1965, niên khóa cuối cùng của đồng phục trắng

Kinh Bồng (Trần Công Bình)

Khi ve sầu im tiếng trên những cành cây dầu cao chót vót ở hai bên đường Cộng Hòa (*) là thời gian chúng tôi chuẩn bị nhập học. Năm 1965 tôi vào lớp đệ Thất của trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký.

Năm ấy gia đình chuẩn bị cho tôi hai bộ đồng phục gồm áo trắng tay ngắn, quần xanh dương dài, một đôi giày bố trắng. Đặc biệt có một bộ đồng phục gồm một áo sơ mi ngắn tay trắng và một quần tây trắng dùng duy nhất cho ngày tựu trường.

Một khung cảnh trang nghiêm, đầy ấn tượng trong suốt quảng đời học sinh của tôi. Chiều hôm ấy tôi đến trường học bằng chiếc xe đạp ba mới mua cho, lững thững  dắt xe vào cổng phụ của nhà trường. Tôi ngước cổ ngó nhìn hai hàng cây dầu dọc theo con đường tráng đá xanh dẫn từ cổng sau đến cuối hàng rào trường. Mới ba tháng trước đây, cũng con đường này, tôi được ba tôi đưa đi thi vào lớp đệ Thất, nghe tiếng ve kêu in ỏi, vang cả bầu không khí ngột ngạt của trường thi, nhưng không thảnh thơi để nhìn ngắm.Hôm nay, với một tâm trạng  phơi phới, với sự chửng chạc của một học sinh trung học dù mới ngày đầu tiên, tôi nhẹ bước quan sát cảnh vật quanh trường. Chục dãy nhà để xe đạp, có mái che bên trên, có dàn cọng sắt uốn hình nửa vòng tròn để đưa bánh trước xe vào giữ cho xe đứng thẳng. Xe lớp nào để theo lớp đó, có một tấm bảng nhỏ đề tên lớp rõ ràng. Trên mỗi bảng ấy để tên hai lớp: lớp buổi sáng của đệ Nhị cấp và lớp buổi chiều của đệ Nhất cấp. Cuối con đường bên hông trường có một lối đi nhỏ ngang qua dãy nhà vệ sinh, ở giữa dãy nhà ngang có một phòng học duy nhất: đó là lớp đệ Thất 4.Tôi học ở lớp này.

Lác đác đã có học sinh vào lớp. Học trò tự chọn cho mình một chỗ ngồi. Sau kỳ nghỉ hè ba tháng, bàn ghế bị bụi bám đầy, mọi trò  xé giấy tập trắng lau chỗ mình ngồi. Tiếng giấy sột soạn cạ trên mặt bàn vang rền trong lớp. Vừa vệ sinh, học trò vừa lo lắng nhìn chiếc quần trắng tinh của mình, sợ các thanh sắt của bàn có thể quẹt dơ làm xấu chiếc quần. Rồi còn đôi giày ba ta mới đánh phấn trắng .Hai sợi dây giày trắng mới  cột  cứ bị lõng vòng tụt ra ngoài làm sợi dây bị chấm xuống đất. 

Một giáo sư (**) xuất hiện trước cửa lớp, ăn vận chỉnh tề, cổ  thắt cà vạt, tay xách cặp táp nói vừa đủ nghe:

– Mấy em để cặp lại trên bàn, ra xếp hàng .

Học trò vội vã gom giấy bẩn ra cửa đến góc cuối lớp bỏ  vào một giỏ bằng mây, phía trên tường có một tấm bảng nhỏ đề chữ: giỏ đựng rác. Xong xuôi mọi trò chạy nhanh vào nhà vệ sinh rửa tay và nhanh chóng ra xếp hàng bên hông lớp. Tôi cao nghệu cùng một số bạn cũng cùng cở tự động đứng phía sau chót của hai hàng dọc.

Âm thanh bên ngoài chợt  im lặng, không một tiếng lao xao như lúc mới gặp nhau trong lớp học. Thầy nhìn hai hàng dọc, nhỏ đứng trước, lớn đứng sau, không cần phải điều chỉnh nhiều sự chệch choạt chỉ có chút ít trong hàng ngũ. Thầy hô khẩu hiệu:

– Học sinh, hai hàng dọc, nhìn trước thẳng. Nghiêm, bên phải, quay.

Cả lớp im phăng phắc, thực hiện theo khẩu lệnh.Bấy giờ mọi trò đều hướng về cột cờ đã có lá cờ kéo sẵn. Nghe nói buổi chào cờ tựu trường đã diễn ra vào lớp buổi sáng. Tuy nhiên, buổi chiều toàn thể các lớp học đều xếp hàng đôi trước lớp, hướng về bậc thềm nơi “hành lang danh dự” của nhà trường. Gọi là “hành lang danh dự” vì hành lang này học sinh không được quyền đi vào, chỉ có giáo sư, tùy phái công văn , nhân viên văn phòng mới lui tới. Hành lang nằm ở ngay cửa chính ra vào. Từ cổng chính vào, bên phải là phòng Hiệu Trưởng và Tổng Giám Thị, bên trái là phòng Hiệu Đoàn. Hành lang dùng bày ghế để quan khách ngồi trong các buổi lễ lớn. Hôm nay, hành lang được bày khoảng 10-15 chiếc ghế, mặt hướng về phía cột cờ  để các giáo sư và quan khách ngồi. Phía trước có một micro có 3 chân để sẵn.

Tôi nhìn các dãy lớp bên trái, bên phải, trên lầu và dưới đất: tất cả học trò đồng phục trắng toát. Một màu trắng thuần khiết, trong trắng mang vẻ trẻ trung nhưng oai nghiêm. Không một tiếng động, không một âm thanh giữa buổi trưa với cái nắng gắt cuối hè còn sót lại. Hai con chim se sẻ, như không biết hàng mấy trăm con mắt đang đổ dồn về bậc thềm hành lang danh dự, vô tình bay đuổi nhau và đậu sè trên vai bức tượng đồng bán thân của nhà bác học Petrus Trương vĩnh Ký. Bức tượng là biểu tượng hàng trăm năm của nhà  trường được đặt ở một bục xi măng xám giữa sân trường trước cột cờ. Thình lình, một trái dầu, qua cơn gió thoảng cũng vô tình quay tít từ trên cao, đáp nhẹ mình trên bãi cỏ xanh.

-Mấy em xếp hàng ngay ngắn, chuẩn bị nghe huấn thị của thầy Hiệu Trưởng.

Tôi như sực tỉnh khi nghe ba hồi  chuông điện reng lớn vang dội cả trường. Ba người thầy đi ra từ phía phòng Hiệu Trưởng, hai người đi hai bên ngồi xuống hai chiếc ghế đang để trống, chừa  chiếc ghế còn lại ở giữa. Thầy đi giữa tóc hoa râm, mặc veston màu cà phê sữa, thắt cà vạt sẫm, đến đứng trước micro.

– Thưa quý thầy cô

– Các em học trò thân mến

Đó chính là thầy Trần ngọc Thái hiệu trưởng niên khóa 1965, đang huấn thị đầu năm học cho học sinh đệ Nhị cấp.

Bất ngờ, năm ấy lại là năm cuối cùng trường cho học sinh mặc đồng phục trắng trong ngày tựu trường. Chiếc quần trắng ấy, sau khi mặc trong buổi lễ, tôi cất kỷ tận dưới cùng của xấp quần áo, không có dịp dùng đến, cuối cùng phải cắt ngắn làm quần sọt để tận dụng.