Đưa Mẹ!

đoàn xuân thu

Lau le minh en 02Đêm quê người, tháo ách, nghỉ cày, rót đầy ly rượu, uống một mình, lang thang trên mạng cùng La Quốc Tiến “Đưa mẹ”… tới lò thiêu. Đọc thơ Tiến tôi nhớ như in lời thầy tụng trong đám tang má tôi

“Khi nào mẹ mẹ con con.

Hôm qua còn đó bữa nay mất rồi”.

“Bước qua chiếc cầu tre lắt lẻo,

con mới hay tin mẹ đã qua đời.”

Cái cảm xúc khi nghe tin mẹ mất là choáng váng, như có ai nỡ đang tâm đánh một cái chí tử vào đầu. Ngừng suy nghĩ. Não không còn làm việc được nữa. Tê liệt, hoàn toàn tê liệt. Thiệt vậy không? Rán không tin. Không! Dẫu là là sự thật.

Dua me 01Trong cái mờ mờ ảo ảo lưng chừng rượu, ngà ngà say, tôi thấy La Quốc Tiến, tôi thấy tôi: đầu một dải khăn sô, áo tang trắng, cẳng không, tay cầm gậy trúc hoang mang. Lò thiêu ánh lửa củi bạch đàn, Melbourne lò ga, bừng lên, trùm thân mẹ. Lửa tàn rồi, một ngày, đốt củi, lò nguội xuống. Melbourne lò đốt bằng ga, nóng hơn, ba ngày mới nguội. Thân mẹ yêu giờ là nhúm tro tàn. Và hàng hàng nước mắt. Cát bụi về cát bụi. Sắc sắc không không. Biết vậy!

Nhưng cỏ chát vô hồn, khi chuyển mùa tử biệt, vàng úa heo may thu, vẫn còn biết đớn đau. Biển giao mùa, thôi sóng, biển đồng chung, biển chết. Thì thử hỏi lòng con sao không đau xót?!

Dẫu luân hồi, dẫu kiếp sau, con vẫn muốn nắm níu hình ảnh mẹ khăn san phất phập phồng thăm con ngày con vào lính, thăm con ngày con đi tù cải tạo…

Mẹ khăn san đó, bây giờ, qua sương sương nước mắt của khói nâu buồn.

“Hai đường ray cỗ xe goòng

Quến người hớp đóa lửa hồng về tro

Hóa thân qua ải cửa lò

Sắc – không cậy nhát củi khô bạch đàn

Con lần gậy trúc hoang mang

Mai lên nhúm MẸ tro tàn kẽ tay…

Cỏ chát còn luống heo may

Lòng con quặn biển xót ngày đồng chung

Luân hồi bon cỗ xe rung

MẸ khăn san phất phập phồng khói nâu.”

(Đưa Mẹ – La Quốc Tiến.)

Năm 85, thất nghiệp, đói quá, tôi trở lại Mỹ Tho sau mười lăm năm đi bụi. Tôi gặp La Quốc Tiến.

Dua me 02Mười giờ sáng ra quán cà phê Mười Thượng, ở góc đường Lý Thường Kiệt và Trần Hưng Đạo, ngang trường xưa là Bán Công Trương Công Định gọi một cái đen, vài điếu Đà Lạt, thuốc đen không cán, ngồi xem ông đi qua, bà đi lại. Nhìn chán, hai thằng chụm đầu vào bàn cờ tướng: một cách giết thời gian, giết đời mình hay nhứt… tới chiều tối rồi lết về nhà.

Mỹ Tho nắng sớm mưa chiều nhưng cũng có khi sớm không nắng mà mưa, chiều cũng mưa luôn, trời buồn… buồn như tiếng ễnh ương kêu. Tôi và Tiến ngồi trước bàn cờ tướng mà ngẫm sự đời. Thú thiệt tôi ước được ra biển tự vận, còn hơn sống mà không ra sống… kiểu này. Nhưng tự vận thì ít nhứt cũng phải có tiền mua thuốc chuột. Muốn vượt biên ít nhứt cũng có vài cây vàng đóng cho chủ tàu. Cơm còn hỏng có mà ăn… mà cứ ngồi đây… mơ ngày mai trời lại sáng. Hết nay rồi lại mai… trời vẫn cứ tối thui.

Tiến đỡ hơn tôi nhiều. Không phải cù bơ cù bất. Có nhà ở Cầu Bắc, mặt tiền, có vợ. Vợ giỏi. Vợ Tiến là cô giáo sau nghỉ dạy, đi bỏ bánh kẹo từ Mỹ Tho lên miệt Cai Lậy. Sáng Tiến chở vợ ra bến xe cổng thị xã bằng chiếc Honda dame cũ mèm. Xong, trở về, ghé quán Ba Thượng chơi với tôi. Ba giờ chiều, chạy u về nhà nấu cơm, rồi ra bến xe rước vợ. Hai vợ chồng cơm chung, hủ hỉ. Còn tôi, tôi một mình. Sống thơ hơn Tiến. Và nhậu cũng nhiều hơn. Đời buồn quá hỏng nhậu tôi làm gì bây giờ?

Dù gốc Tàu, Phúc Kiến, ba có tiệm thuốc Bắc ở chợ Đức Huệ, Long An nhưng Tiến lại chơi cờ tướng dở. Tôi thì hỏng cao cờ gì; chẳng qua là ở không, đọc sách cờ, khai cuộc, tàn cuộc, còn trung cuộc thì mạnh ai nấy đi. Tôi chỉ Tiến vài cách khai cuộc. Công hay thủ: công thì pháo đầu mã đội, thủ thì bình phong mã.

Mấy ngày bão rớt, ngồi kiểu nước lụt, chơi cờ tướng dưới tàn cây mận, quán cà phê Mười Thượng, tôi triết lý vụn với Tiến: “Đời tao với mầy như những con chốt thí trong khai cuộc tiên nhân chỉ lộ. Chốt chỉ biết qua sông như tên mầy: Tiến, tiến hoài, cấm quay lui, chết thôi. Còn tướng nằm trong cung có sĩ, có tượng che chở. Thua thì chạy trước như tướng Thiệu, Tướng Kỳ.” Tiến gật gù “Đúng vậy!”

Dua me 03Từ bàn cờ tướng rồi thân nhau, từ ông ông tôi tôi rồi tới mầy mầy tao tao, sau khi biết hai thằng đều cùng khóa 4/72 Thủ Đức, tổng động viên mùa hè đỏ lửa. Lúc đó Tiến đang học dở dang ban Việt Hán Văn Khoa Sài Gòn. Ra trường, Tiến về Thiết Giáp có đóng ở Bàu Cá, Long Thành và quen biết Thu, người em năm cũ. Thêm được đề tài để hai đứa…đía.

Kỷ niệm những ngày lính tráng tràn về. Có khi Tiến bỏ tiền ra mua một xị rượu đế, hai thằng nhậu sương sương với xoài sống, chấm nước mắm đường, nhắc chuyện ngày xưa, kể cả chuyện Tiến bị đày ải hơn hai năm tù cải tạo ở Vườn Đào. Cũng vì tù chưa tới ba năm, nên xui quá, Tiến không đi HO được.

Lúc đó tôi không biết Tiến làm thơ hay như vậy, Tiến tài hoa như vậy. Tiến ít nói, ít khoe. Duy chỉ một lần Tiến nói “Tao vừa đoạt giải thơ của tuần báo Văn Nghệ Hà Nội. Bữa nào tao đưa mầy coi.”

Lời hứa đó mãi mãi là lời hứa.

Tôi đi, cuối trời phiêu bạt phận cu li. Tôi không còn gặp Tiến nữa. Mãi mãi.

Sau này tình cờ lên mạng đọc được thơ Tiến thì Tiến đã mất rồi.

Hồi xưa Tiến ít nhậu, đôi khi cao hứng, chiều rủ tôi lên nhà Tiến uống rượu. Tôi cười, nói “Mầy uống rượu như thằn lằn uống nước cúng. Rủ tao lên nhà, không tốn tiền rượu, chỉ tốn tiền dầu”.

Xa Mỹ Tho rồi, tôi không biết Tiến có nhậu nhiều hôn mà bịnh ung thư gan. Căn bệnh quái ác đó đã mang Tiến đi… đi luôn. Ngày cuối chắc Tiến đau lắm, khi thuốc giảm đau không còn hiệu nghiệm nữa. Thơ Tiến đã đau lắm rồi thì ông Trời ơi sao ông nỡ lòng nào làm nó đau thêm? Năm lăm tuổi chết. Không trẻ, nhưng cũng chưa già.

Sinh thời, Tiến khóc Nguyễn Chi. Nguyễn Chi là ai? Tôi không biết. Có thể là bạn thơ của Tiến bị chết chìm, uổng tử trên dòng sông Bảo Định, dòng sông chảy vòng vo, bọc lấy thị xã Mỹ Tho rồi đổ ra sông Cái.

Riêng tôi, tôi lại nghĩ rằng Nguyễn Chi là ẩn dụ, là miền Nam yêu dấu của tôi đã chết trong chiều cả gió. Tôi chắc là Tiến không có ý như vậy nhưng tôi muốn đọc thơ Tiến theo ý của tôi để thấy thơ Tiến tài tuệ biết chừng nào.

Dua me 04“Có vài chiếc lá rụng nghịch mùa

Như mấy cánh cò ma trên mộ người uổng tử

Sông Bảo Định chiều nay cả gió

Hú ba hồn bảy vía Nguyễn Chi ơi!

Hú khan khan như nhấp rượu không mồi!”

(Hú khan khan – La Quốc Tiến)

Đêm nay, quê người, Melbourne, hai mươi năm xa Mỹ Tho, tháo cày, cởi ách.

Nhấp rượu không mồi, tôi không dám hú khan khan… vì sợ cảnh sát Úc… nhốt, tôi lặng lẽ khóc Tiến. Khóc một thời kiêu bạt của chính phận mình.!

Tạm biệt La quốc Tiến. Nói tạm biệt chứ không là vĩnh biệt vì ai cũng phải “hui nhị tì” hết. Cái khác là sớm hay muộn, trước hay sau. Vậy thôi! Vả lại tôi còn nhiều điều phải hỏi La Quốc Tiến. Thơ La Quốc Tiến, theo tôi nghĩ, là tiếng chim hót trong lồng, nên quá nhiều ẩn dụ, vì làm sao nó dám hó hé khi vẫn còn bị nhốt. Tôi còn phải gặp lại bạn hiền xưa để hỏi cho ra lẽ… mới được.

“Nên Tiến ơi! sắm sẵn bàn cờ, xị rượu đế. Để đó, chờ tao!”

đoàn xuân thu

melbourne.