Bài 52: THIÊN-LỰC, KHÔNG PHẢI NHƠN-LỰC

(Chuyện Đời Xưa – Lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích)

P.J.B. Trương Vĩnh Ký

ÔNG kia làm quan tước phẩm cũng đã cao. Mà bởi thông minh có chí học-hành, chớ chẳng phải là nhờ có ai đùm bọc nưng đỡ mà làm nên. Cho nên đề một tấm biển hai chữ Nhơn-lực treo giữa nhà. Mà người vợ bé cũng là tay hay chữ, ra vô thấy chữ Nhơn-lực, thì giận chịu không được.

Bữa ấy chồng cô ấy đi việc quan khỏi, ở nhà cô ấy bắc thang lên, thêm vào hai ngang, mà sửa ra chữ Thiên-lực. Chồng về ngó trực lên thấy Thiên-lực, thì hỏi trong nhà ai mà cãi chữ Thiên làm vậy. Thì người vợ bé ra chịu sửa. Ổng lại hỏi: Chớ sao mà nói Thiên-lực. Cô ấy thưa rằng: Người sinh ở thế, mạng hệ ở trời, mọi sự cũng nhờ mạng trời dạy, trời khiến mới nên. Có ai mà bởi sức riêng mà làm nên được đâu?

Ông ấy mới nói: Có ở đâu? Tao đây cực khổ từ bé đến lớn, lo học-hành hết hơi hết sức, mới ra làm vậy, nào có thấy sức trời giúp chi mô? Ờ, mầy nói làm vậy thì thôi, để coi thử mầy cậy sức trời có xong gì không cho biết.

Ổng đuổi cô ấy đi, lấy áo quần với đồ nữ-trang lại hết. Để cho cái áo cái quần rách xài xể bận mà đi. Vậy cô ấy ra thắp đèn nhang khói, mà vái với trời, xin: hễ chính ngọ tôi ra đàng mà gặp một người đàn ông nào, thì ấy là chồng tôi, được mà gởi tấm thân mà nhờ.

Khấn vái xong xả, ra đi. Đi tới cái cầu vừa trưa đứng bóng, gặp một người đang câu cá, bộ quê mùa dốt nát, rách rưới túm trước túm sau, mới lại mới hỏi: Chú kia, chú ở đâu mà đi câu đó ; nhà chú ở đâu? Người câu cá mới xớ rớ thưa: Tôi nghèo khổ, ngày đi câu cá, tối về ngủ trong hang đá, có che ba cái lá khô kia kìa.

Vậy cô ta xách gói vào hang ở đó, nấu cơm nấu nước dọn dẹp tử-tế, có mâm trên mâm dưới bĩ bàng. Anh kia tới buổi cuốn câu vác về nghỉ. Bước vào hang thấy mâm cao cỗ đầy, thì lấy làm lạ lắm. Cô kia mới mời chú chàng ngồi lên trên, còn cô ấy ngồi dưới.

Ăn rồi cô ấy mới nói sự tình trước sau ; lại bày lời mình khấn vái xin gặp ai đang chính ngọ, thì lấy người ấy làm chồng. Vậy bây giờ thiếp đã thề-nguyền làm vậy, xin chàng cho thiếp theo mà làm vợ. Người kia nói rằng: Phận tôi khác, phận cô khác. Cô là người duông [1] nhan tài-sắc, tôi là đứa bá-vơ khốn-nạn, làm làm vậy sao xứng. Cô kia rằng: Chẳng hề gì đều ấy mà lo, việc trời đã định vậy, thì hay vậy.

Chồng cứ lệ cũ, thường bữa vác cần câu đi câu cá. Vợ ở nhà dọn dẹp ; sắm áo sắm quần cho chồng mặc ; đêm lại vợ khuyên chồng thôi đi câu đi. Đem tiền bạc ra, biểu đi chơi bời, tới đám tới đình cho quen, cho biết việc đời, lịch thiên-hạ sự với người ta.

Anh ta đã dốt lại khờ, chìu theo ý vợ, cột tiền đi ra chợ búa, quán xá, chơi. Ngửa nón ra, mua bún, mắm nêm, đứng mời ai nấy, không ai ăn. Giận mình có của, mời người ta không ai thèm ăn ; mà vợ căn dặn biểu đi làm quen làm lớn với người ta. Vậy mới mua thêm đồ, vào chùa gần đó nghỉ, thấy tượng phật nhiều, thì lại mời ăn. Tượng ngồi trơ trơ mặt địa, không ừ hử nói đi nói lại gì hết. Nổi nóng mới lật ngửa các tượng ấy xuống ; lấy bún mắm nêm đút trây cả miệng cả mồm: Khinh người ta chi lắm vậy? Ở sao bất lịch-sự quá!

Xong rồi bỏ phật nằm ngửa nằm nghiêng đó, xách nón về. Mà phật linh. Người ta vô chùa cúng, thấy tượng ngã chinh chòng thì lo thưa với làng với xã. Thiên-hạ tới coi đông nức, mà dựng dậy không được. Phật hờn trì xuống không chịu dậy, lại cho ôn-dịch chết dân trong làng nhiều lắm.

Làng báo với quan địa-hạt ; quan lại báo bộ. Vậy vua giáng chỉ: Hễ ai dựng tượng lên được, thì cho chức quan lớn. Người vợ thấy yết-thị dán, về học lại với người chồng. Chồng nói: Tưởng là chi, cái đều dựng phật, thì tao làm dư đi chớ ; tao lật xuống đó. Hôm trước tao mua bún thịt bánh trái đem vào đó ăn ; thấy các ổng tử-tế mời họ ăn, họ làm lẽ, tao giận, tao vật họ xuống, tao nhét đồ ăn và đổ rượu cho họ đó. Vợ hỏi: Có chắc làm vậy hay không? Lão chồng: Sao lại không chắc? Hổm tao vật họ xuống đó tao đi ; bữa sau tao vào nữa, thấy còn nằm, tao dựng dậy tao lại mời nữa. Họ cũng cứ miếng cũ làm đời làm lẽ, tao giận tao lại vật họ xuống lại.

Vợ mới biểu chồng ra đình, đánh mõ lên cho làng xóm tựu lại, cho có đông người ta coi ; rồi chịu ra mà dựng tượng lên. Vậy nó dựng dậy được. Thiên-hạ mừng rỡ khen ngợi.

Ít bữa tờ tư về tỉnh, tỉnh cụ sớ về bộ, bộ làm sách tấu. Vua ban phong quờn [2] cao lộc cả, lại triệu về dẫn kiến. Thình lình đâu quân-gia xe ngựa tới hang người ở, lều tranh chiếu rách ; thấy hai vợ chồng nghèo cui-cút, một ngày tới tối những đi câu cá mà ăn. Bây giờ vinh-vang võng-dá dù lộng tử-tế.Tới Kinh vào chầu cả hai vợ chồng. Khi ấy người chồng cũ ấy cũng chầu đó. Liếc ngó thấy vợ bé mình, khi xưa bởi cãi chữ Nhơn-lực, mà đặt Thiên-lực, mà mình đuổi đi ; bây giờ nhờ thiên-lực, mà nên cơ-hội nầy, thì mới biết mình đặt chữ quấy.


[1] dung nhan
[2] quyền