Cuoi nam noi chuyen cau doi (Phan 2/2) BS Nguyen So Dong

孔 孟 綱 常 須 刻 骨
西 歐 科 學 要 銘 心

“Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Tây Âu khoa học yếu minh tâm”

11) Nguyễn Văn Lạc (Học Lạc) (1842-1915) đề hai câu thơ ở cửa một quán cơm.

Mạc vị quán trung vô phiếu mẫu

Chỉ hiềm lộ thương thiểu vương tôn”

ý nói quán nầy sẳn lòng làm như Bà Phiếu mẩu khi xưa đem cơm cho Hàn Tín, lúc Hàn Tín chưa làm nên sự nghiệp, nhưng e rằng khách bây giờ, ít ai tài giỏi như Hàn Tín để mà được nuôi cơm.

12) Một quan thị (eunuque) đọc vế đối chế nhạo một quan võ:

Vũ cậy mạnh, vũ ra vũ múa, vũ gặp mưa, vũ ướt cả lông”

Chữ Hán: Vũ có nghĩa mạnh,múa, mưa, lông

Quan võ đối lại:

“Thị vào chầu, thị đứng thị trông, thị cũng muốn, thị không có ấy”

Chữ Hán: Thị có nghĩa chầu, trông, muốn. Còn “ấy” là bị thiến rồi.

13) Ông Đoàn Hy vừa làm thợ rèn, vừa chăm chỉ học, đổ thủ khoa thi Hương trường Nam Định. Quan chủ khảo biết nghề nghiệp vị tân khoa, ra câu đối:

“Than bỏ vào lò, sắt bỏ vào lò, bể thổi phì phò, đúc ra miếng bạc”

Ông đối lại.

“Mực nằm trong túi, bút nằm trong túi, người viết lủi hủi, tên chiếm bảng vàng”

14) Đời vua Tự Đức: Pháp càng ngày càng tham, hết đòi quyền lợi này, đến muốn chiếm đất khác. Triều đình nhu nhược, thiếu người tài, vua than:

Võ tướng tiêu sầu duy hữu tửu

Văn thần thoái lổ cánh vô thi”

(Quan võ chỉ biết mượn rượu để quên sầu,

Quan văn làm thơ đuổi giặc, cũng không làm được)

15) Vua Duy Tân ra câu đối

“Bán mãi, cửa quan, sợ cụ

(bán: mãi, quan: cửa, cụ: sợ)

Ông Nguyễn Hữu Bài đối:

“Không vô trong nội nhớ hoài”

(vô:không, nội:trong, hoài:nhớ)

16) Thế chiến 14-18 chấm dứt, Pháp thắng Đức.

Triều đình Huế làm lễ mừng thọ ngũ tuần cho mẹ vua Khải Định, cùng lúc công sứ (chủ tỉnh) Ninh Bình ra lệnh mỗi xã góp ba chục (30) đồng để mua cờ Pháp (tam sắc). Đồng bạc lúc ấy lớn lắm. Tiệc hay cờ gì, dân cũng phải chịu.

“Tiệc thọ năm mươi mừng mẹ nước

Lá cờ ba chục chết cha dân”

17) Linh tinh

– Một “thầy đồ” dạy học:

Ngày ngày, mổ bụng con nhét chữ

Tháng tháng bổ đầu bố lầy tiền

Vợ cả, vợ hai, hai vợ cùng là vợ cả

Con nuôi, con đẻ, đẻ con há cậy con nuôi

Con ruồi đậu mâm xôi, mâm xôi đậu

Cái kiến bò đĩa thịt, đĩa thịt bò

Vũ vô kiềm toả năng lưu khách

Sắc bất ba đào dị nịch nhân

(ngày nay thì mưa đâu có cầm khách được vì xe vào tận garage khô queo, nhưng sắc vẫn nhận chìm bao đấng anh tài)

Tám giờ xe lửa huýt (huit)

Hai cẳng nằm ngay đơ (deux)

Thúy Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim, lòng đã trọng (Kiều=cầu, Kim Trọng)

Trọng Thuỷ dòm xuống nước, thoáng nhìn nàng Mỵ, mắt rơi châu (Thuỷ=nước, Mỵ Châu)

Hoa hổ, hoạ bì, nan hoạ cốt

(không có XR thấy xương đâu mà vẽ)

Tri nhân, tri diện, bất tri tâm

– Đất chẳng là chồng, đem gởi thịt xương sao lợi

Trời mà chết vợ, thử coi gan ruột mần răng

(một ông đồ Nghệ Tĩnh khóc vợ mới mất)

18) Câu đối Tết

Thịt mỡ,dưa hành câu đối đỏ

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

(hai câu này có tự ngàn xưa)

– Bà Hồ Xuân Hương

Tối ba mươi, khép cánh càng khôn, ních chặt lại, kẻo ma vương đưa quỷ tới

Sáng mồng một, lỏng then tạo hoá, mở toác ra cho thiếu nữ rước xuân vào

– Bà Huyện Thanh Quan

Duyên với văn chương nên dán chữ

Nợ gì trời đất phải trồng rêu”

– Ông Nguyễn Công Trứ

“Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thẳng bần ra cửa

Sáng mồng một, rượu say tuý huý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà

– Tú Xương

Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo

Nhân tình trắng thế lại bôi vôi

(tục lệ xưa, Tết đến người ta dùng vôi vẽ cung tên, sơn trắng cốt ý trừ ma quỷ)

19) Những câu đối chưa ai đối được, có lẽ chẳng bao giờ đối được.

Da trắng vỗ bì bạch (bì bạch là da trắng, cùng lúc là “âm thanh” nữa (onomatopée)

Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương phụ tử (hồi hương=về quê, phụ tử=cha con)

[cùng lúc “hồi hương” và “phụ tử” là hai vị thuốc đông y].

– Con gái Nghi xuân, đi chợ Hạ, mua cá thu về, chợ hãy còn đông.

Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa

– Sau 1954, nhóm Tự lực Văn Đoàn vào Saigon, xuất bản tạp chí Ngày nay, in bởi một nhà in mà TLVD vừa mới mua (nhà in nhà, khỏi phải đem đi mướn in)

Vế đối: Ngày nay ngày nay in nhà in nhà

Uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn, không say không dìa.

20) Những câu đối tôi thích nhứt (ý mỗi người mỗi khác)

a) Cuối đời nhà Lê, Ông Phùng Khắc Khoan, đi sứ sang Tàu, Tàu ra câu đối

Đồng trụ chí kim đài dỉ lục

(Cốt ý nhắc lại câu của Mã viện: đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt. Chiết là đổ, là sập xuống. Trụ đồng muốn bị ngã, phải bị oxyde hoá) Oxyde de Cuivre màu xanh. Chưa xanh lục, thì trụ đồng còn hoài, nghĩa là Giao chỉ vẫn bị Tàu đô hộ hoài.)

Ông P.K Khoan đối lại.

“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”

Xưa nay, nước sông Bạch Đằng đỏ vì máu của giặc Tàu: lần thứ nhứt, Ông Ngô Quyền diệt quân Nam Hán, lần thứ hai, Đức Trần Hưng Đạo đại thắng quân Nguyên

b) Da trắng vỗ bì bạch

c) “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học yếu minh tâm”

của cụ Ưng Thiều, đắp chữ lên trên cổng Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký (LPK) vang bóng một thời

18 Novembre 2013

BS Nguyễn Sơ Đông