Chuyện bên lề quyển “TẦM-NGUYÊN TỰ ĐIỂN VIỆT-NAM” của cố Giáo-sư LÊ-NGỌC-TRỤ
Trần Thượng Thủ
(Nguồn: Dòng Việt số 3 (năm 1996), http://www.namkyluctinh.com/eBooks/Tap%20Chi/Dong%20Viet/Dong%20Viet%20so%203.pdf)
Chúng tôi xin kể vài sự việc có liên hệ đến quyển “Tầm-Nguyên Tự-Điển Việt-Nam” của cố Giáo-sư LÊ-NGỌC-TRỤ, được một số độc-giả cho là “một loài hoa lạ mới xuất hiện trong vườn Văn-học Việt-Nam trong thập niên chót của thế-kỷ XX”.
Vấn đề soạn quyển “Tâm-Nguyên Tự-Điển Việt-Nam” được chánh-thức đặt ra cho ông Lê-Ngọc-Trụ vào lúc nào?
Vụ máy bay Mỹ lần đầu tiên đến ném bom xuống Sài Gòn (ở khu Xóm Chiếu bên Khánh-Hội) vào khoảng 10 giờ đêm ngày thứ sáu 05-5-1944, khiến Ban Giám hiệu Trường Trung-Học Petrus Trương Vĩnh Ký (Hiệu-trưởng Lejeannic, Giám-học Taillade, Tổng-giám-thị Lacombes) ra lịnh tạm đóng cửa trường cho đến khi có lịnh mới. Là học-sinh nội trú của trường, bấy giờ đang “ở đậu” tại trường Sư-phạm (Ecole normale d’instituteurs, dân chúng quen gọi là Trường Nọt-manh) bên cạnh Sở Thú, số 7 đường Docteur Angier (sau đổi tên là Nguyễn Bỉnh Khiêm), chúng tôi tạm vào ở nhà ông bà ngoại ở Cây Gõ với hy-vọng là trường sẽ hoạt động lại vì chưa thi đệ nhị lục-cá-nguyệt.
Ngày chủ nhựt 14-5-1944, chúng tôi đến nhà Cậu tôi (ông Trụ thứ chín còn mẹ chúng tôi thứ tư, gọi theo thứ tự trong Nam) ở số 26 Quai de Ceinture (sau là Dương Công Trừng, rồi Nguyễn Thị Nhỏ), nằm khoảng giữa đồn Cây Mai và Chợ Lớn mới (còn gọi là chợ Bình Tây hoặc chợ Quách Đàm), trước là phụ mợ tôi tiếp khách sau là biết mặt vài bạn thân của Cậu chúng tôi trong ban trị sự Hội Khuyến học Nam-Kỳ.
Sau khi bưng nước trà, bánh ngọt … đãi khách, chúng tôi được phép ngồi ở góc divan đặt bên cạnh để sai vặt và nghe lóm cuộc mạn-đàm giữa những vị chúng tôi đã biết tên tuổi qua tập kỷ yếu của Hội Khuyến học năm 1943. Họ bàn chuyện thời sự nóng bỏng như cảnh dân Sài Gòn hốt hoảng ra ngoại-ô ngay sáng hôm sau, xe điện Sài Gòn Gò Vấp với hành-khách đen nghẹt và đứng cả ở bàn đạp lên xuống toa, cảnh một bà cụ đang chấp tay vái với bó nhang cháy đỏ … rồi chết banh xác … Rồi cũng dẫn đến chuyện văn chương là đề tài cố hữu.
Ông Chim-Hải Yến đặc-biệt với chiếc quần sọt (short) và áo bốn túi ngắn tay có cầu vai, tướng vạm vỡ, lời nói rổn rảng như một tay xì-bo (sportif), đề cập đến mấy tập sách mỏng của ông Lê Văn Hoè Giám-đốc Quốc-học Thư xã, thuộc bộ Bách khoa tùng-thư, xuất bản tại Hà-Nội, mỗi tập khai-triển một mục-từ. Ông Yến chủ-trương Việt-Nam nên có càng sớm càng tốt một cuốn từ điển bách khoa (dictionnaire encyclopédique) theo kiểu cuốn Le Petit Larousse illustré mà sau mỗi từ (article) có ghi ngữ nguyên (étymologie) của nó. Chuyện Bách-khoa toàn-thư (Encyclopédie) là chuyện quá lớn-lao, một người không có sức để soạn thảo may ra một Hội như Hội Khai Trí Tiến Đức (A. F. I. M. A., viết vắt chữ đầu của Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites) ở ngoài Bắc, mà quyển “Việt-Nam Từ Điển của Hội là một bằng chứng, mới có khả năng thực hiện. Còn Hội Đức Trí Thể Dục (S. A. M. I. P. I. C. do cụm từ Société pour l’Amélioration Morale, Intellectuelle et Physique des Indigènes de la Cochinchine) chưa có một công-trình loại nầy để ta đặt kỳ vọng.
Ông Đoàn-Quan-Tấn tiếp lời, với lối nói cực kỳ chẫm-rãi cố-hữu của mình. Ông thấy quyển Dictionnaire analogique, Dictionnaire étymologique loại thông dụng của Pháp thì một hoặc vài người chung soạn cũng được. Chúng ta đừng cầu toàn: người đi đâu thì gặp vô vàn khó khăn, phải tự mở đường mà đi. Cái quan trọng là phải có người quyết tâm trọn đời nghiên cứu vì sự huy-hoàng của tiếng mẹ đẻ. Ông cho biết cùng một ý mà người Pháp đã đặt ra hai từ căn cứ vào hai ngữ-nguyên khác nhau. Chẳng hạn: từ piscivore do hai ngữ-căn La-tinh là pisces, is (danh-từ): cá và vorare (động từ): ăn, còn từ ichtyophage do hai ngữ-căn Hy-lạp là ikhthus (danh-từ): cá và phagein (động từ): ăn, cả hai từ nầy dùng chỉ tánh ăn cá là chủ yếu. Tánh ăn thịt người, được người Pháp diễn-tả cũng bằng hai từ khác nhau, do hai ngữ-căn khác nhau: từ anthropophage do ngữ-căn Hy-lạp là anthropos (danh-từ): người và phagein, còn từ cannibale gốc ở từ Tây-Ban-Nha là canibal, mà từ này phát xuất ở từ Caribe của thổ dân vùng Caraïbe. Ông khuyên đừng thoáng thấy na-ná mà đề quyết sai thì tội-nghiệp cho người học ít; thí dụ: từ piscine của Pháp dùng chỉ hồ bơi, “hồ tắm” (từ của dân Sài Gòn quen dùng trước 1945) nào phải do từ La-tinh piscis, mà chính do từ La-tinh piscina: nơi trữ nhốt cá sống đánh bắt được. Đúng là một ông cử nhân văn-chương Pháp chánh-quốc!
Kế đó là ông Nguyễn-Xuân-Quang phát biểu. Trong tập kỷ yếu của Hội Khuyến học năm 1943, ông đã nêu lên quan niệm viết dính lại những cụm từ hoặc âm-tiết nói lên một ý niệm (concept), nhân quyển “Danh-Từ Khoa-Học” của giáo-sư thạc sĩ toán Hoàng-Xuân-Hãn xuất-bản tại Hà-Nội năm 1942, nhứt là những thuật ngữ khoa học. Việc viết dính — tức là bỏ đi các gạch-nối — được Khoa-trưởng Đại-học Sài Gòn là giáo-sư tiến sĩ hoá-học Lê-Văn-Thới áp dụng trong bộ sách danh-từ khoa-học xuất bản tại Sài Gòn từ đầu thập niên 60.
Bàn tới bàn lui nhiều mặt ở tiếng Việt. Sau cùng ông Trụ tổng-kết đồng thời nói lên ý kiến của mình về ngữ nguyên (quen gọi bằng từ nôm là nguồn gốc) tiếng Việt. Theo chỗ ông biết qua sách-báo thì tiếng Việt hiện nay gồm có 4 bộ phận:
a/. Tiếng Nôm (nay gọi là tiếng thuần Việt) gồm những từ không thể viết ra bằng chữ Hán (cũng gọi là chữ Nho, chữ Hoa, chữ Tàu), như những từ: chết, đêm, lúa, tóc, …;
b/. Tiếng Hán-Việt là thứ tiếng dân ta dùng để đọc chữ Hán theo giọng Việt, còn được giải nghĩa bằng tiếng nôm theo kiểu “tam thiên tự” như: thiên = trời, địa = đất, cử = cất, tồn = còn, …;
c/. Tiếng nước ngoài được du nhập bằng cách nhái những từ ngoại ngữ gần giống hoặc trại đi và có thêm hoặc bớt âm tiết đồng thời còn thêm giọng bổng trầm cho có âm hưởng tiếng Việt, như: dâu-cha-quảy, xí lắt léo, xà bông, lập lòn, ná (nỏ), vàm (sông), lục xì, nốc ao, …;
d/. Tiếng Việt tương đồng với tiếng mấy dân tộc khác đã có tiếp-xúc với dân ta trong lịch sử (người Chàm, Mường, Lào, Rhadé, …); loại nầy thường bị tưởng lầm là tiếng nôm, như: ăn, cá, mèo, rùa, túp (lều), …
Sau cùng, ông Yến đề nghị và được hai bạn khác chấp thuận ngay: ông Trụ nên bắt đầu công-trình dài hơi là biên soạn một quyển tầm-nguyên theo đường lối ông vừa trình bày. Ông Trụ đành hứa, với cố gắng của riêng mình và nhứt là với sự trợ giúp hết lòng của bè-bạn, là công-trình nầy chỉ được hoàn thành sau nhiều năm.
Ông Trụ biên soạn quyền “Việt-Nam Ngữ-Nguyên Tự-Vị” ra sao, và hoàn thành vào lúc nào?
Vài hôm sau chúng tôi về Bà Rịa để nghỉ một kỳ hè độc đáo dài hơn bốn tháng và được đánh dấu bằng sự thối lui bất tận của quân-đội Đức quốc xã và quân-phiệt Nhựt trước sức tấn công như vũ bão của Đồng-minh trên khắp mặt trận: nào cuộc đổ bộ vĩ đại ở Normandie rồi ở Provence, cuộc giải phóng thủ đô Roma rồi Paris, … Giữa lúc khói lửa chiến tranh ngày càng lan dần đến Việt-Nam, ông Trụ bắt tay vào việc góp nhặt những từ ngoại ngữ được du nhập vào lời ăn tiếng nói của dân ta hoặc trong câu văn trên sách-báo tiếng Việt. Ông ghi những từ nầy lần lượt vào quyển sổ tay có cột cây bút chì, luôn luôn có trong túi khi ông ra khỏi nhà: đi bộ, xe đạp có gắn loại vỏ cao-su đặc (danh-từ trào-lộng Pháp là pneu increvable), ngồi xe điện … Về nhà, ông chép lại vào bảng liệt kê là những tờ giấy rời khổ giấy manh (main de papier), mỗi tờ được ghi trên đầu một con chữ trong bộ mẫu-tự chữ quốc-ngữ. Rồi ông khai-triển mỗi từ ấy trên một phiếu (fiche) khổ thông-thường theo thứ tự như sau: từ được du nhập, gốc ở từ gì của ngoại ngữ nào, cách đọc, nghĩa của từ ấy, câu thí dụ rút trong lời nói hoặc trong câu văn-thơ của người sử-dụng.
Công-việc nghiên cứu sưu tầm qui vào ba tác phẩm lần lượt được hoàn thành, đăng báo hay kỷ yếu, sau cùng in thành sách khi gặp trường-hợp thuận tiện.
1. Quyển “Chánh-Tả Việt-Ngữ” được nhà xuất bản Nam-Việt (giám đốc là ông Đinh Xuân Hoà) ở số 151, đại lộ La Somme (sau đổi là Hàm Nghi), Sài Gòn, in làm hai cuốn và phát hành vào cuối năm 1951.
2. Quyển “Việt-Ngữ Chánh-Tả Tự-Vị” được nhà xuất bản Thanh-Tân (giám đốc là ông Nguyễn Văn Tư) in và phát hành vào năm 1959. Quyển nầy đoạt giải thưởng văn-chương toàn quốc 1961, rồi được Bộ Văn-hoá trợ cấp năm 1967.
3. Quyển “Việt-Nam Ngữ-Nguyên Tự-Vị” là đứa em út. Tập chữ A, Ă, Â (viết xong đợt đầu) đăng ở tập Kỷ yếu Hội Khuyến học Nam-Việt 1953. Mãi đến 21 năm sau, trọn quyển này mới được ông Trụ tạm xem là hoàn thành sau nhiều lần sửa chữa bổ-sung. Như đoạn trên cho biết, ông Trụ bắt đầu từ mùa Vu-Lan năm Giáp Thân 1944 vào việc nghiên-cứu, sưu tầm, thu thập tài liệu cho công-trình dài hơi nầy. Đặc-biệt là từ lúc ông vào làm phụ tá cho Ô. Đoàn-Quan-Tấn ở Thư-viện số 34 đường Lagrandière năm 1948 (sau đổi thành Gia Long, nay là Lý Tự Trọng) thì ông gặp nhiều thuận lợi lớn: ông có thì-giờ tra-cứu sách-báo của Thư-viện, được tiếp xúc và quen biết nhiều nhà trí thức khoa-bản và học giả có tiếng (học rộng, tài cao, giao-thiệp nhiều, có đi du học, lịch-lãm …) nên ông được mách-bảo thêm nhiều nguồn tài-liệu chuyên sâu về ngữ học vì những vị nầy đầy nhiệt tình lo cho tiền-đồ văn-hoá nước nhà. Rồi ông còn được đồng-nghiệp sẵn sàng giúp ý kiến khi ông vào giảng dạy ở Đại-học Văn khoa và Đại học Sư phạm Sài Gòn từ năm 1956, rồi những thành viên của Hội đồng soạn thảo thuật ngữ do giáo-sư tiến sĩ hoá-học Lê-Văn-Thới, Khoa-trưởng Đại-học Khoa-học Sài Gòn chủ nhiệm từ cuối thập niên 50. Ông còn được bạn đồng-sự trao đổi và góp ý khi ông tham-gia Uỷ-ban Điển-chế Văn-tự từ năm 1970. Nhờ vậy ông mới mạnh dạn đưa vào bộ mẫu-tự quốc-ngữ bốn con chữ F, J, W và Z, đồng thời sử-dụng những vần mới như al, el, ol, ul, id, oz, … từ khi áp dụng chương trình giáo-dục năm 1971. Bản thảo hoàn chỉnh đánh máy xong nộp cho ông Thu-Giang Nguyễn Duy Cần, Tổng Thơ-ký Uỷ-ban Điển-chế Văn-tự trong mùa Giáng Sinh 1974.
Những chuyện nhiêu khê rắc rối không lường trước được.
Đến hạ tuần tháng 01 năm 1975, Giáo-sư Lê-Ngọc-Trụ nhận số bạc là MỘT TRIỆU ĐỒNG, với tờ biên-nhận hẳn hòi, xem như tiền ứng trước cho nhuận-bút của tác giả, từ tay Ô. Thu-Giang và trước sự hiện diện của hai bạn đồng-sự là Ô. Thanh-Ba Bùi Đức Tịnh và Ô. Nguyễn Văn Y (mất vào cuối thập niên 80).
Ông Trụ bắt đầu ngay việc xin giấy phép xuất bản, rồi sửa-soạn khâu in như dọ giá thành, mướn hoạ sĩ vẽ và trình bày bìa cùng làm ma-két (maquette) … Sáp-sửa ký hợp đồng với nhà in thì công-việc phải đình lại vì tình-hình biến-chuyển dồn dập từ hạ-tuần tháng 3 năm 1975.
Tháng sau bản-thảo đánh máy được rút về và để nằm trong ngăn kéo: chừng nào đứa con tinh thần, đã cưu mang từ 31 năm qua, mới được chào đời? Sau đó có một nữ sinh-viên, học trò cũ của Giáo-sư, đến nhà thăm để từ giã thầy trước khi xuất-cảnh sang Tây Âu. Ông Trụ bèn nhờ cô nầy đem một bản-thảo đánh máy ra nước ngoài để tìm cách xuất bản. Vài tháng sau, cô gởi thư về cho biết có sự trục trặc không ngờ tại Hà-Nội: bản-thảo bị giữ lại theo đúng thủ-tục hiện-hành của Hải-quan.
Thế là cụ Trụ, bấy giờ đúng là một ông già gần đến tuổi “cổ-lai hi” với chứng thấp khớp cố hữu lại còn thêm triệu chứng có cái bụng từ-từ phình ra ở phía gan, lại phải gấp rút xem lại, sửa chữa, viết lại một bản-thảo khác không giống bản thảo đã nhờ cô học trò cũ mang đi. Ông thúc-hối hai anh em bà con cô cậu ruột chúng tôi nỗ lực cập-nhựt-hoá bằng những từ mới (từ đầu năm 1975 trở về sau), lại dùng thêm những từ tạm gác lại ở đợt bản-thảo vừa rồi.
Đến cuối năm 1978, anh Lý-Thái-Thuận bấy giờ làm quản-đốc cơ sở Hợp-doanh in số 2 ở 233-235 đường Phạm Ngũ Lão (Phường 17, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) tình-nguyện đánh máy giùm (không nhận bất cứ một chi phí nào về giấy pelure lẫn công đánh máy), và được cụ Trụ giao đặc-ân trông-coi việc ấn-loát khi có cơ hội thuận tiện.
Nào ngờ lại một bất ngờ thứ hai xảy ra cho quyển “Việt-Nam Ngữ-Nguyên Tự-Vị”, mà cũng là tai hại nhứt—Giáo-sư Lê-Ngọc-Trụ đột ngột từ trần, vì bạo bịnh vào lúc 18 giờ ngày thứ bảy 11-8-1979, nhằm ngày 19 tháng sáu nhuần năm Kỷ Mùi, hưởng thọ 71 tuổi.
Thế là ba bảng liệt kê những tiếng Hán-Việt chuyển ra tiếng Việt, những tiếng Việt gốc Hán-Việt và những tiếng Việt tương-đồng với tiếng của mấy dân-tộc khác, vĩnh viễn chấm dứt với ngần ấy số từ trong khi bảng liệt kê những từ mượn ở ngoại ngữ cứ dài thêm mãi.
Đến đầu thập niên 80, cô sinh-viên rất nhiệt tình với nền văn-hoá nước nhà có thư về cho hay rằng đã nhận lại được toàn bộ bản thảo quyển Tự-vị và cô đang tìm người tin cậy lo giùm chuyện xuất bản một tác phẩm “để đời”. Ít lâu sau, cô Ngọc-Tuyết nhận được trong ngạc-nhiên lá thư của một ông giáo nổi tiếng ở Sài Gòn ngày trước. Sau Hiệp-định Genève, ông nầy từ Liên Khu V về thành, rồi vào dạy quốc-văn tại Trường Trung-học Petrus Trương Vĩnh Ký và hiện nay định cư tại Bruxelles. Cô con gái lớn của cố Giáo-sư Trụ lo xa rằng việc xuất-bản quyển Tự-vị theo cái bản-thảo đã bị thân-phụ vào năm cuối đời chỉ còn cho nó giữ vai trò của một chứng-tích nếu có xảy ra một vụ đạo-văn, thậm chí một vụ “văn-tặc” sau nầy. Hơn nữa trong thời kỳ trước tháng 12 năm 1986, việc in và phát hành ở hải ngoại một công-trình nghiên-cứu của một tác giả trong nước chưa có tiền lệ thì sẽ gây hệ luỵ gì cho đám con cháu của người quá cố không? Do đó cô đành khéo léo từ chối sự giúp đỡ của một nhà mô-phạm tốt bụng.
Vài móc thời gian trong quá trình xuất bản quyền Tự-Vị
* Nhận thấy rằng sau Đại hội VI của Đảng cộng-sản Việt-Nam, có bày bán ồ ạt trên thị trường sách-báo rất nhiều loại sách và truyện cũ được các nhà xuất bản địa phương cho in lại với số lượng bản in năm-ba ngàn cho mỗi tựa sách, cô Ngọc-Tuyết mới bàn với hai anh Thuận và Thủ là bộ ba nên cố gắng tìm cách xin phép xuất bản quyển “Việt-Nam Ngữ-Nguyên Tự-Vị” của cha cô. Do đó chúng tôi tự tay đánh máy một số đoạn trích trong bản thảo thứ hai để chờ dịp gõ cửa các nhà xuất-bản.
* Nhân Nhà xuất bản tổng hợp Long-An (giám đốc là ông Trần Văn Kính, quen gọi là ông ba Kính; tổng-biên tập là anh Vương Thừa Bình, chẳng rõ có họ hàng gì với tướng Vương Thừa Vũ nổi danh với chiến dịch chống-giữ thủ đô Hà-Nội lâu cả tháng trời sau đêm 19-12-1946?) nhận xuất bản bộ truyện tranh Tam Quốc Chí, do cô Ngọc-Tuyết viết lời, anh Thuận bèn trao tập trích bản-thảo cho ông ba Kính để xin ý kiến, nhưng rồi không thấy có tiến triển gì vào giữa năm 1988, trong khi bộ truyện tranh ra được gần 20 tập nhỏ.
* Nhờ anh Thuận giới thiệu, nhà sử học Huỳnh Lứa mời cô Ngọc-Tuyết nhận dạy một số giờ tiếng phổ thông (còn gọi là tiếng Quan-Thoại hay “cọt-dị”, phiên-âm từ “quốc-ngữ” theo giọng Bắc-Kinh) cho đám thanh niên Việt-Nam cần đi làm công-nhân ở Đài-Loan, Singapore (tức Tân-Gia-Ba hoặc Chiêu-Nam thuở đầu thế kỷ XX), … vào lúc giữa năm 1989. Cô Ngọc-Tuyết quá bận nên đành từ chối, nhưng cô bảo rằng cô đã có sẵn bản-thảo viết tay quyển “365 câu tiếng phổ thông cho người Việt-Nam tự học“, nếu sách nầy in ra sẽ giúp ích cho giáo-viên và học-viên rất nhiều. Bà Hồ Tuyết-Mai, Trưởng chi nhánh của Nhà xuất bản khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng là phu-nhân của ông Huỳnh Lứa, có mặt trong buổi sơ-kiến nầy, liền sẵn-sàng chịu làm ngay thủ-tục xin giấy phép. Chẳng bao lâu sau cô Ngọc-Tuyết đem nộp bản thảo quyển “365 câu phổ thông” vừa được đánh máy hoàn chỉnh, kèm theo tập trích bản-thảo để trước là xin ý kiến sau là cùng xin giấy phép xuất bản hai tác phẩm. Nhưng đến tháng 6 năm sau, bà Tuyết Mai xin được giấy phép xuất bản quyền giáo-khoa “365 câu” mà vẫn chưa có triển vọng gì về quyển Tự-vị cả!
* Mãi gần hai năm sau, may có quyển “365 câu” làm nhịp cầu liên lạc giữa hai người cùng hoạt động văn-hoá, ông Nguyễn Văn Khuyn vui-vẻ giúp cô Ngọc-Tuyết thực hiện ước vọng của phụ thân vì ông xem đó là cách báo-hiếu vẹn toàn của cô giáo-sư dạy tại Tư-thục Trung-học Pháp-Hoa-Việt Bác Ái thuở thập niên 60. Ô. Khuyn đưa cô Ngọc-Tuyết đến văn phòng Trung-tâm Phát hành Sách FAHASA ở đường Nguyễn Huệ, một cơ sở tương đương với C.D.L.P. (Centre de Diffusion du Livre et de la Presse ở 146 Faubourg Poissonnière – Paris 10è). Đây là nơi làm việc của ông Nguyễn Văn Minh Giám đốc Quốc-doanh In số 4 kiêm Fahasa, hồi 09 giờ ngày thứ tư 26-02-1992. Ô. Minh nhận tập trích bản-thảo để nghiên cứu việc xuất bản và hẹn gặp lại vào ngày cuối tuần để dứt khoát những điều kiện trong hợp đồng. Có thêm chúng tôi dự vào buổi họp thứ nhì nầy: cô Ngọc-Tuyết rút tập trích bản-thảo về vì cuộc thảo luận không đưa đến kết-quả mong-muốn.
* Cô Ngọc-Tuyết liền có ý chuyển qua Nhà xuất bản Thành-phố Hồ Chí Minh xem sao vì thấy Cơ quan nầy đã có cho tái-bản mấy quyển của cụ Thu-Giang Nguyễn Duy Cân, cụ Vương Hồng Sến, cụ Lộc-Đình Nguyễn Hiến Lê (đã thất-lộc).
Ban đầu, anh Thuận nhơn chỗ quen biết, đem trao tập trích bản-thảo cho bà Lan, Phó giám đốc Nhà xuất bản Thành-phố Hồ Chí Minh, vào ngày thứ ba 28-4-1992. Sau đó, bà Lan đề nghị phải có TRỌN bản-thảo mới xét được. Sau cùng anh Thuận đành nhận lại tập trích bản-thảo.
Trong khi đó, thấy bên cánh anh Thuận công việc bế tắc, cô Ngọc-Tuyết lại phiền Ô. Khuyn một lần nữa. Ông nầy đến nhà riêng ô. Tân Đức, Giám đốc Nhà xuất bản Thành-phố Hồ Chí Minh, ở số 106 Sương Nguyệt Anh, để thuyết phục ông nên làm “một việc gì đó” trước khi về hưu. Sau khi lật xem lướt qua chồng giấy đánh máy toàn bộ bản-thảo mới dày cả ngàn trang, còn tập trích bản-thảo thì ông đã được bà Lan trình xem hơn một tháng trước đó, ông Giám đốc đồng ý sau khi Ô. Khuyn đem cả danh dự của mình ra bảo-đảm. Thế là 10 giờ ngày thứ tư 01-7-1992, Ô. Tân-Đức tiếp bộ ba gồm có Ô. Khuyn, cô Ngọc-Tuyết và anh Thủ tại văn phòng của Nhà xuất bản ở số 146 đường Nguyễn Thị Minh Khai (tức Hồng Thập Tự cũ). Ông đồng ý cấp giấy phép cho quyển sách với yêu cầu duy-nhứt là sách mang danh-xưng “Tầm-Nguyên Tự-Điển Việt-Nam” dễ đi sâu vào quần chúng hơn, thay cho tên gọi mà cụ Trụ đã dùng. Rồi 15 giờ ngày thứ hai 20-7-1992, bà Phó giám đốc Lan điện thoại cho cô Ngọc-Tuyết hay rằng đã có giấy phép. Sau đó, hồi 14 giờ ngày thứ bảy 25-7-1992, cô Ngọc-Tuyết cùng chúng tôi đến gặp cô Đỗ Loan, nhân-viên của nhà xuất bản được Ô. Tân-Đức giao phận-sự biên tập quyển tự-điển nầy, để bàn về lề lối chánh-tả của ông Lê-Ngọc-Trụ (chẳng hạn như sử-dụng gạch-nối, cách đặt dấu ở nguyên-âm nào trong những hợp âm như oa, oe, uy …); sau cùng cô Loan thông cảm và đồng ý.
Những khó khăn khác trong việc hoàn thành quyển Tự-điển
In khoảng 7000 chữ Hoa trong quyển Tự-điển không phải là chuyện đơn giản. Toàn bộ con chữ Hoa đều tập trung vào nơi duy-nhứt của Thành phố, đó là cơ sở in báo Sài Gòn giải phóng bản chữ Hoa trong Chợ Lớn. Nơi đây in những bản nhũ, mỗi tờ in vài trăm chữ Hoa xếp rời rạc. Nhờ bẩm-sinh chịu khó và khéo tay (cô viết chữ Hoa ở bìa Tự-điển), cô Ngọc-Tuyết cắt-dán từng chữ Hoa vào chỗ chừa trống trên tờ rờ-bo (report): công-tác đòi hỏi nhiều thì-giờ và khiến cô bị-động kể từ lúc chúng tôi xuất-cảnh theo diện ODP.
Ngoài ra việc trình bày trang tự-điển cho đúng cách cũng là một vấn-đề. Ở đây, người sử-dụng “máy xếp chữ laser” thuộc lứa tuổi ba mươi, tuy tay nghề khá nhưng không rành ngoại ngữ cho lắm nên không thạo việc ngắt đôi chữ ở một từ ngoại-ngữ hầu hết là đa âm-tiết. Do đó, chú em nầy cố tránh tối-đa việc ngắt đôi, thành thử mới có những khoảng ét-bát (espace) rộng quá cỡ làm chướng mắt độc giả. Em còn không nghiêm túc giữ tính nhất quán trong việc dùng kiểu và cỡ chữ (loại đứng, nghiêng, đậm nét, chữ hoa, …) đúng theo qui-ước đã thoả thuận. Thí dụ: ở đoạn giải-nghĩa từ đang dùng chữ đứng vụt đổi qua chữ nghiêng, và ngược lại ở câu thí dụ phải dùng chữ nghiêng bỗng chuyển qua chữ đứng. Có nơi từ đồng-nghĩa ghi bằng chữ nghiêng lại xếp chữ đứng. Tệ hại hơn nữa là từ ghi ở trên đầu trang lại không có mục-từ đó trong trang (vì bỏ sót hoặc vì không đúng trang). Còn có việc trùng-lập mục-từ, việc đưa đoạn giải-nghĩa của mục-từ nầy qua mục-từ kế-cận.
Hơn nữa, nạn cúp điện “đột xuất” gây trở ngại không nhỏ cho khâu phơi bản, in, cắt xén, … Vì muốn đạt năng suất cao, tiết kiệm tối-đa để hưởng được số giấy dôi ra ở phần đã tính phần trăm trừ hao, thiếu tinh-thần trách nhiệm của người thừa-hành trong công-tác hoặc vì lý-do nào đó khiến cho độc giả phải than phiền, khiếu nại, thậm chí nặng lời đối với người bán, người phát hành rồi còn ăn lan đến nhà xuất bản cùng những người có liên hệ đến việc hình thành quyển sách. Chính vì người mua Tự-điển gặp phải trường-hợp như quyển sách có trang bị rách mất một phần, có quyển tuy đủ số ca-dê (cahier=tay sách) nhưng lại thừa ca-dê nầy mà thiếu ca-dê nọ, thiếu bảng đính-chánh những lỗi (errata), có “khuyết tật” là các dấu giọng có chỗ quá mờ đến độ không thể đọc nổi dù có dùng kính lúp (do thợ phơi bản kẽm thiếu kinh-nghiệm hay sơ suất hoặc do thợ chạy máy in thiếu thận-trọng …). Chúng tôi liên tưởng đến việc nhà xuất bản Larousse đã đăng báo thâu-hồi những quyển Le Petit Larousse illustré lỡ có một trang phụ-bản màu đánh dấu sai ở đâu câu chú thích bên dưới hình chụp minh-hoạ. Quyển Tự-điển còn có nhiều loại sơ sót nữa chưa phát hiện hoặc không thể kể hết trong một bài viết.
Việc sau cùng cũng xin bạch-hoá. Giáo-sư Lê-Ngọc-Trụ đã mất nên cô Ngọc-Tuyết và tác giả bài nầy không đủ khả năng giải-quyết cái trường-hợp là có một số mục-từ có trong bảng liệt kê nhưng hai anh em chúng tôi không tìm thấy phiếu khai-triển, hoặc là phiếu bị mối ăn mất phần đầu ghi ngữ-nguyên của từ. Thế là đành bỏ đi số mục-từ “thiếu may mắn” ấy. Rõ là “tiểu thuyền bất kham trọng tải“, câu mà Chú Vương Hồng Sển thường nói với chúng tôi khi vào thăm Chú ở ngôi nhà cổ-kính mang số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, cách chợ Bà-Chiểu không xa. Sức tới đâu làm tới đó. Trong lúc cặm cụi làm việc, cô Ngọc-Tuyết thỉnh thoảng thốt ra câu cầu-nguyện “xin Ba linh-thiêng phò-hộ cho con hoàn thành viên-mãn việc ấn-loát công-trình mấy mươi năm lao tâm khổ trí của Ba”. Rồi đây những vị cao-minh sẽ bổ sung bằng những tác phẩm mới đầy đủ hơn, chính-xác hơn.
Để kết luận, cho đến nay chúng tôi may mắn chưa đọc trên sách-báo một bài phê-bình quyển “Tầm-Nguyên Tự-Điển Việt-Nam” một cách sát ván theo kiểu cụ Ứng-Hoè Nguyễn Văn Tố trên tạp chí hằng tuần Tri-Tân đã viết về mấy quyển sách của ông Nguyễn Đức Quỳnh (như Gốc-tích loài người, Thượng-cổ-sử Ai Cập, …), quyển “Việt-Nam Văn-học Sử-yếu “của cụ Dương-Quảng-Hàm. Như vậy nhứt định là độc giả đã có nghĩ đến những khó khăn vừa nêu trên mà thông-cảm và niệm tình lượng-thứ cho.
Chủ nhựt 30 tháng 4 năm 1995
Trong bài viết chúng tôi có sử dụng một số từ ngoại ngữ đã du-nhập vào tiếng Việt và có đưa vào quyển “Tầm-Nguyên Tự-Điển Việt-Nam” của cố G.S. Lê-Ngọc-Trụ.