồng Quản Trị của Viện Đại Học (Board of Governors), dựa trên khuyến cáo của Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học (University Review Committee), dưới sự lãnh đạo của Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ (Vice-President, Academic), đã chấp thuận và chúc mừng việc vào biên chế của tôi:

Thăng Cấp Tại Đại Học Saskatchewan

 Theo truyền thống tại các đại học của Bắc Mỹ, được tenure có nghĩa là có được công việc làm vĩnh viễn, không còn sợ bị cho nghỉ việc (lay off) nữa, có thể yên tâm làm việc cho đến ngày về hưu.  Với văn thư chính thức kể trên của Viện Trưởng MacKinnon, tôi đã thật sự có được cái gọi là “job security for life.”

Tháng 9-1997, khi tôi bắt đầu nhận chức vụ Trưởng Ban Biên Mục, tôi được Đại Học xếp vào ngạch Quản Thủ Thư Viện (Librarian), bậc 3 (Librarian III).  Ba năm sau, năm 2000, tôi đã lên đến trần của Librarian III rồi.

Cuối năm 2001, ông Ken Ladd, Phó Giám Đốc Thư Viện, kiêm Trưởng Ban Thăng Cấp của Thư Viện (Library Promotion Committee) đã chính thức ghi nhận như sau: “It is my opinion that Thé meets the standards for promotion to Librarian IV”:

Dưa trên nhận định này của ông Ken Kadd, ông Frank Winter khuyên tôi nên làm thủ tục thăng cấp lên Librarian IV.  Tôi đã từ chối và đề nghị nên chờ thêm một năm nữa hãy làm để tôi có thể có thêm phần đóng góp vào thành quả chung của toàn thư viện (paying my dues).  Một năm sau, 2002, tôi gởi văn thư chính thức cho ông Frank Winter làm thủ tục thăng cấp lên Librarian IV.   Việc thăng cấp này kéo dài mất khoảng 6 tháng là một tiến trình có kết quả tốt đẹp nhưng cũng không kém phần cay đắng (bitter-sweet).  Khi khởi sự tại Thư Viện, dưới sự cứu xét của Ủy Ban Thăng Cấp Quản Thủ Thư Viện Từ Bậc III Lên Bậc IV (Library Promotion Committee for Librarian III To IV), gồm 14 Librarian IV, một số thành viên của Ủy Ban đã cấu kết với nhau chống lại sự thăng cấp cho tôi.  Tôi rất buồn vì sự phản bội và đâm sau lưng này của những đồng nghiệp đó vì lý do sau đây: trước khi tiến hành thủ tục này, tôi đã đến gặp từng người trong bọn họ, trình bày rất rõ ràng việc tôi đã đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn cho việc thăng cấp từ Librarian III lên Librarian IV (theo đúng các tiêu chuẩn trong phần liên hệ trong tài liệu chính thức này của Đại Học Saskatchewan: UNIVERSITY OF SASKATCHEWAN STANDARDS FOR PROMOTION AND TENURE), và mong muốn được sự ủng hộ của họ.  TẤT CẢ đều đồng ý là tôi đã đáp ứng tiêu chuẩn thăng cấp và đều hứa sẽ ủng hộ tôi.  Tôi đã gởi văn thư khiếu nại lên Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ (Vice-President, Academic), Chủ Tịch Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học (Chairman, University Review Committee).  Tiến Sĩ Atkinson duyệt lại toàn bộ hồ sơ của vụ việc, và quyết định chấp thuận cho tôi thăng cấp lên Librarian IV.  Ngày 20-3-2002, tôi nhận được văn thư chính thức từ Tiến Sĩ Atkinson thông báo việc Ủy Ban đã khuyến cáo Hội Đồng Quản Trị của Đại Học (Board of Governors) chấp thuận việc thăng cấp của tôi:

“On behalf of the University Review Committee, I am pleased to inform you that the Committee has recommended to the Board of Governors that you be promoted to the rank of Librarian IV effective July 1, 2002.  Congratulations!  You should receive a letter from the Board of Governors later this month.

The documentation provided supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date.  Our recommendation to the Board of Governors is a vote of confidence in you as a senior member of the university community and in your continuing contribution to the academic life and vitality of the University of Saskatchewan.” [4]

Ngày 19-4-2002, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến Sĩ Peter MacKinnon, Viện Trưởng, Viện Đại Học Saskatchewan, thông báo quyết định của Hội Đồng Quản Trị của Đại Học chấp thuận việc thăng cấp lên Librarian IV của tôi:

Sau khi thăng cấp lên Librarian IV, tôi được LMC cử kiêm nhiệm luôn chức vụ Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division), điều khiển cả 2 ban của Thư Viện là: Ban Biên Mục và Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department) và, với chức vụ Trưởng Khối này, tôi đương nhiên trở thành một ủy viên thường trực của LMC.

NGHỈ PHÉP ĐI LÀM NGHIÊN CỨU

Đầu năm 2003, tôi đã làm việc cho Đại Học Saskatchewan sang năm thứ 6, và đã 62 tuổi, chỉ còn 3 năm nữa là đến tuổi nghỉ hưu rồi.  Theo quy chế của Đại Học Saskatchewan, các Quản Thủ Thư Viện (QTTV = Librarian) được xếp chung vào cùng một Công Đoàn với các Giáo Sư (GS = Professor) và, vì vậy, QTTV cũng được hưởng các quyền lợi như các GS.  Theo quy chế này, sau khi làm việc 3 năm thì các thành viên của Công Đoàn này được nghỉ phép dài hạn (Sabbatical Leave) 6 tháng, hưởng 100% lương để đi làm nghiên cứu; sau 6 năm thì sẽ được Sabbatical Leave trọn một năm (12 tháng) và hưởng 80% lương.

Tôi quyết định lấy Sabbatical Leave trọn một năm luôn, từ ngày 1-7-2003 cho đến 30-6-2004.  Trong đơn nộp cho Ủy Ban Sabbatical Leave, tôi ghi rõ, trong thời gian nghỉ phép đó, tôi sẽ thực hiện 2 dự án nghiên cứu: [5]

• Dự án thứ nhứt: làm một cuộc nghiên cứu về vấn đề “Kiểm Tra Phẩm Chất trong Công Tác Biên Mục Tại Ngoại tại Các Thư Viện Đại Học Của Bắc Mỹ.” 

• Dự án thứ nhì: thực hiện cho Thư Viện Đại Học Saskatchewan một “Cơ Sở Dữ Liệu Trực Tuyến Trên Web Các Tài Liệu Đã Giải Mật Trong Khoảng Thời Gian 1975-2000 Của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ Về Chiến Tranh Việt Nam.”

Ngày 28-10-2002, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến Sĩ Mark Evered, Phụ Tá Viện Trưởng về Kế Hoạch, Học Vụ và Nghiên Cứu (Vice-Provost), Chủ Tịch Ủy Ban Sabbatical Leave, thông báo cho biết Ủy Ban đã chấp thuận cho phép tôi được nghỉ phép Sabbatical Leave trọn một năm, từ 1-7-2003 cho đến ngày 30-6-2004:

Trước khi rời Trường đi nghỉ phép Sabbatical Leave tôi đã có một buổi họp với ông Frank Winter để trình bày về kế hoạch công tác của tôi sau khi trở lại Trường.  Thời gian này, các thư viện đại học tại Bắc Mỹ đều bị ảnh hưởng của khuynh hướng càng ngày càng mạnh của việc thực hiện các công tác thư viện tại ngoại (outsourcing library operations).  Lý do chính của khuynh hướng khó cưỡng lại này là hoàn toàn thuộc về kinh tế: nó sẽ giúp thư viện tiết kiệm được rất nhiều tiền.  Trong công tác chuyên môn của tôi, tức là ngành Biên Mục, thì như sau: theo một cuộc điều tra của chính tôi với tư cách là Trưởng Ban Biên Mục, theo chỉ thị của LMC, kết quả cho thấy các con số như sau:

• Thời gian từ khi Ban Biên Mục nhận được một tài liệu từ Ban Thủ Đắc chuyển qua cho đến khi tài liệu đó được làm xong hoàn toàn và đưa lên kệ sẵn sàng cho độc giả truy dụng là từ 4 tới 6 tuần lễ (trừ các tài liệu nào đã được ghi là RUSH = CẤP TỐC)

• Chi phí trung bình cho 1 tài liệu như thế là khoảng 22 đô la   

Trong khi đó, các công ty chuyên về dịch vụ tại ngoại này, trong hợp đồng của họ, đều ghi rõ như sau:

• Thời gian (turn around time): dưới 2 tuần

• Chi phí: chỉ khoảng 5 hay 6 đô la cho 1 tài liệu  

Thư Viện Đại Học Saskatchewan cũng không thể nào làm ngơ trước khả năng có thể tiết kiệm được số tiền lớn như vậy trong chi phí của Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật (Technical Services Division, mà tôi vừa được cử nhiệm trông coi) để chuyển qua cho Khối Dịch Vụ Độc Giả (Users’ Services Division), đặc biệt là các công tác liên quan đến công cụ thông tin hoàn toàn mới mẻ và có nhiều tiềm lực phục vụ rất lớn cho giáo sư và sinh viên của Trường là Internet.

Vì vậy, trong cuộc họp đó, tôi nhấn mạnh về tầm quan trọng của dự án nghiên cứu thứ nhứt kể trên trong thời gian nghỉ Sabbatical Leave của tôi.  Tôi nói rõ lý do của dự án nghiên cứu là như sau: chuyện tiết kiệm được về tài chánh và nhân lực cho thư viện trong công tác tại ngoại là một sự thật đã được chứng minh rất rõ ràng, không thể chối cãi được, chỉ có một điều chúng ta cần quan tâm là các tài liệu được làm theo lối tại ngoại như thế có đáp ứng được tiêu chuẩn về phẩm chất (quality) hay không, vì thế, thư viện cần phải có kế hoạch để kiểm phẩm (quality control) các tài liệu đó.  Do đó tôi đã quyết định là, với dự án nghiên cứu thứ nhứt, tôi sẽ nghiên cứu các vấn đề về kiểm phẩm các tài liệu đã được làm biên mục theo lối tại ngoại tại các thư viện đại học của Bắc Mỹ (nghĩa là của Hoa Kỳ và Canada).  Tôi cũng đề nghị, trước khi rời Trường đi nghỉ Sabbatical Leave, tôi sẽ tìm hiểu và đệ trình lên LMC một kế hoạch cho việc thực hiện công tác biên mục tại ngoại cho Thư Viện, và sau khi nghỉ Sabbatical Leave trở về Trường, tôi sẽ thôi không đảm nhận các chức vụ chỉ huy nữa, và sẽ dành 2 năm cuối cùng, trước khi nghỉ hưu, để làm công tác kiểm phẩm các tài liệu đã được làm biên mục tại ngoại.  Ông Frank Winter đồng ý hoàn toàn với các đề nghị của tôi.    

Ngay tuần lễ sau, tôi đi Winnipeg, thủ đô của tỉnh bang Manitoba để tìm hiểu về vấn đề biên mục tại ngoại:

“Tôi đã đến viếng thăm Công ty OCLC Canada LTS (LTS = Library Technical Services).  Tại đây tôi được biết Công ty có một đội ngũ nhân viên còn lớn hơn cả Ban Biên Mục của Thư Viện Đại Học Saskatchewan, với tổng số trên 20 QTTV Biên Mục Viên chuyên nghiệp, và trên 30 nhân viên bán chuyên nghiệp.  Công ty OCLC Canada LTS cũng cho biết thêm 2 điều: 1) Họ chỉ tính giá có 5 đô la cho một tài liệu; và 2) Họ lại bảo đảm thời gian cho tất cả các khâu công tác là 2 tuần lễ mà thôi.  Tôi cũng dành thời gian đến viếng thăm Thư Viện của Viện Đại Học Manitoba, và được cho biết là Thư Viện rất hài lòng với công tác biên mục tại ngoại do Công Ty OCLC Canada LTS cung cấp cho họ.” [6]

Sau khi từ trở về Trường, tôi báo cáo kết quả của chuyến đi Winnipeg, và chính thức đề nghị LMC cho thực hiện công tác biên mục tại ngoại với Công ty OCLC Canada LTS.  LMC chấp thuận đề nghị này và chỉ thị cho tôi thực hiện các điều cần thiết cho công tác tại ngoại đó.  Tôi đã đích thân thiết lập Bảng Liệt Kê Các Yêu Cầu Của Thư Viện để Công Ty OCLC Canada LTS theo đó thực hiện các ký lục thư tịch (bibliographic records) cho OPAC của Thư Viện Đại Học Saskatchewan, cũng như thực hiện các công tác trị thư (technical book processing) cần thiết cho từng cuốn sách (dán nhãn với số call number, barcode và giây security) và, sau khi mọi việc chuẩn bị xong cho công tác biên mục tại ngọại với OCLC Canada LTS, tôi rời Trường đi nghỉ Sabbatical Leave trọn một năm, từ ngày 1-7-2003 cho đến hết ngày 30-6-2004.

Trong thời gian nghỉ phép Sabbatical Leave này, tôi đã hoàn tất 2 dự án nghiên cứu đã ghi trong đơn xin nghỉ phép Sabbatical Leave và kết quả nghiên cứu đã được trình bày như sau:

• Hai bài viết cho tạp chí chuyên ngành:

  ° Vinh-The Lam, “Quality Control Issues in Outsourcing Cataloging in US and Canadian Academic Libraries,” Cataloging & Classification Quarterly, v. 40, no. 1 (2005), tr. 101-122.

  ° Vinh-The Lam và Darryl Friesen, “A Web-based Database of CIA Declassified Documents on the Vietnam War,” Online, v. 28, no. 4 (2004), tr. 31-35. (Ghi chú: Darryl Friesen là Programmer Analyst của Khối Công Nghệ Thông Tin của Thư Viện phụ trách việc đưa cơ sở dữ liệu này lên OPAC của Thư Viện)

• Một bài thuyết trình về cơ sở dữ liệu nói trên “A Web-based Database of CIA Declassified Documents on the Vietnam War,” trong hội nghị mang tên là 5th Triennial Symposium on the Vietnam War tại Vietnam Center, Texas Tech University, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ, vào ngày 19-03-2005.

Những Đóng Góp Cuối Cùng Cho Thư Viện Đại Học Saskatchewan

Ngày 1-7-2004, tôi trở về Trường, và, theo đúng sự thỏa thuận với ông Frank Winter trong buổi họp trước khi đi nghỉ Sabbatical Leave, tôi không còn đảm nhận 2 chức vụ Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật kiêm Trưởng Ban Biên Mục nữa, và đảm nhận một chức vụ mới do ông Frank Winter chỉ định là Senior Original Cataloguer với 2 nhiệm vụ: 1) Kiểm phẩm các tài liệu do Công ty OCLC Canada LTS đã làm biên mục tại ngoại; và, 2) Làm công tác Biên Mục Gốc hay Biên Mục Nguyên Thủy (Original Cataloguing) cho các tài liệu đặc biệt mà OCLC Canada LTS không tìm được ký lục thư tịch gốc.

Sau khi làm công tác kiểm phẩm các tài liệu đã làm biên mục tại ngoại được 6 tháng (chỉ kiểm tra 5% số tài liệu này thôi), tôi làm báo cáo trình lên cho ông Frank Winter và đề nghị chấm dứt công tác kiểm phẩm này vì Công ty OCLC Canada LTS đã làm thật tốt công việc của họ và, vì vậy, công tác kiểm phẩm không còn cần thiết nữa.  Sau đó, tôi đã viết một bài báo đăng trong một tạp chí chuyên môn của ngành thư viện:

• Vinh-The Lam, “Error Rates in Monograph Copy Cataloging Bibliographic Records Before and After Outsourcing at the University of Saskatchewan Library,” Cataloging & Classification Quarterly, v. 44, no. ¾ (2007), tr. 213-220.

Tôi cũng làm công tác Biên Mục Nguyên Thủy cho các tài liệu đặc biệt trong sưu tập của Thư Viện Đại Học Saskatchewan, ví dụ như: các sách cổ quý và hiếm từ các thế kỷ 19 trở về trước; các tài liệu xưa về tỉnh bang Saskatchewan, về Đại Học Saskatchewan, về thành phố Saskatoon; các sách cũ mà các vị Giáo sư của Trường đã về hưu trao tặng; các tài liệu mà Đại Học Saskatchewan nhận được từ những cuộc trao đổi tài liệu với các đại học khác trong nước và ngoại quốc.  Và tôi đã tiếp tục làm công tác Biên Mục Nguyên Thủy đầy thử thách và thích thú này cho đến ngày tôi nghỉ hưu vào ngày 30-6-2006.  Ba tháng sau ngày nghỉ hưu, ngày 21-09-2006, tôi vô cùng ngạc nhiên nhưng cũng rất vui mừng và hãnh diện nhận được văn thư chính thức của Tiến Sĩ Jim Germida, Vice-Provost của Đại Học Saskatchewan, thông báo là tôi đã được Hội Đồng Quản Trị (Board of Governors) của Đại Học ban cho Danh hiệu Librarian Emeritus[7]:

THAY LỜI KẾT 

Thời gian làm việc cho Thư Viện của Đại Học Saskatchewan cho đến ngày tôi về hưu chưa được tròn 9 năm: từ 1-9-1997 cho đến 30-6-2006 nhưng là một giai đoạn thật quan trọng trong sự nghiệp thư viện của tôi.  Tôi đã nắm một số chức vụ chỉ huy trong hệ thống quản trị của Đại Học, và đã có những đóng góp rất quan trọng trong việc phát triển của Thư Viện. Tôi cũng đã hoàn thành được một số công trình nghiên cứu trong ngành chuyên môn thư viện, và những kết quả của các nghiên cứu này cũng đã được công bố trong các tạp chí chuyên môn về thư viện học.  Nhờ quy chế đặc biệt của Đại Học Saskatchewan, sắp xếp QTTV chung với các GS vào cùng một Công Đoàn, tôi đã được hưởng những quyền lợi mà phần lớn các đồng nghiệp QTTV tại các đại học khác không có được, trong đó quan trọng nhứt là cái quyền được nghỉ phép dài hạn Sabbatical Leave có hưởng lương để đi làm nghiên cứu.  Và, sau cùng, khi nghỉ hưu, tôi đã được Đại Học Saskatchewan ban cho Danh hiệu cao quý Librarian Emeritus.

GHI CHÚ:

1. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc ViệtSan Jose, Calif.: Nhân Ảnh, 2021, tr. 133.              

2. University of Saskatchewan, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: University of Saskatchewan – Wikipedia

3. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt, sđd, tr. 129. Bài báo đó là: “Outsourcing Authority Control: Experience of the University of Saskatchewan Libraries,” Cataloguing & Classification Quarterly, v. 32, no. 4, tr. 53-69.

4. Vinh-The Lam.  Full circle: memoir of a Vietnamese-Canadian librarian.  London, UK: Austin Macauley, 2024, tr. 121.

5. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt, sđd, tr. 141.

6. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt, sđd, tr. 140.

7. Award of the Honour “Professor/Librarian Emeritus/Emerita,tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Award of the Honour “Professor/Librarian Emeritus/Emerita” – Vice-Provost, Faculty Relations | University of Saskatchewan (usask.ca)